1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài thi giữa kỳ vùng văn hóa nam bộ

35 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vùng Văn Hóa Nam Bộ
Tác giả Nhóm 6
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thu Hiền
Trường học Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Thể loại Bài thi
Năm xuất bản 2024
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 196,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây không chỉ là một vùng kinh tế quan trọng mà còn là cáinôi của một nền văn hóa độc đáo, đậm chất phóng khoáng với sự giao thoa văn hóavới các dân tộc bản địa như Khmer, Hoa, Chăm và s

Trang 1

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG

KHOA LỊCH SỬ

-BÀI THI GIỮA KỲ:

VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ

HỌC PHẦN

CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

MÃ HỌC PHẦN: 23 – 0102

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 6

Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Thị Thu Hiền

ĐÀ NẴNG – 2024

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1 2

1.1 Điều kiện tự nhiên 2

1.1.1 Vị trí địa lí 2

1.1.2 Địa hình 2

1.1.3 Khí hậu 2

1.1.4 Hệ thống sông ngòi 3

1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội và dân cư 4

2.1 Văn hóa vật thể 5

2.1.1 Văn hóa cư trú 5

2.1.2 Văn hóa ẩm thực 6

2.1.3 Văn hóa trang phục 8

2.1.4 Văn hóa vận chuyển 10

2.2 Văn hóa phi vật thể 11

2.2.1 Tôn giáo, tín ngưỡng 11

2.2.1.1 Tôn giáo 11

2.2.1.2 Tín ngưỡng 12

2.2.2 Phong tục tập quán 15

2.2.2.1 Sinh đẻ 15

2.2.2.2 Cưới hỏi 15

2.2.2.3 Ma chay 18

2.2.3 Lễ hội 19

2.2.4 Loại hình nghệ thuật 21

CHƯƠNG 3 23

3.1 Lịch sử ra đời 23

3.2 Đặc điểm của áo bà ba 23

3.2.1 Chất liệu vải 23

Trang 3

3.2.2 Màu sắc 24

3.2.3 Thiết kế 24

3.2.4 Công dụng 26

3.3 Giá trị văn hóa 27

3.3.2 Giá trị thẩm mỹ 27

3.3.3 Giá trị giáo dục 27

3.4 Ý nghĩa 28

3.5 Biến đổi 29

KẾT LUẬN 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 4

MỞ ĐẦU

Nam Bộ - một vùng đất trù phú nằm ở phía Nam Việt Nam, được thiên nhiên ưu

ái với những vùng đất màu mỡ, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, hòa quyện sâu sắc vớinhịp chảy của sông nước Đây không chỉ là một vùng kinh tế quan trọng mà còn là cáinôi của một nền văn hóa độc đáo, đậm chất phóng khoáng với sự giao thoa văn hóavới các dân tộc bản địa như Khmer, Hoa, Chăm và sự ảnh hưởng từ các yếu tố bênngoài như Pháp, Ấn Độ và phương Tây Điều này đã tạo nên một bản sắc văn hóa đadạng, vừa mang đậm dấu ấn dân tộc, vừa phản ánh sự hòa quyện và thích nghi linhhoạt với những yếu tố mới mẻ Điều này được thể hiện qua nhiều khía cạnh, đặc trưngriêng từ lối sống chân chất, mộc mạc của người dân, đến phong tục tập quán hay sựphong phú trong nghệ thuật dân gian, các loại hình âm nhạc như đờn ca tài tử, đếnnhững lễ hội truyền thống mang sắc thái riêng biệt hay bức tranh ẩm thực Nam Bộ đamàu sắc với những món ăn dân dã nhưng đậm đà, mang hơi thở của đồng quê,… Tất

cả những yếu tố trên đã kết tinh nên một vùng văn hóa Nam Bộ mang những nét đặctrưng riêng biệt, nó không đơn giản chỉ là một vùng đất địa lý mà còn là một miền ký

ức, một không gian văn hóa sống động, nơi lưu giữ và lan tỏa những giá trị văn hóatrường tồn cùng thời gian

Trang 5

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ 1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí.

Nam Bộ là vùng đất cuối cùng đất nước về phía nam Phía tây giáp Vịnh TháiLan, phía đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Campuchia

và phía đông giáp Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên

Nam Bộ chia thành 2 tiểu vùng gồm Đông Nam Bộ (bao gồm các tỉnh ĐồngNai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tây Nam Bộ (baogồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, CầnThơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Hồ ChíMinh)

Nam Bộ nằm gần biển Đông, nói cách khác, đây là vùng đất cửa sông giáp biển

Vị thế địa - văn hoá này của Nam Bộ tạo cho nó có những đặc điểm văn hoá riêng

1.1.2 Địa hình

Vùng Nam Bộ Tổng diện tích lãnh thổ khoảng 66000km^2, khá bằng phẳng,phần lớn địa hình là đồng bằng phù sa thuộc hệ thống sông Đồng Nai và sông CửuLong Đông Nam Bộ có diện tích khoảng 26000km2 bao gồm phần đất đồi núi thấp vàphần thềm phù sa cổ thuộc lưu vực sông Đồng Nai Tây Nam Bộ có diện tích khoảnghơn 4000km2, chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long cùng một vài dãy núi thấp ở miềnTây An Giang, Kiên Giang Nam Bộ tiếp giáp với biển Đông, nên còn được gọi làvùng đất cửa sông giáp biển

1.1.3 Khí hậu

Nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, nềnnhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ cao Biên độnhiệt giữa ngày và đêm giữa các tháng trong năm thấp và ôn hòa Đặc biệt hình thành

Trang 6

2 mùa chủ yếu quanh năm: mùa khô (tháng 5 – tháng 11) và mùa mưa (tháng 12 tháng 4) Sáu tháng mùa mưa và sáu tháng mùa khô tạo vòng quay của thiên nhiên,mùa vụ có vẻ khác biệt hơn so với những vùng khác.

