Ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán đồ gốm, giấy, nhang… Một bộ phận người dân tộc Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá.. - Việc m
Trang 1KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH
BÀI THẢO LUẬN
CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM
ĐỀ TÀI
VÙNG VĂN HOÁ NAM BỘ
Mã lớp: 2189ENTI0111
Nhóm: 9
Trang 2MỤC LỤC
I GIỚI THIỆU CHUNG 3
1 Vị trí địa lí (không gian văn hóa) 3
2 Đặc điểm địa hình, tự nhiên 3
3 Khí hậu 3
II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VĂN HOÁ (Thời gian văn hóa) 4
III CÁC TỘC NGƯỜI (Chủ thể văn hoá) 4
1 Người Hoa 4
2 Người Khmer 6
3 Người Việt Kinh 7
4 Nét tính cách của người Nam bộ nói chung (hằng số văn hoá) 8
IV ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA ĐỜI SỐNG (Biến số văn hoá) 8
1 Ẩm thực 8
2 Trang phục 11
3 Kiến trúc nhà ở 12
4 Đi lại 13
5 Phong tục ma chay, cưới hỏi 13
6 Tín ngưỡng Nam Bộ 15
7 Tôn giáo 17
V ĐẶC ĐIỂM VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT 19
1 Kiến trúc 20
2 Âm nhạc 20
3 Bác học, văn học và ngôn ngữ 21
VI ĐẶC ĐIỂM VĂN HOÁ THƯƠNG NGHIỆP 23
1 Chợ nổi 23
2 Các làng nghề truyền thống 24
VII KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 25 1 Du lịch sinh thái 25
2 Du lịch văn hóa, lịch sử 26
Trang 35 Ngô Thị Minh Trang
6 Nguyễn Mai Trang
Trang 4P a g e | d
Trang 5P a g e | e
NỘI DUNG
I GIỚI THIỆU CHUNG
1 Vị trí địa lí (không gian văn hóa)
- Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng
- Phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và phía đông bắc giáp với Duyên Hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
(miền Trung, Trung Bộ).
- Gồm các tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, TP
Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
2 Đặc điểm địa hình, tự nhiên
- Đồi núi Đồi núi trong vùng không nhiều và tập trung ở : miền Đông Ở miền Tây chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn (An Giang, cao nhất là núi Cấm 718m), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang, cao nhất là núi Chúa 602m)
- Sông ngòi: Mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt là cung cấp nguồn nước dồi dào
Hai hệ thống sông lớn nhất đó chính là sông Đồng Nai và sông Cửu Long
3 Khí hậu
- Nam Bộ nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, ánh nắng nhiều, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt thấp
- Khí hậu hình thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa khô và mùa mưa Mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau
- Lượng mưa khá lớn Mưa phân bố không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống khu vực phía tây và Tây Nam Ở khu vực Đông Nam có lượng mưa thấp nhất Khi xuất hiện cường độ mưa lớn thường gây hiện tượng xói mòn ở những vùng gò cao Khi mưa kết hợp với cường triều và lũ sẽ gây ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư trong vùng
Trang 6P a g e | f
II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VĂN HOÁ (Thời gian văn hóa)
- Năm 1623 khi vua Chân Lạp cho chúa Nguyễn di dân Việt đến định cư ở Prey Kor (TP
Hồ Chí Minh hiện nay)
