III. Các trách nhiệm chủ yếu của người chuyên chở trong hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển
2. Mức bồi thường tối đa của người chuyên chở , còn gọi là giới hạn trách nhiệm (Limitation of Liability)
Nếu hàng đã kê khai giá trị và ghi vào vận đơn thì giới hạn bồi thường tổn thất tối đa, chính là giá trị đã kê khai. Tuy nhiên, lời khai không có giá trị ràng buộc và không có tính chất quyết định. Nếu người chuyên chở chứng minh được rằng, giá trị kê khai lớn hơn giá trị thực tế thì thanh toán theo giá trị thực tế . Ngoài ra, Người chuyên chở, Thuyền trưởng hay đại lý của người chuyên chở và Người gửi hàng có thể thoả thuận với nhau một số tiền tối đa, khác với số tiền quy định trong luật qui định, miễn là số tiền tối đa thoả thuận nay không được thấp hơn số tiền nói trên .
Trong bất kỳ trường hợp nào, người chuyên chở và tàu cũng không chịu trách nhiệm về mất mát, hay hư hỏng hàng hoá nếu người gửi hàng cố tình, kê khai sai tính chất hoặc giá trị hàng hoá đó trên vận đơn .
Đối với hàng chuyên chở không kê khai giá trị, giới hạn bồi thường tối đa chính là mức quy định ghi trong luật điều chỉnh hợp đồng. Người chuyên chở không bồi thường vượt quá 100 Bảng Anh cho một kiện hay một đơn vị hàng hoá (Quy tắc Hague 1924). 10.000 Ffr vàng cho một kiện hay một đơn vị hàng hoá hoặc 30 Ffr vàng cho 1 kg hàng hoá tuỳ chủ hàng chọn (Quy tắc Hague – Visby 1968), 835 SDR cho một kiện hàng hay 2,5 SDR cho 1kg hàng tuỳ chủ hàng chọn (Quy tắc Hamburg 1978) . Trong thực tế, có nhiều loại hàng rất khó kê khai chính xác, hoặc chủ hàng muốn giấu số hàng của họ, nên nhiều khi người chuyên chở khó biết được trị giá chính thức của lô hàng mình chở hoặc có khi biết người chuyên chở cũng không thừa nhận là biết, để ghi dự kháng trên vận đơn để dễ bề từ chối trách nhiệm sau này .
Khi bồi thường, người ta thường bồi thường theo kiện, nếu là hàng hoá đóng gói bao bì, còn bồi thường cho những loại hàng hoá không có bao bì, thì dùng đơn vị tính cước để tính bồi thường. Ví dụ: Cước tính theo tấn thì bồi thường theo tấn .
2.1 Quy tắc Hague 1924 : quy định giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở hàng hoá là 100 GBP/kiện, hoặc đơn vị hàng hoá chuyên chở. Giới hạn này quá thấp do đồng tiền GBP lúc ra đời Quy tắc được bảo đảm bằng vàng và chưa lạm phát như ngày nay, nên khi áp dụng Quy tắc các nước thường nâng cao mức trách nhiệm lên thành 200 GBP/kiện ở Anh, hay 500 USD/ kiện ở Mỹ Lần sửa đổi năm 1968 Quy tắc Hague – Visby 1968 có mức giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở là 10.000 Ffr vàng /kiện hoặc 1 đơn vị chuyên chở hay 30 Ffr vàng cho 1kg hàng hoá cả bì bị tổn thất tuỳ theo cách tính nào cao hơn (Lần sửa đổi năm 1979 giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở được tính bằng đồng SDR cụ thể là 666,67 SDR / kiện hoặc đơn vị chuyên chở hay 2 SDR/ Kg hàng hoá cả bì bị tổn thất tuỳ theo cách tính nào cao hơn).