-1.1.4 Hệ thống sông ngòi

Nam Bộ được thiên nhiên ưu ái có hệ thống kênh rạch chằng chịt, mạng lướisông ngòi dày đặc và có hai hệ thống sông lớn nhất là sông Mê Công và sông ĐồngNai Và đặc biệt sông Mê Công là hệ thống sông lớn nhất vùng Đông Nam Á, dài4300km, chảy qua 6 quốc gia

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển

Tiến trình lịch sử của vùng đất Nam Bộ không phát triển liên tục như nhữngvùng đất khác mà trải qua sự đứt gãy Trước kí đây là lãnh thổ của nước Phù Nam vàChân Lạp nhưng dân cư rất thưa thớt Sau sự biến mất của nền văn hóa Óc Eo vào cuốithế kỷ VI, Nam Bộ rơi vào tình trạng hoang vu hiểm trở, đến thế kỷ XIII mới có một

bộ phận người Khmer tới sinh sống rải rác

Người Việt đến khai phá vùng đất này vào khoảng thế kỷ XVI, tiếp theo đó làngười Chăm, người Hoa,… Năm 1623, chúa Nguyễn chính thức yêu cầu triều đìnhChân Lạp để cho dân Việt mở rộng địa bàn khai phá trên những vùng đất thưa dân vàquản lí Năm 1698, Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vào thành lập phủ Gia Định.Năm 1834, vua Minh Mạng gọi Nam Kỳ Tháng 12/1845, ba nước An Nam, Xiêm vàCao Miên kí một Hiệp ước, trong đó thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam Năm

1859, Pháp đánh chiếm toàn thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược đất Việt Nam.Ngày 13/4/1862, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định vàĐịnh Tường) nhượng cho Pháp Năm 1867, Pháp đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnhNam Kỳ là lãnh địa của Pháp Hiệp ước Quý Mùi (25/8/1883), nhập thêm tỉnh BìnhThuận vào Nam Kỳ, Hiệp ước Giáp Thân (6/6/1884) lại trả Bình Thuận về cho Trung

Kỳ Tháng 3/1945, Thống đốc Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ thành Nam Bộ Năm

1945, Trần Trọng Kim tuyên bố sáp nhập Nam Kỳ thành một bộ phận của nước Việt

Trang 7

Nam Ngày 22/5/1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc trả Nam Bộcho Việt Nam Nam Bộ trở thành lãnh thổ của Việt Nam.

Tiến trình lịch sử Nam Bộ có đặc điểm riêng: là nơi đầu tiên chịu ảnh hưởngthống trị của người Pháp, nên đã có sự giao thoa giữa hai nền văn hóa Pháp – Việt

1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội và dân cư.

Đồng bằng Nam Bộ về mặt dân cư có các tộc người Việt và các dân tộc thiểu số

là dân cư bản địa, Mạ, Xtieng, Chơ ro, Mnong,… và các tộc di dân như Khmer, Chăm,Hoa, Tày, Mường,… Các tộc người ở đây đều là lưu dân khai phá đất mới Dân chủyếu là dân di cư vì thế làng Việt ở Nam Bộ sẽ không có tính chất chặt chẽ, quan hệdòng họ sẽ khác với làng ở Bắc Bộ

Tộc người chủ thể có vai trò quyết định sự phát triển của vùng đất là ngườiViệt Họ là những lớp dân cư từ miền Bắc, miền Trung và có thành phần xã hội khácnhau: tù nhân, dân nghèo, quan lại, binh lính,… Họ không chỉ mang theo vật dụng, vợcon,…mà còn có vốn văn hóa tiềm ẩn trong tiềm thức Do vậy, Nam Bộ là một vùng

đa tộc người, Chủ thể văn hóa chính vẫn là người Việt, riêng ở tiểu vùng Tây Nam Bộ,chủ thể văn hóa chính bên cạnh người Việt còn có người Khmer và Người Hoa

Cư dân vùng Nam Bộ mang đặc trưng của vùng sông nước, họ sống dọc theohai bờ kênh rạch, trục lộ giao thông Cư dân Nam Bộ có điều kiện để phát triển nôngnghiệp nhờ phù sa màu mỡ của Đồng bằng Sông Cửu Long, là vựa lúa lớn thứ hai của

cả nước; địa hình giáp biển thuận lợi phát triển kinh tế biển: đánh bắt nuôi trồng thủysản, phát triển du lịch biển, tiềm năng dầu khí

Trang 8

CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ

2.1 Văn hóa vật thể

2.1.1 Văn hóa cư trú

Vùng đất Nam Bộ là vùng đất trũng có hơn phân nửa diện tích ven biển là vùngđất nước lợ , điều kiện môi trường rất thích hợp cho các loại cây sú , vẹt , tràm , dừa sinh sống Người dân đã tận dụng các vật tự nhiên này làm vật liệu xây dựng cho ngôinhà của mình

