Tuần qua, một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Đại học Nam California và Đại học Hawaii công bố một công trình nghiên cứu, mà trong đó họ kết luận rằng phụ nữ sau mãn kinh ăn bưởi có thể gia tă
Trang 1Bưởi không gây
không có gì phải bàn thêm, nhưng ở đây những bản tin như thế đã gây
ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình
trạng kinh tế của một bộ phận nông
Trang 2dân Việt Nam Giá bưởi ở vùng
Đồng bằng sông Cửu Long giảm từ 10.000-16.000đ/kg xuống còn chỉ
8.000đ/kg, thậm chí 1000đ/kg Nhiều nông dân đang điêu đứng với sự
giảm giá do thông tin trên Đây là
trường hợp khoa học hại dân Do đó, cần phải thảo luận nghiêm chỉnh vấn
đề Tôi tin rằng báo chí Tây phương hiểu không đúng dữ liệu khoa học
cho nên mới gây nên nhầm lẫn
Trang 3ngược lại, nhiều bằng chứng khoa
học cho thấy ăn bưởi có lợi ích cho sức khỏe
Trong các loại trái cây, bưởi là một loại hoa quả có nhiều giá trị y học, vì giàu dung lượng sinh tố C, A, B1 và B2
Một vài nghiên cứu cơ bản cho thấy
bưởi có khả năng ức chế lượng
cholesterol trong máu và làm giảm
lượng đường trong máu Ngoài ra, vỏ
và lá bưởi còn được sử dụng để điều trị
ho, đờm trong cuống phổi, nói chung là những ảnh hưởng tích cực đến sức
khỏe Người viết bài này có thể trình bày hàng chục nghiên cứu liên quan
đến tác dụng của bưởi, nhưng vài
nghiên cứu mới nhất tưởng cũng có thể
Trang 4làm cơ sở cho các phát biểu trên [1-3]
Tác dụng của bưởi còn nhiều và khó
liệt kê hết ra trong bài viết ngắn này,
nhưng bao nhiêu đó cũng để thấy bưởi không “có tội” như người ta đang gán ghép cho nó Tuy nhiên, cũng như bất
cứ thực vật nào, bưởi cũng có những
phản ứng phụ cần lưu ý Bởi vì bưởi
hàm chứa lượng flavonoid naringin, và hoạt chất này có thể can thiệp vào sự kích hoạt của enzyme CYP3A trong
gan (enzyme này được sản sinh bởi cơ thể chúng ta nhằm mục đích phân hóa một số hóa dược, nhất là những loại
thuốc điều trị cholesterol và cao huyết áp) Nếu bệnh nhân vừa các uống thuốc này và vừa ăn buởi thì các flavonoid
Trang 5naringin sẽ ngăn chận sự chuyển hóa của thuốc, làm cho thuốc không
chuyển hóa được, và hóa dược tồn
đọng trong cơ thể, gây độc hại cho chơ thể [4-6]
Tuần qua, một nhóm nhà nghiên cứu thuộc Đại học Nam California và Đại học Hawaii công bố một công trình
nghiên cứu, mà trong đó họ kết luận
rằng phụ nữ sau mãn kinh ăn bưởi có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư
vú (nguyên văn: “Grapefruit intake
may increase the risk of breast cancer among postmenopausal women”) [7] Đáng lẽ họ phải viết cụ thể hơn rằng
mối liên hệ (mà họ cho rằng vừa phát hiện đó) chỉ tồn tại ở phụ nữ sống ở Mĩ
Trang 6(cụ thể là bang California và Hawaii), chứ không phải phụ nữ người Á châu hay người Việt Nam
Từ một nghiên cứu như thế, giới báo chí Tây phương chạy nhiều cái tít giật gân như “Grapefruit may increase your risk of breast cancer” (Bưởi làm tăng nguy cơ ung thư vú), “Grapefruit
linked to breast cancer” (Bưởi có liên
hệ với ung thư vú), thậm chí “Eating grapefruit can increase breast cancer risk by a third” (Ăn bưởi có thể tăng nguy cơ ung thứ một phần ba), v.v… Những bản tin này gây hoang mang
không ít người trong cộng đồng, đến nổi Hội đồng Ung thư Anh phải ra một thông báo để trấn an người dân Bản
Trang 7thông cáo của Hội đồng Ung thư Anh viết rằng những phát hiện về mối liên
hệ giữa bưởi và ung thư vú chưa xác định Thật ra, theo tôi, phải viết chính xác hơn là: chưa có mối liên hệ giữa
bưởi và ung thư vú
Để hiểu câu phát biểu trên của tôi, cần phải xem qua số liệu mà họ công bố
trong bài báo khoa học một cách khách quan và có hệ thống Trong công trình nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu
theo dõi 46.080 phụ nữ sau mãn kinh (tức trên 48 tuổi) trong thời gian 1993 đến tháng 12 năm 2002 Họ thu thập số liệu về thói quen ăn uống của các phụ
nữ này lúc ban đầu Đối với bưởi các nhà nghiên cứu hỏi: “trong vòng 1 năm
Trang 8qua chị ăn uống bao nhiêu bưởi?”