- Sau sự biến mất của nền văn hoá Óc Eo vào cuối thế kỉ VI, vùng Nam Bộ rơi vào tình trạng hoang vu hiểm trở Người Việt đến khai phá vùng đất này vào khoảng thế kỉ XVI Nói cách khác, với người Việt, Nam Bộ là vùng đất mới
- Năm 1862 Nam Bộ lại là nơi đầu tiên chịu ảnh hưởng thống trị của thực dân Pháp với tưcách là vùng thuộc địa của người Pháp Điều đó tạo nên cuộc tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Việt – Pháp
- Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Nam Bộ trở thành nơi “đi trước về sau”:
+ Nhân dân Nam Bộ và Sài Gòn đã đi trước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Bên cạnh đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm, Nam Bộ là chiến trường chính và lại đi trước trong cuộc đấu tranh vũ trang
+ Nam Bộ và Sài Gòn đã về đích độc lập tự do sau cả nước 21 năm nhưng đó là cuộc “vềsau” đầy vinh quang vì miền Nam đã gánh chịu những hy sinh, gian khổ lớn lao nhất cho
cả nước
=> Phải gần một thế kỷ sau Nam Bộ mới bước đầu được định hình một vùng văn hóa
III CÁC TỘC NGƯỜI (Chủ thể văn hoá)
1 Người Hoa
- Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên
- Người dân tộc Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông Ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán đồ gốm, giấy, nhang… Một bộ phận người dân tộc Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ “tín”
- Người dân tộc Hoa thường cư trú tập trung thành làng xóm, tạo thành khu vực đông đúc, gắn bó với nhau Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao Hàng năm, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ Hơn nữa, họ còn làm giỗ tổ của hội nghề nghiệp tương ứng
Trang 7P a g e | g
- Trong gia đình người Hoa, người chồng hoặc người cha là chủ hộ; chỉ con trai được thừa
kế gia tài và con trai cả luôn được phần hơn Hôn nhân của người dân tộc Hoa do cha mẹ quyết định, nạn tảo hôn thường xảy ra
- Việc ma chay theo phong tục người Hoa phải trải qua lần lượt các bước như lễ báo tang,
lễ phát tang, lễ khâm liệm, lễ mở đường cho hồn người chết, lễ chôn cất, lễ đưa hồn ngườichết đến cõi “Tây thiên Phật quốc”, lễ đoạn tang…
- Trong thờ cúng, nổi bật là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù
hộ như thần bếp, thổ địa, thần tài… và một số vị thánh, bồ tát như Quan Công, Bà ThiênHậu, Ông Bổn, Nam Hải Quan Âm… Hệ thống chùa miếu khá phát triển, chùa miếu củangười dân tộc Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học
- Người dân tộc Hoa thích hát “sơn ca” (san cưa). Ca kịch cũng là một hình thức sinh hoạtnghệ thuật mà đồng bào người dân tộc Hoa ưa chuộng
- Nhà ở cổ truyền của người dân tộc Hoa có những đặc trưng mang dấu ấn của người
phương Bắc rất rõ Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian 2 trái, nhà chữ Môn, nhà chữKhẩu Kiểu nhà “hình cái ấn” là rất điển hình Gian chính giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên,tiếp khách, thường được trang trí câu đối, liễn Cũng có những kiểu nhà người Hoa tiếp
thu của người dân tộc Tày hay người Việt Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc, trình đất,
lợp ngói máng hay lá quế, lá tre, phên nứa…
- Trang phục: Cách ăn mặc của đàn ông thường dùng quần áo như đàn ông các dân tộc