Nam Bộ có ít bão tố, nhiều kênh rạch, con người phải dồn sự chăm chút choghe xuồng và vườn tược nên nhà cũng khá tạm bợ Một ít cây làm cột, làm kèo, một ít

lá dừa nước vừa lợp mái, vừa thưng vách là có ngôi nhà ấm cúng

Nhà ở của người Việt Nam Bộ có ba loại chính: nhà đất cất dọc theo ven lộ, nhàsàn cất dọc theo kinh rạch, và nhà nổi trên sông nước Nhà nổi trên sông nước là nơi

cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vậnchuyển đường sông, buôn bán ở các chợ nổi, bán sỉ và bán lẻ trên sông

Phong cách kiến trúc của nhà ở Nam Bộ thường mang tính địa phương và phảnánh nét văn hóa của người dân tại địa phương Nhà cửa thường gắn liền với thửaruộng, miếng vườn Những nhà trung nông thường có vườn, có sân với diện tíchkhoảng vài ba công đất Vườn chủ yếu để trồng cây ăn trái, còn sân thì để trống chothoáng, đôi khi tận dụng để phơi lúa, phơi củi. Ở Đồng bằng sông Cửu Long bà con tathường chọn những vật liệu có sẵn trong vườn, hoặc ở địa phương mình dùng để cấtnhà, đó là các loại gỗ, cây, lá như tràm, đước, lá dừa nước

Người Khmer trước đây đều ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều đã chuyểnthành nhà đất, nhà sàn chỉ còn phổ biến ở những khu vực gần biên giới Nhà ở của họngày nay về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần giống với nhà của người Việt vàngười Hoa Nếu sống trên đất cao thì người Khmer thường làm nhà đất, còn ở nơi đất

Trang 9

thấp họ phải cất nhà sàn, nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng ládừa nước, ở các vùng gần biên giới thì dùng lá dừa chằm để lợp.

Những người dân Nam Bộ đều có cùng mục đích là tìm đất sinh nhai nên nhữnglưu dân sống nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau nên thường sống tập trung thànhmột cụm dân cư mà cụm dân cư này không hề có sự phân chia ranh giới một cách rõràng giữa làng này với làng kia Ranh giới giữa nhà này với nhà khác có khi chỉ là mộtcon đường mòn nhỏ, hoặc là một con mương rộng độ vài mét Nếu nhà nào có dựnghàng rào thì bất quá cũng chỉ là mang tính quy ước, tượng trưng cho ranh giới hơn làmột sự xác định rạch ròi

2.1.2 Văn hóa ẩm thực

Văn hóa ẩm thực là một phần quan trọng trong bản sắc văn hóa của mỗi dântộc, mỗi vùng miền Nó không chỉ đơn thuần là những món ăn mà còn là cách mà conngười kết nối, giao lưu, thể hiện nét văn hóa, phong tục tập quán, quan niệm về nhânsinh tính ngưỡng của người dân địa phương nơi đây Chính vì vậy, nhắc đến văn hóa

ẩm thực vùng Nam Bộ chính là đề cập đến những nét đặc trưng của vùng, ẩm thựcđược hình thành dựa trên điều kiện tự nhiên, xã hội, dân cư, hoàn cảnh sống, phong tụctâp quán,… đã tạo nên sự đa dạng và phong phú cho ẩm thực nơi đây bao gồm nguồnlương thực - thực phẩm chính là lúa, cá và rau quả kể cả các loại rau đồng, rau rừng

Vùng đất Nam Bộ được mệnh danh là xứ sở của các dòng sông, được thiênnhiên ưu ái với địa hình thuận lợi, kênh rạch chằng chịt, chính yếu tố sông nước đãbiến nơi đây trở thành vùng đất màu mỡ, đa sinh thái, giàu thủy hải sản, góp phần tạonét đặc sắc riêng, tính phong phú và sáng tạo cho kho tàng ẩm thực Vì thế trong mỗibữa ăn của gia đình vùng Nam Bộ luôn sử dụng các nguyên liệu từ nguồn đạm thủysản như các loại cá, tôm bắt ở ao, đìa, người ta còn ăn cả các loài mang tính hoang dã,như: con còng, con cua, ba khía, chuột, cóc, nhái, ếch, rùa, rắn, lươn, le le, dơi… vàthậm chí người ta còn ăn cả một số loài côn trùng như: cào cào, dế… Sự đa dạng trongnguyên liệu cũng tạo nên sự phong phú cho các món ăn từ thủy sản chẳng hạn như gỏi

cá trích, canh chua cá chốt, cá tai tượng chiên xù, lẩu mắm Cần Thơ, đuông dừa,… hay

Trang 10

vô số các món ngon được chế biến một cách có bài bản từ những đặc sản của địaphương Không chỉ đa dạng trong nguyên liệu mà người dân Nam Bộ còn đa dạng,sáng tạo trong phương thức chế biến, chỉ với một nguyên liệu nhưng họ lại suy nghĩ ra

vô vàn món ăn khác nhau, luôn có sự phá cách, tìm cách đổi mới món ăn, từ nguyênliệu đến cách chế biến, cách dùng phụ gia và ít khi đúc kết một món ăn nào đó thànhcông thức định sẵn Với món kho thì họ lại có vô vàng các món kho như kho tiêu, kho

tộ, kho quẹt, kho khô, kho mẳn, kho riệu… hay đối với nguyên liệu cá lóc thì có khôlóc chưng tương gừng, khô lóc nấu choại bần, mắm lóc sống trộn gỏi, mắm lóc kholỏng, mắm lóc chưng nguyên con, bánh canh ghẹ,… điều này cũng bắt nguồn từ tínhcách năng động, thích phiêu lưu, thích cái mới, người dân Nam Bộ thường không chấpnhận sự ràng buộc theo một trật tự, khuôn khổ nào đó, gia nhập cái mới vào hành trangvăn hóa của mình như một phương thức để tồn tại, phát triển trong điều kiện mới