2.2 Quy tắc Hamburg 1978: Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở một lần nữa lại được nâng cao thêm, cụ thể là : 835 SDR/ kiện hay 2,5 SDR/ kg hàng hoá cả bì bị tổn thất, đối với những nước không sử dụng SDR thì có thể dùng một giới hạn trách nhiệm khác là 12.500 đơn vị tiền tệ / kiện hay 37,5 đơn vị tiền tệ/1kg hàng hoá cả bì bị tổn thất tuỳ theo cách tính nào cao hơn (Các đơn vị tiền tệ này cũng phải có hàm lượng vàng tương 65,5 mg vàng 90% Au) - Quy tắc Hamburg 1978 còn quy định giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở trong trường hợp giao hàng chậm . Cụ thể là người chuyên chở phải bồi thường 2,5 lần tiền cước của hàng hoá bị giao chậm, nhưng không vượt quá tổng số tiền cước của hợp đồng .
2.3 Luật hàng hải Việt nam :
Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở là mức cao nhất mà người chuyên chở, phải bồi thường cho một đơn vị chuyên chở khi hàng hoá không khai báo trị giá vào B/L là:
+10.000 Franc vàng/ kiện hoặc 30 Franc vàng tuỳ chọn, tiền bồi thường tính theo tỷ giá ngân hàng nhà nước Việt nam, công bố vào thời điểm thanh toán bồi thường . Ở đây nảy sinh vấn đề, giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở theo luật hàng hải Việt nam không khả thi, vì tỷ giá giữa đồng FFr vàng và đồng Việt nam chưa từng được công bố lần nào, kể từ khi bộ luật hàng hải Việt Nam được thông qua vào ngày 12/7/1990. Vấn đề đặt ra là ngân hàng nhà nước Việt Nam sớm công bố tỷ giá này, để các phán quyết của trọng tài xử theo luật Việt Nam có tính khả thi, hoặc phải mau chóng sửa đổi luật, tránh việc quy định các điều khoản không thi hành được.
+ Nếu khai báo chủng loại và giá trị hàng hoá trước khi bốc hàng và người chuyên chở chấp nhận ghi vào vận đơn, giấy gửi hàng, hoặc các chứng từ vận tải tương đương thì người chuyên chở chịu trách nhiệm bồi thường theo giá trị theo nguyên tắc bồi thường bằng tiền . Đối với hàng hoá bị mất 100% trị giá khai báo, đối với hàng hoá hư hỏng thì bồi thường bằng mức chênh lệch giữa trị khai báo và giá trị còn lại (Giá trị hàng hoá còn lại xác định theo cơ sở giá thị trường ở nơi và thời điểm dỡ hàng hoặc lẽ ra phải dỡ hàng, nếu không xác định được thì tính trên cơ sở giá thị trường nơi và thời điểm bốc hàng cộng thêm chi phí vận chuyển đến cảng dỡ)
B/ Các nghĩa vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người thuê chở trong hợp đồng chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển
I . Các nghĩa vụ chính :
- Nghĩa vụ cung cấp hàng : Người thuê chở phải cung cấp hàng đúng như trong hợp đồng chuyên chở đã ký hoặc đơn lưu khoang gồm : Đúng chủng loại hàng, muốn thay đổi hàng phải báo trước cho người chuyên chở và phải được người chuyên chở đồng ý (Trừ trường hợp đã có thoả thuận trước trong hợp đồng ) Đủ số lượng, trọng lượng, nếu thiếu thì người thuê chở phải chịu cước khống.
Đúng thời gian và địa điểm : Khi tàu đã đến cảng bốc hàng đúng thời hạn mà
người thuê chở chậm cung cấp hàng, thì người chuyên chở có quyền không chờ đợi và đòi bồi thường thiệt hại phát sinh .
+ Lưu ý : Nếu hàng cần đóng gói, thì phải đóng gói bằng bao bì phù hợp, sao cho thuyền trưởng không từ chối nhận hàng, hoặc nhận hàng mà không ghi bất cứ bảo lưu về bao bì nào trên vận đơn . Ngoài ra người thuê chở còn phải ghi ký mã hiệu rõ ràng trên kiện hàng , phải khai báo tính chất của hàng hoá.