Nùng, Giáy, Mông, Dao… Đàn ông thường mặc áo màu đen hay xanh đậm, thích bịt răngvàng Phụ nữ mặc quần và áo 5 thân cài cúc bên nách phải Trong một số ngày lễ, phụ nữ
có thể mặc áo viền cổ cao, xẻ tà, thường có màu hồng hoặc màu đỏ đi cùng với nhữngtrang sức đặc biệt là vòng tay đồng, vàng, đá ngọc Nón, mũ, ô là các đồ đội thông dụngcủa người Hoa
- Về ăn uống: lương thực chính của người dân tộc Hoa là gạo nhưng trong bữa ăn thường
có các loại như mì xào, hủ tiếu, bánh bao, xíu mại… Người dân tộc Hoa có kỹ thuật nấu
ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ Thức uống của người dân tộc Hoa ngoài tác dụng giảikhát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng “lục phủ, ngũ tạng”. Các loại trà sâm, hoa cúc… là
Trang 8P a g e | h
những thứ thông dụng trong mọi gia đình Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quendùng rượu Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất là những người phụ nữ cótuổi
- Trong năm, người Hoa có nhiều ngày lễ tết như tết Nguyên đán, tết Nguyên tiêu, Thanhminh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu
2 Người Khmer
- Dân tộc Khmer sống tập trung ở tại các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ, Vĩnh Long Họ thường tập trung thành những phum, sóc, ấp
- Đời sống của Người Khmer gắn liền với lúa nước và các nghề thủ công (dệt, gốm, làm
đường từ cây thốt nốt), có địa phương trồng nhiều dưa hấu, ngoài ra còn chăn nuôi trâu bò
để cày kéo, nuôi lợn, gà, vịt đàn, thả cá
- Cho đến ngày nay, chùa Khmer là tụ điểm sinh hoạt văn hóa - xã hội của người Khmer.Thanh niên người Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức Nhà chùa thường dạy kinh nghiệm sản xuất, dạy chữ Khmer Dân tộc Khmer có kiến trúc chùa tháp rất đặc sắc
- Ðồng bào Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng
- Hàng năm người Khmer có nhiều ngày hội, ngày tết dân tộc như Lễ Cholchnam Thmay
có nét tương đồng với Tết Nguyên Đán của người Kinh Lễ hội được tổ chức vào 13, 14,
15 tháng 3 âm lịch hằng năm, khi mùa màng đã được thu hoạch xong Họ quan niệm đây không chỉ là khoảng thời gian để cảm tạ thần Phật đã cho họ một vụ mua bội thu mà còn
là dịp để nghỉ ngơi và vui chơi sau một năm làm việc Ngoài ra còn có lễ xá tội vong ân,
Oóc bom booc (cúng trăng),… Tiếp đó, không thể quên nghệ thuật văn hóa sân khấu Dù
Kê đặc sắc.
- Trong cuộc sống hàng ngày, người Khmer chế biến rất nhiều loại mắm làm từ tôm tép,
cá sặc nhưng nổi tiếng nhất là mắm làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính
và muối
- Nhà cửa: Người Khmer vốn ở nhà sàn, nhưng nay nhà sàn chỉ còn lại rất ít ở dọc biên giới Việt - Campuchia và một số nhỏ trong các chùa phật giáo Khmer Nay số đông người Khmer ở nhà đất Nhà chia làm hai phần theo chiều ngang, một phần làm nơi ở, một phần dành cho bếp núc
Trang 9P a g e | i
- Trang phục cổ truyền của người Khmer nổi bật với bộ “ xà rông” của nam và váy “
xăm pốt” của nữ Cách mặc váy của phụ nữ Khmer rất đặc biệt, luồn váy giữa hai chân từ
sau ra trước, rồi kéo lên dắt cạnh hông tạo thành chiếc quần ngắn và rộng Ngoài ra, phụ
nữ Khmer còn phổ biến với loại khan Krama dệt ô vuông màu xanh, đỏ trên nền trắng Ngày cưới họ thường đội mũ pkel plac