Bên cạnh đó, trong các bữa ăn của người dân vùng Nam Bộ còn có các móngiải nhiệt như các loại rau rừng Các loại rau có có sẵn ở ao hồ, vườn ruộng, rất dễ tìm,không cần thiết phải chế biến, chỉ cần hái vào rửa sạch là ăn được Người ta có thể ăn

đủ các loại rau, từ rau đắng, rau dềnh, rau răm, rau thơm, bồ ngót, mồng tơi, rau tậptàng, cải xanh, cải trời, tía tô, hành, hẹ, ngò gai, ngò rí… đến các loại cây, đọt cây, cácloại bông, như: bông điên điển, cù nèo, đọt vừng, lá xoài, lá cách… Trong danh mụcnày, có thứ dùng để ăn sống, có thứ dùng để nấu canh, có thứ luộc lên chấm với cákho, thịt kho, hay nước chấm Điều này được xuất phát từ tính hoang dã của người dânvùng này bởi họ “ăn theo thuở, ở theo thời”, thường xuyên di chuyển, ở phương diện

ăn uống, họ không thể nào ăn các món ăn truyền thống nơi quê nhà, bởi nguyên vậtliệu, các nguồn lương thực họ chưa hề quen biết, nên lúc đầu gặp gì ăn nấy và ngườiđịa phương tận dụng nguyên liệu theo từng mùa Mỗi mùa nước nổi cũng là mùa cálinh, mùa đông bông điên điển, thiên lí, bông súng, sầu đông… Còn đến mùa gặt,người dân lại có cơ hội thưởng thức nhiều món ngon từ cá lóc, cua đồng, rau đắng…

Ngoài các loại rau rừng ra thì dừa và các món ăn được chế biến từ dừa được ưachuộng bởi vùng đất Nam Bộ được mệnh danh là “vựa trái cây nổi tiếng với nhữngloại trái ngon ngọt, mát lành” Chính vì vậy các loại nước giải khát như nước dừa, các

Trang 11

loại nước hoa quả khá được ưa thích và trà cũng được coi là loại nước giải khát chứkhông được dùng để thưởng thức, nhâm nhi như vùng Bắc Bộ như trà đường, Haytrong các buổi nhậu thì rượu cũng là thức uống được họ sử dụng với các loại rượumang đặc trưng của vùng như Rượu dừa Bến Tre, Rượu đế Gò Đen, Rượu Bàu Đá –Bình Đinh, Rượu sen - Đồng Tháp, …

Khẩu vị của người dân Nam Bộ Khẩu rất đặc biệt, phải rõ ràng, mùi vị nào thì

ra mùi vị đó Mặn thì phải siêu mặn, nước mắm phải nguyên chất và nhiều; cay thìphải cay xé lưỡi, Và đặc biệt người dân Nam Bộ rất thích ăn ngọt và thích vị ngọt

Vì thế, họ thường xuyên sử dụng đường để nêm nếm món ăn trong chế biến Nơi đâycũng là quê hương xuất hiện nhiều loại chè ngon nổi tiếng như chè bà ba, chè đậu, chèbắp, chè bưởi… và các loại bánh truyền thống như bánh bò, bánh da lợn, bánh khoai

mì nướng, bánh bánh tét ngọt, bánh đúc lá dứa, bánh tét chuối, bánh tằm ngọt,… được

ăn kèm với nước cốt dừa hoặc nước đường

Trong các món ăn người dân Nam Bộ thường thiên về hình thức, không chỉ ănngon mà còn phải đẹp mắt, chỉnh chu và không gian ăn uống tùy thuộc vào điều kiệnkhông gian căn nhà rộng hay hẹp mà bố trí hợp lý: hoặc trên bàn, hoặc ngay trên sànnhà, hoặc ở các căn chòi,… Bên cạnh các món ăn Việt Nam truyền thống món ăn củaTrung Hoa, Campuchia, Thái Lan cũng đã trở nên quen thuộc với người Nam Bộ vàtrở thành đặc sản của từng vùng nơi đây mỗi khi nhắc đến như bánh bao, hủ tiếu SaĐéc, xá xíu, sủi cảo,… trở thành những món ăn phổ biến được sử dụng rộng rãi

2.1.3 Văn hóa trang phục

Hiện nay, cách mặc của cư dân vùng Nam Bộ khá thống nhất với các vùng miềntrong cả nước Nhưng do đặc điểm địa hình, thời tiết, khí hậu, mà người dân nơi đâyvẫn có những bộ trang phục đặc trưng

Cư dân đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và vùng Nam Bộ nói chung baođời nay sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, mà cuộc sống nông nghiệp thì buộc conngười suốt ngày phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, quanh năm chân lấm taybùn, lại gặp điều kiện thời tiết hai mùa mưa nắng rõ rệt nên không mấy thích hợp cho