Trong thời gian 9 năm sau đó họ liên
kết với cơ sở dữ liệu về ung thư của
bang California và Hawaii để biết ai
trong số này bị ung thư vú Kết quả cho
thấy như sau (Bảng 1):
Bảng 1 Tỉ lệ phát sinh ung thư vú phân
theo nhóm ăn bưởi và không ăn bưởi
Thói quen
ăn bưởi
Số trường hợp ung thư
vú
Số đối tượng không ung thư
Trang 9Nguồn: xem tài liệu tham khảo số 7
Như thấy trong bảng trên, có đến 50% các phụ nữ báo cáo rằng họ từng ăn
bưởi (hay uống nước bưởi) trong vòng
1 năm qua (tức là năm 1993) Trong số 22.877 phụ nữ từng ăn uống bưởi, có
863 người bị ung thư vú sau đó, và tỉ lệ
là 3,8% Trong số 23.203 phụ nữ nói rằng họ không ăn uống bưởi trong
vòng 1 năm qua, có 794 người mắc
bệnh ung thư vú, và tỉ lệ phát sinh là
3,4% Như vậy, nhóm ăn bưởi có tỉ lệ ung thư vú cao hơn nhóm không ăn
bưởi là 0,4% (3,8% trừ cho 3,4%)
Trong y học, một khác biệt chỉ có 0,4% không thể xem là có ý nghĩa lâm sàng
Trang 10được (Chú ý rằng phần lớn báo chí
đều tường thuật rằng ăn bưởi tăng nguy
cơ ung thư vú 30% Nhưng thông tin này quá sai, vì như tôi vừa trình bày,
mức độ tăng chỉ 0,4% mà thôi.)
Đó là phần kết quả Nhưng kết quả đó
có đáng tin cậy hay không còn là một vấn đề quan trọng khác Nghiên cứu
này có nhiều vấn đề về phương pháp
mà theo tôi có thể làm cho kết quả rất khó diễn dịch Ở đây tôi chỉ nói đến 4 vấn đề nổi cộm sau đây:
Thứ nhất là vấn đề số liệu về ăn uống
bưởi Một câu hỏi rất đơn giản như vừa trình bày rất khó mà nói là chính xác
được Nên nhớ rằng các đối tượng
Trang 11tương đối cao tuổi (tuổi trung bình là 62), vấn đề “hồi tưởng” lại 12 tháng trước ăn uống bao nhiêu gram bưởi
không phải là chuyện dễ dàng Vả lại,
số liệu về ăn uống bưởi chỉ là một loại
“số liệu cắt ngang” (cross-sectional
figure), nó chỉ cung cấp thông tin tại một thời điểm, chứ không phải xuyên suốt thời gian theo dõi Nói cách khác, các nhà nghiên cứu không biết (và
không thể biết) là có bao nhiêu đối
tượng thay đổi thói quen ăn bưởi trong thời gian từ 1993 đến 2002 (thời gian
mà họ theo dõi ai bị ung thư vú) Có bao nhiêu người không ăn bưởi trong thời gian 1992 nhưng sau đó lại ăn
bưởi, hay có bao nhiêu người ăn bưởi trong năm 1992 nhưng sau đó không
Trang 12ăn bưởi hay giảm thói liều lượng ăn
bưởi? Không có những con số này,
không thể nói rằng ăn bưởi có liên
quan đến ung thư vú
Thứ hai là vấn đề chẩn đoán ung thư
vú Trong công trình này, các nhà
nghiên cứu không trực tiếp chẩn đoán ung thư vú; họ chỉ dựa vào số liệu hành chính từ các cơ quan y tế chuyên về
ung thư thuộc bang California và
Hawaii Ai làm nghiên cứu y khoa ở
các nước Âu Mĩ đều biết rằng cơ sở dữ liệu của các cơ quan y tế này nổi tiếng
là không chính xác Có nhiều trường
hợp bệnh nhân mắc ung thư nhưng
không bao giờ báo cáo cho cơ quan y
tế biết Do đó, không ngạc nhiên khi
Trang 13trong vòng 9 năm mà tỉ lệ phát sinh
ung thư vú chỉ 3,6% (tức trung bình
0,4% mỗi năm) Cần biết rằng trong độ tuổi này, tỉ lệ phát sinh ung thư vú
thường khoảng 1% mỗi năm, chứ
không thể quá thấp như trong công
trình nghiên cứu này
Chẩn đoán ung thư vú không đơn giản Mỗi vú có khoảng 15 đến 20 “khu
vực”, gọi là thùy (lobe); mỗi thùy được chia thành nhiều vùng nhỏ, gọi là tiểu thùy (lobules) Thùy và tiểu thùy liên kết với nhau bằng những ống dẫn nhỏ (ducts) Dựa vào cấu trúc này, ung thư