3 Người Việt Kinh
- Người Việt Kinh vẫn nổi bật với nền nông nghiệp lúa nước, ngoài ra có chăn nuôi giasúc và làm đồ thủ công
- Dân tộc Việt Kinh vẫn giữ được những nét văn hóa khi di cư vào vùng Nam Bộ Từngôn ngữ, trang phục, đến tục ăn trầu, uống chè,…
- Người Việt có những giá trị tâm linh như việc thờ cúng tổ tiên, giỗ và các lễ hội như Tết
Các tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Công giáo Rôma, đạo Cao Đài
- Trang phục: Các loại quần áo như áo ngắn mặc với quần lá tọa ống rộng, quần có cạp
hoặc dùng dây rút Thời xưa thì đàn ông để tóc dài, búi tó; còn phụ nữ mặc yếm cùng váydài Vào các lễ hội đặc biệt phụ nữ sẽ mặc áo dài khăn đống, màu áo đơn giản không cóvăn hoa, búi tóc đuôi gà, chân đi guốc mộc, đội nón lá Bên cạnh đó, người Việt Kinhcũng hay sử dụng áo bà ba và khăn trùm đầu
- Theo truyền thống ngàn đời thì người Kinh sống theo làng, xã Trong các làng và xã đều
có luật lệ riêng Mỗi làng đều có nơi hội tụ và thờ lạy chung (thường thờ Thành Hoàng).Vào thời xưa thì phụ nữ bị cấm không được đến đình làng
- Nhà cửa: chủ yếu được xây dựng từ cỏ khô, rơm rạ, tre nứa…điển hình với nhà 3 gianhoặc 5 gian
- Hôn nhân: Xa xưa, việc dựng vợ gả chồng không chỉ là chuyện của đôi trai gái mà hônnhân còn phải đem lại lợi ích cho 2 gia đình Hôn nhân được cha mẹ sắp xếp theo sự mônđăng hộ đối Người con rể phải đem lại danh tiếng vẻ vang cho nhà vợ; còn người con dâuphải có năng lực sinh sản, đảm đang và quán xuyến công việc nhà chồng
Trang 10P a g e | j
4 Nét tính cách của người Nam bộ nói chung (hằng số văn hoá)
- Người dân nơi đây mang nét tính cách cởi mở, hiếu khách, ngay cả với những người
không quen biết Họ cũng thường nghĩ cho người khác và quên bản thân mình Bên cạnh
đó họ cũng rất năng động, sáng tạo, tiếp thu nhanh và thông minh.
- Người Nam Bộ nổi bật với sự hào phóng, thoải mái, vị tha Nét tính cách ấy được thểhiện rõ nét qua nếp ăn, nếp ở, nếp nói Họ “làm ra làm, chơi ra chơi” mà đã chơi là
“chơi xả láng” Họ sẵn sàng chi đồng tiền cuối cùng trong ngày, còn ngày mai tính sau.
Không biết nên khen tính rộng rãi, phóng khoáng hay phê phán tính không biết tiết kiệm
đề phòng khi gặp khó khăn
- Họ còn có tính bộc trực, thẳng thắn, không hề giấu diếm, ăn to nói lớn Hơn hết họ luôntrọng tình cảm nghĩa khí hơn bất cứ lợi lộc nào Họ rõ ràng, dứt khoát, nói như rựa chémxuống đất, như đinh đóng cột, không dễ gì thay đổi, vì vậy họ rất giữ lời
- Sự hiên ngang, ngang tàng là nét tính cách đặc trưng của người Nam Bộ Điều đó thểhiện sự nghĩa khí, tinh thần hào hiệp của họ, cũng có thể nói họ có ý chí rất cứng cáp, sẵn
sàng vị nghĩa khinh sinh: “Đừng nghe hốt bạc ghe chài / Cột buồm cao, bao lùa nặng,
tấm đòn dài khó đi”.
IV ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA ĐỜI SỐNG (Biến số văn hoá)
1 Ẩm thực
a Tận dụng tài nguyên
- Vùng đất Nam bộ có nguồn nguyên liệu phong phú và tươi ngon từ các loại hải sản cho
đến trái cây, rau củ Người Nam Bộ ăn rất nhiều rau (rau đắng, rau dềnh, rau thơm, ngò
gai, bông điên điển, ) rất dễ tìm thấy ở bất kì đâu Và không thể thiếu các loại cá, cua, ếch, lươn,…đều được người dân tận dụng trong ăn uống hằng ngày.