Trang 12

việc ăn mặc sang trọng Do đó, họ thường chọn những bộ quần áo có đặc điểm mềmmại, thoải mái để dễ dàng sinh hoạt và lao động hằng ngày Và màu sắc trong trangphục của người dân nơi đây thưởng có gam chủ đạo là đen, nâu sậm, còn màu trắng ítkhi được chọn, trừ khi đi đám tiệc, lễ hội

Chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn là trang phục phổ biến và cũng tạo thành nétđặc trưng văn hóa mỗi khi nhắc đến vùng Nam Bộ của người dân nơi đây Áo bà bagọn nhẹ rất tiện dụng khi chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câugiăng lưới, và có túi để có thể đựng một vài vật dụng cần thiết Đó là biểu tượng của

vẻ đẹp dịu dàng, chân chất và mộc mạc của người con gái miền Tây Nam Bộ Áo bà

ba thường được may từ các chất liệu phổ biến như vải lụa, gấm hoặc vải nâu Và kèmtheo đó là chiếc khăn rằn ban đầu có hai màu đen và trắng hoặc nâu và trắng, sau nàyđược phát triển đa dạng màu sắc hơn Từng cặp hai màu này đan chéo nhau, tạo thành

ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn Họ thường quàng trên đầu để che nắng, chesương, quấn ngang trán để thấm mồ hôi khi lao động,…

Riêng trong các ngày lễ thì trang phục của người dân Nam Bộ tề chỉnh, ngayngắn, lịch sự hơn Bộ trang phục được xem là lễ phục phổ biến ngày xưa là bộ khănđóng áo dài may bằng loại vải đắt tiền (thường thì áo dài bằng xuyến hay lương đen,còn quần thì màu trắng bằng lụa hay vải) Bộ trang phục này thường được mặc khi dự

lễ cúng đình hay đám cưới, các dịp hiếu hỷ

Bên cạnh trang phục phổ biến thì các trang phục vùng dân tộc thiểu số vùngNam Bộ cũng mang những vẻ đẹp, độc đáo riêng chẳng hạn như trang phục truyềnthống ngày thường của phụ nữ Khmer là áo dài (tầm-vông, cũng có người gọi là áo cổbồng) và vận xà-rông; y phục phổ biến của phụ nữ Chăm là váy (2 loại) và áo dài

(không xẻ vạt, mặc chui qua đầu gọi là Ao LoaK) hay người Hoa thường mặc áo ngắn,

nút áo bên sườn phải kéo từ cổ xuống, cổ áo hơi cao, tay áo quá khủyu tay Quần củaphụ nữ người Hoa ống hẹp, cao trên mắt cá chân Trong ngày lễ Tết, phụ nữ ngườiHoa thường mặc một loại áo váy may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi mà

Trang 13

người Việt quen gọi là “Xườn xám”,… Điều đó đã tạo nên sự đa dạng, phong phú cho

văn hóa trang phục của vùng đất nơi đây

2.1.4 Văn hóa vận chuyển

Vùng văn hóa Nam Bộ mang điều kiện địa lý đặc thù, mang đặc trưng đồngbằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miềnkhác với các kênh rạch chằng chịt, nhiều sông và đồng bằng phì nhiêu màu mỡ Chính

vì vậy nền văn hóa vận chuyển, đi lại của người Việt trên vùng đất phì nhiêu rộng lớnnày được lựa chọn bằng các phương tiện di chuyển sao cho phù hợp với điều kiện địahình sông nước

Ở trên đất liền thì các cư dân Nam Bộ xưa kia thường đi bộ, có khi dùng xe bò,

xe ngựa, xe thồ, còn đối với vùng sông nước thì họ dùng xuồng, ghe, thuyền, bè, Đặc biệt ở miền Tây Nam Bộ, kênh rạch rất chằng chịt, việc sử dụng xuồng, ghe của

cư dân nơi đây hết sức quan trọng và thiết yếu vừa là phương tiện vận chuyển tiệndụng cho tất cả mọi người, vừa là phương tiện mưu sinh và phương tiện cư trú của một

số lớn cư dân làm nghề đò ngang, đò dọc, buôn bán và nuôi cá trên sông Trong thờiPháp thuộc, khi giao thông đường bộ bước đầu phát triển, người Nam Bộ đã gọi cácchuyến xe khách liên tỉnh, liên vùng là xe đò Không chỉ là phương tiện vận chuyển vàphục vụ đi lại mà ghe xuồng đối với cư dân Nam Bộ là phương tiện đánh bắt thủy- hảisản Tùy nhu cầu mà phương tiện đi lại, vận chuyển là ghe, xuồng được biến hóa chophù hợp Có tới hơn chục tên gọi như ghe chài, ghe bầu, ghe lườn, ghe be, ghe ngo,ghe lúa, ghe muối,… rồi xuồng thì có xuồng ba lá, xuồng chèo, tắc ráng, ca nô, vỏlãi, được đóng bằng cây sao núi vì nó chắc, bền, sử dụng nhiều năm nhất Để chỉ cácloại ghe, có ghe bầu là loại ghe lớn, chở nhiều đồ, đi xa, dài ngày và chống chịu đượcsóng to, gió lớn hay ghe hàng là loại ghe người dân dùng bán tạp hóa trên sông nước,