vú được phân thành nhiều loại khác
nhau, chủ yếu là: ung thư ống dẫn sữa
có giới hạn (ductal carcinoma in situ
Trang 14hay còn gọi là DCIS), ung thư ống dẫn sữa lan rộng (invasive ductal cancer), ung thư miu-xin (mucinous carcinoma, một dạng bướu ác tính), và ung thư tiểu thùy lan rộng (invasive lobular
carcinoma, một dạng ung thư thường hiện diện trong hai đầu ống dẫn sữa
hay trong các tiểu thùy) Một số
chuyên gia không xem DCIS là ung
thư vú Trong công trình nghiên cứu
này, chúng ta không biết bệnh nhân
thuộc loại ung thư nào Do đó, số liệu
về ung thư vú rất khó tin được
Thứ ba là vấn đề các yếu tố trung gian
Ung thư vú có nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố nguy cơ Trong các yếu tố nguy cơ đã được chứng minh nhiều lần
Trang 15có liên hệ với ung thư vú là sử dụng
thuốc thay thế hormone (HRT), tuổi có kinh, sắc dân, và hút thuốc lá Các yếu
tố này có thể tương tác với nhóm người
ăn (hay không ăn) bưởi Thật ra, trong phân tích mối tương tác giữa HRT và thói quen ăn bưởi, các nhà nghiên cứu không phát hiện mối liên hệ có ý nghĩa nào giữa ăn bưởi và ung thư vú trong
ba nhóm phụ nữ chưa bao giờ sử dụng HRT, đã từng sử dụng HRT và đang sử dụng HRT
Nhưng họ không phân tích mối tương tác giữa ăn bưởi và tuổi có kinh lần đầu hay sắc tộc Nếu những người ăn bưởi cũng chính là những người có kinh
sớm hay là những người thuộc sắc tộc
Trang 16gốc Á châu, thì kết quả mà các nhà
nghiên cứu thu thập được không phản ảnh ảnh hưởng của bưởi mà chính là
của các yếu tố lâm sàng và nhân trắc
vừa kể Rất tiếc là các nhà nghiên cứu không tìm cách phân tích vấn đề này cho có hệ thống Ngay cả phương pháp phân tích thống kê của họ quá đơn giản
và không thích hợp cho một vấn đề
phức tạp
Thứ tư là vấn đề thống kê và xác suất
Trong nghiên cứu khoa học, cứ mỗi lần nhà nghiên cứu kiểm định một giả
thuyết họ phải chấp nhận một sai lầm 5%, và đúng là 95% Trong trường hợp của nghiên cứu bưởi, điều này có nghĩa
là nếu bưởi thật sự không có liên hệ gì
Trang 17với ung thư thì xác suất mà phương
pháp kiểm định thống kê cho ra kết quả
có ý nghĩa (significant) là 5%, hay nói theo ngôn ngữ chẩn đoán đó là tỉ lệ
dương tính giả 5% Nếu nhà khoa học kiểm định 2 giả thuyết thì xác suất mà
họ sẽ “phát hiện” một giả thuyết có ý nghĩa thống kê là (1 – 0,95 x 0,95) =
0,0975 (gần 10%) Nhưng trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu kiểm định đến 30 giả thuyết liên quan đến bưởi,
Trang 18Để khắc phục tình trạng so sánh đa giả thuyết này (multiple comparisons), các nhà thống kê đề nghị lấy một chuẩn
mực thấp hơn 5% để tuyên bố “có ý
nghĩa thống kê” Chuẩn mực này tùy thuộc vào số lần kiểm định giả thuyết Trong trường hợp nghiên cứu này, trị
số P để nhà nghiên cứu có quyền phát biểu có ý nghĩa thống kê là 0,05 / 30 = 0,0017 (chứ không phải 0,05) Tức là một mối liên hệ trong nghiên cứu phải
có trị số P thấp hơn 0,0017 thì nhà
nghiên cứu mới có thể phát biểu về ý nghĩa thống kê Nhưng điểm qua hai
bảng số liệu 2 và 3 trong bài báo, tôi
không thấy bất cứ phân tích và so sánh nào đạt được chuẩn mực này (<0,0017)
Trang 19cả Điều này rất quan trọng, vì nó cho chúng ta biết tất cả các mối liên hệ hay
so sánh mà nhà nghiên cứu trình bày
trong bài báo đều không có ý nghĩa