- Nghĩa vụ thu xếp cầu bến cho tàu vào làm hàng nếu hợp đồng không quy định người thuê chở làm việc này (đây là nghĩa vụ đương nhiên của người thuê tàu, thường không ghi vào hợp đồng, là một loại tập quán hàng hải )
- Nghĩa vụ trả tiền cước phí vận chuyển : Người thuê chở phải trả tiền cước đầy đủ, đúng thời gian, địa điểm, bằng đồng tiền, phương thức thanh toán do hai bên thoả thuận. Tiền cước tàu chợ bao gồm cả chi phí bốc và dỡ hàng, tiền cước tàu chuyến thì tuỳ theo thoả thuận trong hợp đồng thuê tàu chuyến . Tiền cước có thể trả bằng hai cách là trả trước (Freight prepaid) hoặc trả sau (Freight to collect).
Nếu người thuê chở trả chậm, trả thiếu hoặc không trả tiền cước, thì người chuyên chở có quyền cầm giữ hàng trong một khoảng thời gian hợp lý, để đòi tiền nợ cước . Sau khoảng thời gian hợp lý đó, người thuê chở vẫn không trả thì người chuyên chở có quyền xin lệnh toà án về việc thanh lý, bán hàng để thu hồi tiền cước phí .
- Nghĩa vụ bốc, dỡ, san xếp hàng hóa nếu hợp đồng thuê tàu chuyến quy định.
Nếu hợp đồng thuê tàu chuyến không đề cập đến chi phí bốc, dỡ, san, xếp thì ngươì thuê chở phải tiến hành bốc dỡ san xếp và chịu chi phí và rủi ro về việc này (Hiện các hợp đồng mẫu GENCON thường áp dụng điều kiện FIOST).
II/ Các quyền hạn chủ yếu của người thuê chở :
- Người thuê chở có quyền đòi tiền phạt, tiền chi phí tổn thất, mất mát thiệt hại đến với hàng hoá do việc người chuyên chở cung cấp một con tàu không đúng như trong hợp đồng, không đủ khả năng đi biển …. Người thuê chở có quyền huỷ hợp đồng và đòi tiền phạt nếu người chuyên chở không cung cấp tàu, hoặc cung cấp con tàu không đúng như trong hợp đồng.
Quyền khiếu nại, kiện của người thuê chở : Người thuê chở khi nhận hàng nhận thấy hàng hoá có tổn thất hoặc nghi ngờ tổn thất có quyền bảo lưu quyền khiếu nại và kiện của mình với điều kiện đúng các thủ tục như sau:
i) Thông báo tổn thất : Đây là một thông báo bằng văn bản của người nhận hàng, nói rõ tình trạng tổn thất của hàng hoá và gửi cho người chuyên chở trong thời hạn quy định, để bảo lưu quyền khiếu nại đòi bồi thường sau này. Nếu không thông báo, sẽ suy đoán rằng người chuyên chở đã giao hàng trong điều kiện tốt ( Đã giao hàng đúng như đã mô tả trong vận đơn ) và người chuyên chở hết trách nhiệm đối với hàng hoá
Cách thông báo :
+ Đối với tổn thất rõ rệt : Khi nhận thấy hàng hoá bị tổn thất rõ rệt (Có thể nhìn thấy bằng mắt thường) như đổ vỡ, bao bì rách, ướt ....người nhận hàng phải gửi thông báo bằng văn bản về những mất mát, hay hư hỏng và tính chất chung của những mất mát hay hư hỏng ấy cho người chuyên chở hay đại lý của người chuyên chở tại cảng dỡ hàng, trước hoặc vào lúc trao hàng cho người nhận (Quy tắc Hague 1924), hoặc không muộn hơn ngày làm việc sau ngày hàng được giao cho người nhận hàng tại cảng đích (Quy tắc Hamburg 1978). Trong trường hợp này tốt nhất là lập được "Biên bản hàng đổ vỡ hư hỏng " (Cargo outurn report) . Biên bản phải nói rõ về tình trạng của hàng hoá và phải được thuyền trưởng ký xác nhận, là hàng hoá bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển . Nếu thuyền trưởng từ chối không ký vào biên bản, thì phải mời cơ quan giám định đến lập biên bản giám định ngay .