đi từ nơi này đến nơi khác, Ghe tam bản loại ghe chở 1- 2 tấn hàng hóa, thường dùngchở lúa trên sông, rạch,… Còn xuồng là phương tiện dùng để đi lại trên sông rạch, sứcchở vài người, vài trăm ký hàng hóa hay xuồng ba lá là loại xuồng được đóng bằng 3miếng ván Sau này có nhiều cơ sở đóng xuồng có sự biến đổi như xuồng năm lá, bảy

lá và có loại xuồng được đóng bằng miếng ván dài, thon được gắn máy chạy với tốc độ

Trang 14

tương đối cao, làm tàu chở khách gọi là vỏ lãi,… Họ ứng xử, thích nghi với điều kiện

tự nhiên trên sông nước và dựa vào đó để phát triển các khu chợ buôn bán, trao đổihàng hóa bằng các chiếc ghe, xuồng đan xen chằng chịt nhau, hình thành khu chợ trênsông nước, chợ nổi với những chiếc ghe chất đầy hàng hóa, thức ăn, nước uống, giaolưu hàng hóa như một khu chợ trên đất liền nhưng nó linh hoạt hơn nay ở chỗ này, mai

ở chỗ khác và tạo nên một nét sinh hoạt văn hóa đặc thù riêng của người dân miềnsông nước

2.2 Văn hóa phi vật thể

2.2.1 Tôn giáo, tín ngưỡng

Là một vùng đất đa tộc người, nơi đất lành chim đậu của di dân người Việt,người Khmer, người Hoa, người Chăm và các tộc người khác, Nam Bộ đã trở thànhmôi sinh thuận lợi để phát triển các tôn giáo có nguồn gốc Bắc Bộ, Trung Bộ hoặc tiếpbiến từ các tộc người cộng cư và từ người Pháp Vì vậy, ở đây chính là vùng đất phongphú nhất về tín ngưỡng – tôn giáo ở Việt Nam, với đầy đủ bốn loại hình tôn giáo đathần và độc thần, nội sinh và ngoại sinh Vì vậy, đời sống tâm linh của người Việt Nam

Bộ khá phức tạp, chịu ảnh hưởng đồng thời của nhiều tôn giáo có nguồn gốc khácnhau

2.2.1.1 Tôn giáo

Các tôn giáo đa thần:

Các tôn giáo thờ cúng nhiên thần: phổ biến nhất là thờ cúng Thổ Địa, Thần Tài,Táo Quân, Ông Thiên (gia đình), Cá Ông (đình miễu ven biển), Thành Hoàng BổnCảnh, Sơn Thần (đình miễu trong nội địa), Bà Chúa Xứ

Các tôn giáo thờ cúng nhân thần: phổ biến nhất là thờ cúng gia tiên – tổ tiên(tang ma, đám giỗ, cúng việc lề), Quan Thánh Đế Quân (gia đình), Ông Bổn (chùa,miễu), tổ nghề nghiệp Ngoài ra, một số nơi còn thờ cúng Tổ tiên nhân loại (cửu huyềntrăm họ), các danh nhân – anh hùng dân tộc Ngoài ra, từ sau năm1954, người Việt Bắc

Bộ còn đưa vào một vài nơi ở Nam Bộ (như thành phố Hồ Chí Minh) các tôn giáo thờcúng nhân thần: Quốc tổ Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Đức Thánh Trần…

Trang 15

Các tôn giáo độc thần:

Các tôn giáo dân tộc: đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.Ngoài ra, một số người còn tin theo các giáo phái, hệ phái bắt nguồn từ Phật giáo nhưBửu Sơn Kỳ Hương (có khoảng 15.000 tín đồ ở Tây Nam Bộ), Huỳnh Đạo (thị xãChâu Đốc, An Giang), đạo Ông Trần (xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu, Bà Rịa-Vũng Tàu), đạo Dừa (cồn Phụng, xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, Bến Tre)…

Các tôn giáo thế giới: Phật giáo Bắc Tông, Công giáo, Tin Lành Tiếp nốitruyền thống của người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, người Việt Nam Bộcũng dành ưu tiên cho đạo Phật, xây dựng chùa chiền trên khắp đồng bằng, đặc biệt lànhững vùng đồi núi sót Đạo Công giáo, đạo Tin Lành cũng có đông tín đồ, phần lớn làgiáo dân di cư từ miền Bắc

Ngoài ra còn có tôn giáo của các tộc người thiểu số ở Nam Bộ như: Người Hoa

ở Nam Bộ phần nhiều theo các tín ngưỡng dân gian và thờ cúng tổ tiên Hệ thống thầnthánh của người Hoa rất phong phú và phức tạp Trong đó,thánh nhân được thờ cúngnhiều hơn thần linh; Người Khmer Nam Bộ theo Phật giáo Nam Tông (Theravada),một tôn giáo mới du nhập từ thế kỷ XIII nhưng đã thay thế đạo Bà La Môn, chi phốirất sâu sắc đời sống của người Khmer; Người Chăm Nam Bộ hầu hết đều theo đạo HồiIslam, tôn thờ Thượng đế Allah, Thiên sứ Muhammad, và lấy Kinh Qur’an làm kimchỉ nam cho hoạt động tín ngưỡng của mình,…