- Ẩm thực Nam Bộ có phần hoang dã vì họ có thể ăn bất cứ nơi đâu từ ven ao, đồngruộng đến vườn cây, mà phải ăn ở những chỗ ấy mới đúng cái thú Một nồi canh chua cálóc được nấu ngay sau buổi tát đìa cũng thể hiện điều đó Mọi người cùng nhau ăn, làmchén rượu thơm, hát với nhau vài câu vọng cổ Đúng hẳn chỉ có ở miền sông nước nơiđây Nhưng cũng có một số món ăn hoang dã ở Nam Bộ dù chưa hẳn là ngon, nhưng cũng
có phần do lạ mà hấp dẫn
Trang 11ăn khác nhau Việc chế biến này được nhìn nhận ở hai phương diện:
+ Thứ nhất: Một món ăn, người ta có thể chế biến bằng nhiều loại động thực vật khácnhau Chỉ một món kho, người ta có thể kho với các loài động thực vật, hoặc thủy hải sản
khác nhau để tạo ra các món ăn khác nhau, với các hương vị khác nhau như cá lóc kho, cá
hủn hỉn kho tiêu, cá sặc kho,…còn có cả gà kho và dừa kho nữa Ngay chỉ có một món
kho thôi, người ta cũng có nhiều cách khác nhau, như: kho tiêu, kho tộ, kho quẹt, kho khô,
kho mẳn, kho riệu…
+ Thứ hai: Chỉ một loài sinh vật, người ta cũng có thể chế biến ra nhiều món ăn khácnhau, với cách làm khác nhau và hương vị cũng khác nhau Chỉ một loại cá lóc, mà người
ta có thể chế biến ra hơn 20 món khác nhau: khô lóc nướng, khô lóc xé phay trộn gỏi, khô
lóc chưng tương gừng, khô lóc nấu choại bần, mắm lóc sống trộn gỏi, mắm lóc kho lỏng,
…Nhìn vào bảng thực đơn này, chúng ta không khỏi khâm phục tính sáng tạo trong việc
chế biến ra các món ăn vô cùng phong phú của người Nam Bộ
- Nói đến món ăn Nam Bộ không thể không đề cập đến món mắm Món mắm thật sự là một sáng tạo độc đáo của người Nam Bộ Mắm chủ yếu được chế biến từ cá, ngoài ra còn
có mắm rươi, mắm còng, mắm tôm, ba khía…
c Khẩu vị nổi bật
- Khác với vị mặn của người dân miền Bắc, hay cay nồng của người dân miền Trung,
người dân Nam Bộ chủ yếu ăn ngọt và thích vị ngọt, nơi đây cũng chính là xuất xứ của rất
nhiều những món chè ngon nổi tiếng như chb bà ba, chb đậu, chb bắp… Nói như vậy
không có nghĩa là người miền Nam chỉ ăn ngọt, mà vị của họ thường rất đặc biệt, được gọi là “gì ra nấy”, nghĩa là mặn thì phải mặn quéo lưỡi như món kho quẹt, nước mắm chấm thì phải nguyên chất…còn khi ăn ớt thì dùng loại ớt cay xé, khi ăn cắn nguyên trái thì mới gọi là đã…
- Với những vị cay, ngọt, chua người dân Nam Bộ thường dùng ớt, đường, me để chế biến
Trang 12P a g e | l
d Các món ăn hàng ngày
- Bữa cơm hằng ngày thường thấy của người dân là canh chua và cá kho, rất giản dị và dễlàm Ngoài ra họ thích ăn vị cay (tiêu, ớt, gừng, tỏi, sả) để làm giảm bớt mùi tanh của cá, tôm; ưa ăn món mặn (các loại mắm, cá khô); thích ăn chua (canh chua, dưa chua), ưa ăn
chát (bắp chuối, trái bần, đọt vừng) và thích ăn đắng (khổ qua, mật cá lóc).