+ Đối với tổn thất không rõ rệt : Là những tổn thất không phát hiện được bằng mắt thường, hay nghi ngờ hàng hoá bị tổn thất bên trong như, hàng bị rút ruột hoặc bị tổn thất rõ rệt nhưng không lập được " Biên bản hàng đổ vỡ hư hỏng”.Trong trường hợp này, người nhận hàng phải gửi "Thư dự kháng" cho thuyền trưởng hoặc cơ quan đại lý tàu trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày giao xong hàng ở cảng đích (Quy tắc Hague 1924), hoặc 15 ngày liên tục kể từ ngày giao xong hàng tại cảng đích (Quy tắc Hamburg 1978). Chủ hàng, sau khi gửi thư dự kháng thì mời cơ
quan giám định độc lập đến, giám định tổn thất và lập biên bản. Nếu không làm thư dự kháng trong thời hạn trên, sau này hàng có tổn thất gì thì chủ hàng cũng mất quyền khiếu nại đối với người chuyên chở . Thư dự kháng, phải làm cụ thể ghi rõ ngày cấp vận đơn , tên tàu , tên hàng, ngày nhận hàng, số lượng hàng ước tính bị tổn thất, mức độ tổn thất ước tính, trách nhiệm đối với tổn thất,.... Thư dự kháng có thể làm bằng một thư riêng, hay ghi ngay trên vận đơn khi nộp vận đơn đó cho tàu để lấy hàng .
Về địa điểm phát hiện tổn thất : Phải phát hiện và yêu cầu giám định những kiện hàng nào mà bao bì có dấu hiệu hư hại rõ ràng, ngay khi hàng còn ở trên tàu, có như thế mới chứng minh được là hàng bị hư hại khi còn ở trên tàu . Nếu đem vào cảng rồi mới phát hiện thì sẽ lẫn lộn với hư hại xảy ra ở cảng, do đó tàu có thể từ chối trách nhiệm. Đối với hư hại khó nhìn thấy thì có thể phát hiện ở kho cảng.
Nhưng dù là hư hại rõ rệt hay không thì việc chứng nhận tỷ lệ tổn thất cũng phải làm tại kho bãi cảng, nếu đã đem ra khỏi nơi đó thì khó đòi được bồi thường với tàu .
Như đã nói, khi phát hiện tổn thất, chủ hàng cùng các bên có liên quan : Đại diện người chuyên chở, đại diện kho cảng, đại diện cơ quan giám định cùng lập tài liệu để chứng minh như "Biên bản hàng đổ vỡ hư hỏng" (COR) "Giấy chứng nhận hàng thiếu" (Certificate of shortland cargo) " Biên bản kết toán nhận hàng với tàu"
(Report on receipt of cargo - ROROC) . Nếu trên các biên bản giám định này đã có ghi rõ tổn thất hư hại của hàng hóa và đã được đại diện người chuyên chở xác nhận thì không cần lập thư dự kháng . Nhưng nếu đại diện người chuyên chở hay thuyền trưởng không chịu xác nhận thì phải lập ngay thư dự kháng .
Đại diện người chuyên chở bắt buộc phải nhận thư dự kháng. Tuy nhiên, thuyền trưởng hay đại diện người chuyên chở có quyền ghi chú trên thư dự kháng, để tránh trách nhiệm sau này. Ghi chú là một hình thức chống thư dự kháng. Người chuyên chở có nghĩa vụ đưa ra bằng chứng để chứng minh cho việc chống dự kháng của mình . Ví dụ : Ghi chú trên thư dự kháng là " Hàng bị ướt do gặp bão
dọc đường" lúc này tàu phải đưa ra sổ nhật ký hàng hải (Log book) trong đó có ghi sự kiện gặp bão để chứng minh cho lời khai của mình. Nếu không chứng minh được, người chuyên chở phải chịu trách nhiệm bồi thường cho tổn thất hàng hoá và còn có thể phải chịu phạt vì hành vi man trá . ii) Thời hiệu tố tụng : Quy tắc Hague 1924 quy định thời hiệu tố tụng là 1 năm, kể từ ngay giao hàng tại cảng dỡ hàng, hoặc từ ngày đáng lẽ phải giao hàng (Nếu hàng mất tích). Quy tắc Hamburg 1978 quy định thời hiệu tố tụng 2 năm kể từ ngày giao xong hàng tại cảng đích hoặc từ ngày đáng lẽ phải giao hàng (nếu hàng mất tích).