Tương ứng với hình thái đa dạng về tôn giáo là mạng lưới dày đặc các cơ sở thờ

tự Rất nhiều cơ sở thờ tự cũng đồng thời là di tích lịch sử – văn hoá của Nam Bộ nhưđền Linh Sơn Thánh Mẫu ở Tây Ninh; chùa Bà ở Bình Dương; đền thờ Nguyễn HữuCảnh ở Đồng Nai; lăng Ông Lê Văn Duyệt, chùa Ông, chùa Bà ở thành phố Hồ ChíMinh; lăng Hoàng Gia, lăng Trương Định, lăng Tứ Kiệt ở Tiền Giang; lăng và đền thờThoại Ngọc Hầu, miễu Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc; đền thờ Nguyễn Trung Trực ở RạchGiá…

Trang 16

2.2.1.2 Tín ngưỡng

Người dân Nam Bộ với mang đặc trưng đa dân tộc, đa thành phần nên con

người chịu tác động nhiều yếu tố thiên nhiên, liên quan đến tư duy nhận thức, đời sốngtinh thần, thể hiện qua tín ngưỡng, đó là tín ngưỡng đa thần

Các thần thánh được cộng đồng thờ cúng gồm Thiên Hậu Thánh Mẫu (Việt: BàThiên Hậu), Quan Thánh Đế Quân (Việt: Quan Công), Ngọc Hoàng (Việt: NgọcHoàng), Bổn Đầu Công (Việt: Ông Bổn)…; các vị thần bảo hộ gia đình: Thiên Quan

Tứ Phước (Việt: Ông Thiên), Thổ Địa Bản Gia (Việt: Ông Địa), Táo Quân (Việt: ÔngTáo), Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần, Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần (Việt: Thần Tài),Quan Âm Bồ Tát (Việt: Phật Bà Quan Âm), Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, tổ sưcác nghề thủ công tinh xảo Người Việt Nam Bộ tiếp thu Nho giáo và học thuật củaTrung Hoa, một phần cũng là nhờ vai trò cầu nối của những trí thức Minh Hương và tríthức người Hoa Nam Bộ như Võ Trường Toản, Gia Định tam gia (Trịnh Hoài Đức, LêQuang Định, Ngô Nhân Tĩnh), Gia Định tam hùng (Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh, ChâuVăn Tiếp), Ngô Tùng Châu, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản

Thờ Mẫu: Thờ Mẫu là tín ngưỡng phổ biến của cả vùng Tây Nam Bộ, trong

đó, sự thờ phụng của cộng đồng cư dân Việt là phát triển nhất, với từ xưng hô thânthuộc là Bà Họ thờ phụng nhiều Bà, trong đó quan trọng nhất là Bà Chúa xứ/ Bà Chúa

xứ sở của cả vùng đất Tây Nam Bộ mang hơi hướng truyền thống thờ Mẫu của vùngquê gốc Ngoài trung tâm thờ phụng chính là núi Sam, thuộc Châu Đốc, An Giang thìhầu như làng Việt nào ở Tây Nam Bộ cũng đều có miếu thờ Bà Chúa xứ Lễ vía Bà,một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cộng đồng quan trọng nhất, quy mô nhất, diễn rathường niên tại núi Sam, từ ngày 23 đến ngày 27-4 âm lịch Cùng thời gian này, cácmiếu Bà Chúa xứ ở các làng quê cũng tổ chức lễ vía Bà nhằm cầu an, cầu thịnh chocộng đồng nông nghiệp

Nếu Bà Chúa xứ có quyền năng của Mẫu Địa - Thánh Mẫu che chở con ngườitrên mặt đất, thì các Bà khác là biểu thị của các nữ thần hỗ trợ cho các vùng khônggian gắn với các nghề mà con người làm ăn sinh sống, như làm nông, làm biển, làm

Trang 17

rừng, làm nghề thủ công… Theo đó, phổ biến nhất là Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc,

Bà Đại Càn, Bà La Sát, Bà Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Thiên Hậu, Bà Ngũ Hành, BàThủy Long Thần Nữ, Bảy Bà (Thất Thánh Nương Nương), Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ,Linh Sơn Thánh Mẫu Các Bà có nguồn gốc khác nhau, có Bà gốc Việt, gốc Chăm,gốc Hoa, nhưng đều được người Việt thờ phụng, gắn với ước vọng về sự bảo trợ củacác Bà cho cuộc sống bình an, đủ đầy, dân đông, vật thịnh Tục thờ Mẫu đã trở thànhmột tín ngưỡng điển hình ở Việt Nam

Thờ Thổ địa – Thần tài: Tín ngưỡng đa thần còn được thể hiện rõ trong gia

đình người Việt với tục thờ thổ công, là vị thần trông coi gia cư, định đọat phúc họacho gia đình Nam Bộ phổ biến thờ ông Địa Ngoài ra Thần Tài cũng được thờ tronggia đình người Việt và người Hoa với ước mong tài lộc may mắn cho gia chủ