- Trong bữa cơm hằng ngày không thể thiếu mắm, khi thiếu những món ăn thịt cá tươi người ta thường dùng mắm để thay thế Món mắm chưng với bí rơ hầm nước cốt dừa ngon đến lạ lùng
- Bên cạnh đó, món rau cũng là món ăn phổ biến căn bản Miền Tây được trời cho cả kho
tang rau xanh từ thiên nhiên hoang dã đến vườn ruộng gieo trồng: rau muống, bông súng,
rau dừa, rau hẹ nước, rau om, cù nbo, đậu rồng, lá cách,…
- Món gỏi và món trộn cũng được người dân ưa thích ở đây Món ăn dùng các loại rau gia
vị cùng tôm, thịt, tai heo trộn đều và ướp sao cho có vị chua chua, ngọt ngọt (gỏi ngó sen
tôm, gỏi bưởi, gỏi xoài khô cá lóc,…).
- Tiêu là loại gia vị không thể thiếu khi chế biến món ăn của người Nam Bộ, tiêu không
chỉ cay mà còn ngọt, nó làm cho món ăn đậm vị hơn Rượu nếp cay nồng cũng được dùng
để ướp món ăn hoặc dùng để đãi khách
e Sự khác biệt
- Miền Bắc, miền Trung đều có món canh chua nhưng tô canh miền Nam khác hẳn về chất
và lượng, thể hiện sự trù phú vô cùng của miền đất mới: nước thật chua, cá cắt khúc lớn, các loại quả thơm, cà chua, giá, đậu bắp, các loại rau thơm và ớt thật cay
- Lẩu mắm ngày nay đã là món ăn cao cấp Trong lẩu có nhiều loại cá lại thêm thịt dọi,
ốc, mực, đậu hũ thể hiện đầy đủ nét hoang dã và hào phúng
- Người miền Nam thoải mái trong việc ăn uống, không cầu kì, câu nệ như người miền Bắc Họ chỉ cần một con cá, mắm, trái xoài, rau sống và chén rượu là cũng có thể ngồi vớinhau
Trang 13P a g e | m
2 Trang phục
- Bộ quần áo bà ba thường được may bằng vải một, vải ú, vải sơn đầm rất mau khô, chất liệu mềm mát phù hợp với khí hậu miền Nam
- Áo bà ba được may với một mảnh sau và hai mảnh trước, có khuy chạy từ trên xuống,
cổ tròn, chiết eo (với phụ nữ) và rộng (với đàn ông), xẻ tà vừa phải hai bên hông, gần vạt
áo còn có hai cái túi to để tiện đựng những vật dụng cần thiết (hộp quẹt, trầu cau, tiền
bạc,…) Chính bởi sự thoái mái và tiện dụng mà cả đàn ông và phụ nữ miền Tây đều ưa
chuộng loại trang phục này Họ mặc bà ba khi ở nhà, đi chơi, đi chợ Khi đi làm họ thường chọn bộ có màu sẫm còn lúc đi chơi sẽ chọn những màu sáng Áo bà ba thường được mặc với quần đen dài chỉ chấm đến cổ chân, trông rất đơn giản và gọn gang
- Chiếc khăn rằn cũng là hình ảnh hết sức quen thuộc của người dân đồng bằng sông Cửu Long Chiếc khăn rằn thường có hai màu đen và trắng hoặc nâu và trắng Hai màu này đan chéo nhau, tạo thành ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn và có lẽ các lằn ngang dọc
ấy là gốc gác của tên gọi khăn rằn Chiếc khăn rằn có chiều dài khoảng 1,2m, rộng chừng 40-50cm Phụ nữ vắt gọn khăn trên đầu, còn đàn ông cột ngang trán, ngăn không cho mồ hôi chảy xuống khi đang lao động, cũng dùng để lau mồ hôi ở mặt, ở cổ khi nghỉ tay Khăn cũng được quàng trên cổ, một đầu thả trước ngực, một đầu thả sau lưng Đôi khi haiđầu được buông xuôi xuống phía trước
- Trong các dịp lễ, hiếu hỷ, người Nam Bộ thường chọn áo dài khăn đóng làm lễ phục,
được may bằng loại vải đắt tiền (thường thì áo dài bằng xuyến hay lương đen, quần màu
trắng bằng lụa hay vải).