Nếu gặp trường hợp bất khả kháng, khiến chủ hàng không thể khiếu nại đòi bồi thường được, việc khiếu nại được kéo dài thêm theo thời gian xảy ra bất khả kháng. Nêú người chuyên chở đã công nhận tổn thất hàng hoá và đồng ý bồi thường, hoặc có tổn thất chung chờ phân chia trách nhiệm về tổn thất chung thì người ta sử dụng luật dân sự để áp dụng cho thời hiệu khiếu nại tố tụng (Ví dụ : Luật Anh 6 năm , luật Pháp 30 năm ) .
- Người thuê chở có quyền đòi tiền thưởng nếu họ bốc dỡ hàng hoá sớm hơn thời hạn và hợp đồng quy định thưởng phạt xếp dỡ .
III / Các trách nhiệm chủ yếu của người thuê chở
- Người thuê chở có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người chuyên chở nếu không cung cấp hàng, hoặc cung cấp hàng thiếu, cung cấp hàng chậm dẫn đến huỷ hợp đồng . Người thuê chở phải trả các khoản tiền người chuyên chở đòi, như tiền phạt huỷ hợp đồng, tiền chi phí tăng, do phải neo đậu lâu, lương cho thuỷ thủ thuyền viên, tiền dầu chạy máy cho những ngày đó, tiền phạt do bốc dỡ chậm, tiền cước khống do thiếu hàng…
- Người thuê chở cũng phải bồi thường các thiệt hại, do người làm công của người thuê chở, gây nên cho tàu khi bốc xếp hàng hoá.
- Trả các loại tiền phạt, chi phí khác thuộc về mình hoặc thuộc về lỗi của
mình .
- Người thuê chở phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại do lỗi của mình và người làm công cho mình như : Ghi ký mã hiệu hàng hoá không thích hợp hoặc sai…
C/ Căn cứ miễn trách nhiệm của người chuyên chở . I . Theo công ước Bruxell 1924
Điều 4 Công ước Bruxell 1924 quy định những trường hợp, những nguyên nhân mà người chuyên chở được miễn trách nhiệm đối với hư hỏng, mất mát của hàng hoá ( Gồm 17 miễn trách )
Người chuyên chở và tàu không chịu trách nhiệm về sự mất mát hư hỏng của hàng hoá do tàu không đủ khả năng đi biển, trừ khi tình trạng đó do thiếu sự cần mẫn hợp lý của người chuyên chở trước và lúc bắt đầu hành trình để làm cho tàu có đủ khả năng đi biển .
Người chuyên chở và tàu không chịu trách nhiệm về những mất mát hư hỏng của hàng hóa phát sinh và gây bởi :
- Hành vi, sơ suất hay khuyết điểm của thuyền trưởng, thuỷ thủ, hoa tiêu hay người làm công cho người chuyên chở, trong việc điều khiển hay quản trị tàu .
- Cháy, trừ khi do lỗi lầm thực sự hay hành động cố ý của người chuyên chở gây ra
- Những tai hoạ, nguy hiểm hoặc tai nạn trên biển hay sông nước - Thiên tai .
- Hành động chiến tranh - Hành động thù địch
- Bắt giữ hay kiềm chế của vua chúa, chính quyền hay nhân dân hoặc bị tịch thu theo pháp luật
- Hạn chế vì kiểm dịch
- Hành vi hay thiếu sót của người gửi hàng hay chủ hàng của đại lý hay đại diện của họ