thống kê Nói cụ thể hơn, không có
bằng chứng thống kê nào cho thấy bưởi
có liên hệ đến ung thư vú
Sau cùng, một điều quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây là nghiên cứu này
không cho phép bất cứ ai phát biểu gì
về mối liên hệ nhân quả giữa bưởi và ung thư vú Bởi vì đây là một công
trình khoa học theo mô hình nghiên
cứu quan sát (observational study) chứ không phải nghiên cứu lâm sàng đối
chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trial), cho nên kết quả chỉ có giá trị
Trang 20khoa học trung bình và chỉ gợi ý, chứ không thể nói bưởi là nguyên nhân gây ung thư vú Ngoài ra, như tôi vừa trình bày những vấn đề về phương pháp rất nghiêm trọng không thể kết luận gì về kết quả này
Nói về những sai lầm của các nghiên cứu quan sát, tưởng cần nhắc lại một sai lầm mang tính kinh điển trong y
khoa: đó là công trình nghiên cứu của Cameron và Pauling (Tiến sĩ Linus
Pauling là người từng chiếm giải Nobel hóa học năm 1954 và giải Nobel hòa bình năm 1962 do chống lại vụ thử
nghiệm vũ khí nguyên tử] Năm 1976, Cameron và Pauling công bố một
nghiên cứu về mối vitamin C và ung
Trang 21thư, mà theo đó họ kết luận rằng bổ
sung vitamin C cho các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối có thể kéo dài thời gian sống đến 4 lần so với nhóm không dùng vitamin C [8] Nhưng sau đó, một công trình nghiên cứu lâm sàng đối
chứng ngẫu nhiên (một mô hình nghiên cứu mang tính tiêu chuẩn vàng trong y khoa) ở Mayo Clinic hoàn toàn bác bỏ kết quả của Cameron và Pauling: bổ
sung vitamin C không kéo dài thời gian sống các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối [9] Tại sao Cameron và Pauling sai lầm nghiêm trọng như thế? Câu trả lời là họ dựa vào mô hình nghiên cứu quan sát và dù cẩn thận trong việc chọn nhóm, nhưng họ không chọn một cách ngẫu nhiên để quân bình các yếu tố
Trang 22trung gian Đây là một sai lầm thuộc vào loại kinh điển trong nghiên cứu y khoa thường được đem ra làm ví dụ
cho sinh viên
Nói tóm lại, các vấn đề trên đây cho thấy kết quả của công trình nghiên cứu này không có giá trị khoa học cao, và cũng không đáng tin cậy Nếu kết quả của công trình nghiên cứu này gợi một
ý nào đó, thì tôi cho rằng ý đó là ăn
bưởi không có liên hệ gì với ung thư
vú
Cần nói thêm rằng một nghiên cứu
khác do các nhà khoa học thuộc Đại học Chicago (công bố chỉ 1 tuần sau nghiên cứu của Đại học Nam
Trang 23California) cho thấy bưởi có tác dụng phòng chống ung thư Trong nghiên
cứu này, các bác sĩ cho biết các bệnh nhân dùng thuốc lapatinib (một loại
thuốc dùng điều trị ung thư vú) cùng với bưởi có lợi ích gấp 5 lần so với
bệnh nhân chỉ dùng thuốc Họ giải
thích rằng nước bưởi có tác dụng gia tăng chuyển hóa thuốc trong cơ thể
Năm 1997, một nhóm khoa học thuộc Đại học Western o ntario (Canada)
công bố kết quả cho thấy nước cam và nước bưởi có khả năng ức chế sự tăng trưởng của các tế bào ung thư vú và
giảm LDL cholesterol (tức loại
cholesterol xấu) trong máu [10-11]
Các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng “vũ khí” phòng chống ung thư vú nằm
Trang 24trong tầm tay của chúng ta: trái bưởi và cam!
Để nhắc lại và nhấn mạnh một lần nữa: bưởi không gây ung thư vú Ngược lại, nếu ăn bưởi điều độ và tránh can thiệp với thuốc, bưởi có lợi cho sứck khỏe