- Trang phục lễ tang thường có màu trắng làm màu chủ đạo, vì đó là màu tang tóc Vải để may đồ tang là loại vải thô, thưa Vải này rất rẻ tiền, không bền, không đẹp, cốt để biểu thị tình cảm của người đang sống đối với người đã khuất với ý nghĩa cha mẹ hoặc ông bà mất rồi, con cái quá đau buồn không thiết đến việc ăn mặc nữa Con là nam thì đầu đội
mũ rơm, nữ thì đội mấn, những người họ hàng thân thích thì chỉ quấn vòng khăn tang ngang đầu
3 Kiến trúc nhà ở
- Nhà ở của người Nam Bộ thường được xây dựng ven lộ, ven
ao, sông, kênh rạch, gần với đồng ruộng, vườn cây Nhà
Trang 14P a g e | n
thường được lợp mái lá dừa đơn sơ, mát mẻ, nhưng cứ trung bình 5 năm đều phải thay lá mới Vùng này rừng ngập nước, cây đước, cây tràm và lá dừa nước là những vật liệu làm nhà không bền chắc vì họ thường di chuyển nơi ở và không chú trọng quá nhiều đến không gian sống Nếu không quá gần sông nước họ thường kết hợp làm nhà bằng gỗ với lợp mái lá để tạo thêm sự chắc chắn Vì thế những ngôi nhà mái lá dừa đước còn tồn tại phổ biến ở đây
- Đặc biệt nơi đây phổ biến với những ngôi nhà không cửa Điều đó minh chứng cho tấm lòng trải rộng của người dân nơi đây Họ không có gì ngoài sự tin tưởng lẫn nhau và gắn
bó tình làng nghĩa xóm Nền nhà được lót bằng ván mỏng hoặc có hộ khá hơn thì làm nền kiên cố bằng bê tông Qua đó, ta thấy được sự cởi mở, phóng khoáng, tốt bụng của con người cuộc sống yên bình của vùng đất này
- Đặc trưng vùng sông nước còn phải kể đến nhà nổi trên sông Nhà nổi trên sông là nơi
cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vận chuyển đường sông, buôn bán ở chợ nổi trên sông Có những đoạn nhà bè kéo dài cả cây
số trên khúc sông rộng lớn tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp và trở thành địa điểm du lịch hấpdẫn Nhà bè được dựng kiên cố bằng loại gỗ tốt nhất, phía trên là nơi để ở, phía dưới quaylưới làm chỗ nuôi cá hoặc làm quán bán hàng
- Nhà sàn của người miền Tây Nam Bộ rộng rãi, thoáng mát, được dựng cao hơn mặt đường để tránh lũ, đa phần hướng ra sông
+ Gian chính đặt bàn thờ gia tiên, hai bên là gian thông hành, những bức tường xung quanh chủ yếu được sơn màu xanh nước biển Cửa chính ra vào thường thấp hơn đầu người nhằm mục đích khi người khác vào nhà phải cúi đầu chào ngôi nhà và chủ nhà + Từ lan can đến khung cửa được chạm khắc công phu (chim muông, hoa lá) với đườngnét, góc cạnh cầu kì Nhìn vào đó ta có thể đoán được mức độ giàu nghèo của gia chủ + Bên trong nhà sàn truyền thống của người Chăm thường không có bàn ghế mà chủ nhà và khách ngồi luôn trên chiếu trải ở hành lang, rất gần gũi Hành lang trước gian chính cũng được dùng để ăn uống, tiếp khách