Thờ Thần Thành hoàng: vị thần bảo trợ cho cộng đồng làng trên mọi mặt của

cuộc sống nông nghiệp - thần Thành Hoàng đã được “tái hiện” tại các làng Việt trên cơ

sở phát triển truyền thống thờ Thành Hoàng từ vùng quê gốc Trung Bộ/ xứ Quảng.Giống như nhiều đình làng Trung Bộ, Thành Hoàng các làng Việt ở đây không phải làmột vị thần cụ thể có ngai tượng và danh tính rõ ràng mà chỉ có chữ “thần” làm biểutượng thờ kèm danh xưng Thành Hoàng Bổn Cảnh hoặc Thành Hoàng bổn xứ, với vaitrò bảo hộ không gian, địa giới của làng; có chức năng và quyền uy của Thổ thần.Ngoài thần Thành Hoàng là chính thần, các đình làng còn phối thờ nhiều vị thần khác,

mà phần lớn có nguồn gốc từ vùng ngũ Quảng và Nam Trung Bộ đã gắn bó với cư dântrong lịch sử khai khẩn vùng đất mới Mỗi đình có thể thờ tự các loại thần khác nhauqua cách bài trí bàn hương án bên bàn thờ Thành Hoàng, nhưng nhìn chung, đình nàocũng có bàn hương án thờ phụng Tiền hiền, Hậu hiền với danh xưng Tiền hiền khaikhẩn, Hậu hiền khai cơ nhằm xác tín về niềm tin, sự kính tín, lòng biết ơn của cộngđồng người Việt Tây Nam Bộ đối với công khai phá lập làng của các bậc tiền nhân

Lễ kỳ yên thường tổ chức hằng năm vào “xuân kỳ” tại các đình làng, biểu hiện

sự kính trọng, niềm tin của dân làng đối với thần Thành Hoàng và các bậc thần linh

Ngày đăng: 02/06/2025, 09:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Thế Đại (2017), “Mấy nét đặc sắc của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ”, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Nghiên cứu tôn giáo, số 10 (tr94 – 114) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nét đặc sắc của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ
Tác giả: Đặng Thế Đại
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Tôn giáo
Năm: 2017
3. Lý Tùng Hiếu (2015), “Môi trường văn hóa và diện mạo mới của văn hóa Nam Bộ”, Tạp chí phát triển Khoa Học và Công Nghệ, Tập 18 (tr.61 – 76) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường văn hóa và diện mạo mới của văn hóa Nam Bộ
Tác giả: Lý Tùng Hiếu
Nhà XB: Tạp chí phát triển Khoa Học và Công Nghệ
Năm: 2015
4. Hữu Huynh (2020), “Loại hình nghệ thuật đặc trưng của Nam Bộ”, trích nguồn:https://phuongnam.vanhoavaphattrien.vn/loai-hinh-nghe-thuat-dac-trung-cua-nam-bo-a17264.html, ngày truy cập: 23/10/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loại hình nghệ thuật đặc trưng của Nam Bộ
Tác giả: Hữu Huynh
Năm: 2020
5. Phạm Tiết Khánh (2021), “Về tín ngưỡng của cư dân vùng Tây Nam Bộ”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật , số 480 trích nguồn: http://vanhoanghethuat.vn/ve-tin-nguong-cua-cu-dan-vung-tay-nam-bo.htm, ngày truy cập: 25/10/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tín ngưỡng của cư dân vùng Tây Nam Bộ
Tác giả: Phạm Tiết Khánh
Nhà XB: Tạp chí văn hóa nghệ thuật
Năm: 2021
6. Ngô Văn Lệ (chủ biên), Vùng đất Nam Bộ (Tập VII) – Đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa, NXB Chính trị Quốc gia sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng đất Nam Bộ (Tập VII) – Đặc trưng tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia sự thật
7. Nhà ở của người Nam Bộ xưa, trích nguồn: https://baocantho.com.vn/nha-o-cua-nguoi-nam-bo-xua-a20719.html, ngày truy cập 24/10/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà ở của người Nam Bộ xưa
8. Richard Nguyễn, “Văn hóa ẩm thực Nam Bộ: “Cả một trời thương nhớ”, trích nguồn: https://beptruong.edu.vn/tin-tuc/van-hoa-am-thuc/am-thuc-nam-bo,ngày truy cập 24/10/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực Nam Bộ: “Cả một trời thương nhớ”
Tác giả: Richard Nguyễn
9. Nguyễn Thị Nguyệt, “Bản sắc văn hóa và tri thức địa phương trong phát triển vùng Đông Nam Bộ”, Cơ sở khoa học cho phát triển vùng trong bối cảnh hội nhập quốc tế Việt Nam, Bảo tàng Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học cho phát triển vùng trong bối cảnh hội nhập quốc tế Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Nguyệt
Nhà XB: Bảo tàng Đồng Nai
10. Nhật Minh (2024), “Nét đặc trưng trong trang phục nông dân Nam Bộ”, trích nguồn: https://vovgiaothong.vn/newsaudio/net-dac-trung-trong-trang-phuc-nong-dan-nam-bo-d38576.html, ngày truy cập: 25/10/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đặc trưng trong trang phục nông dân Nam Bộ
Tác giả: Nhật Minh
Năm: 2024
11. “Tìm hiểu về các làng nghề truyền thống Nam Bộ”, trích nguồn: https://vietbrooms.com/2022/06/01/tim-hieu-ve-cac-lang-nghe-truyen-thong-nam-bo/, ngày truy cập 23/10/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về các làng nghề truyền thống Nam Bộ
Năm: 2022
13. Văn hóa ẩm thực của người Nam Bộ, trích nguồn: https://www.studocu.com/vn/document/truong-dai-hoc-tai-chinh-marketing/thuchanhnghenghiep1/van-hoa-am-thuc-cua-nguoi-nam-bo/13455198, ngày truy cập 24/10/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực của người Nam Bộ
2. Giới thiệu áo bà ba - trang phục truyền thống người Nam Bộ”, trích nguồn: https://trangphucduyenha.com/gioi-thieu-ao-ba-ba, ngày truy cập, 25/10/2024 Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w