Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Truyền thống văn hóa Việt Nam là một cơ sở rất mạnh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.. 54 dân tộc và các vùng miền khác nhau vớinhững nét đặc trư
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TIẾNG ANH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH BÀI THUYẾT TRÌNH GIỮA KỲ
Chủ đề 4: Nội dung quan niệm của Hồ Chí Minh về tính chất, chức năng của
nền văn hoá mới, mối quan hệ của văn hoá với các lĩnh vực khác của xã hội.
Giá trị, ý nghĩa Một số vấn đề đặt ra với văn hoá Việt Nam hiện nay và việc vận
dụng phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng nền văn hoá Việt Nam
hiện nay như thế nào?
Giảng viên hướng dẫn: PGS TS Trần Thị Hạnh
Lớp học phần: TTHCM-NNA49.10_LT Nhóm sinh viênthực hiện: Nhóm 2
Hà Nội, tháng 04 năm 2024
MỤC LỤC
I CƠ SỞ, NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
VĂN HÓA
Trang 21 Cơ sở lý luận
1.1 Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
1.3 Chủ nghĩa Marx - Lenin
2 Cơ sở thực tiễn: Xét theo bối cảnh gia đình
II QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN VĂN HÓA MỚI
1 Định nghĩa “văn hóa” theo tư tưởng Hồ Chí Minh
2 Tính chất của nền văn hóa mới
2.1 Tính dân tộc của văn hoá
2.2 Tính khoa học của văn hóa
2.3 Tính đại chúng của văn hóa
3 Chức năng của nền văn hóa mới
3.1 Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp
3.2 Nâng cao dân trí
3.3 Bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp
4 Mối quan hệ của văn hóa với các lĩnh vực khác của xã hội
4.1 Văn hoá quan trọng ngang chính trị, kinh tế, xã hội
4.2 Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng
4.3 Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa
4.4 Văn hóa phải ở trong kinh tế và chính trị, phục vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế
III GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA
1 Giá trị lý luận
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trở thành chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta về văn hóa
2 Giá trị thực tiễn
2.1 Đề cao vai trò trung tâm của con người trong quá trình phát triển văn hóa
2.2 Thúc đẩy cuộc cách mạng trên lĩnh vực văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành với hàng loạt chủ trương và biện pháp đã góp phần động viên tinh thần kháng chiến, kiến quốc
IV VIỆC VẬN DỤNG PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Một số vấn đề đặt ra với văn hoá Việt Nam hiện nay
1.1 Bối cảnh hiện nay
Trang 31.2 Bối cảnh văn hóa hiện nay so với thời kỳ của Hồ Chí Minh
2 Xây dựng, giữ gìn và phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
2.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước
2.2 Thực hiện chủ trương đối với người VN trong nước
2.3 Thực hiện chủ trương đối với người VN ở nước ngoài
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4I CƠ SỞ, NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA
1 Cơ sở lý luận
1.1 Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Truyền thống văn hóa Việt Nam là một cơ sở rất mạnh trong tư tưởng văn hóa
Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết các tinh hoa văn hóa dân tộc vànhân loại để hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
1.1.1 Truyền thống yêu nước (Chủ nghĩa yêu nước)
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước sâu sắc, được thể hiện qua lòngyêu quê hương, tình cảm gắn bó với đất nước và ý thức cố kết cộng đồng dân tộc.Dân tộc ta có truyền thống chiến đấu bất khuất chống lại các thế lực xâm lược
từ thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc Các cuộc kháng chiến như kháng chiến chống quânTống (981 - 1009), kháng chiến chống quân Mông Cổ (1257 - 1288), và khángchiến chống quân Nguyên (1288 - 1428) đã chứng tỏ lòng yêu nước và sự kiêncường của người Việt Nam trong bảo vệ đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và khẳng định tình yêu nước này trong tư tưởng của mình, coi đó là một nguồn cảm hứng và động lực để đấu tranh cho độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam.
Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành sức mạnh truyền thống, đạo lý làm người,niềm tự hào và là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt
Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó
là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.”1
1.1.2 Văn hóa Việt Nam có lịch sử lâu đời và giàu bản sắc dân tộc
Văn hóa Việt Nam có một lịch sử kéo dài hàng ngàn năm, bắt đầu từ thời kỳtiền sử với các văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh Qua các thời kỳ lịch sử, văn hóaViệt Nam đã phát triển và hòa trộn với các yếu tố văn hóa của các nền văn minhkhác nhau như Trung Quốc, Ấn Độ, Champa, các quốc gia phương Đông vàphương Tây,
Với lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời, văn hóa Việt Nam có bản sắcriêng, phản ánh tinh thần và truyền thống của người Việt Điều này được thể hiệnqua các giá trị nhân văn, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, truyền thống và các nghệ
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr.38
Trang 5thuật truyền thống như hát chèo, hát xẩm, múa rối nước, đàn bầu và nhiều hìnhthức nghệ thuật khác Việt Nam có sự đa dạng về ngôn ngữ, trang phục, ẩm thực,nghệ thuật, kiến trúc và tín ngưỡng 54 dân tộc và các vùng miền khác nhau vớinhững nét đặc trưng riêng đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của văn hóa ViệtNam.
Tư tưởng về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu những tinh hoa trong văn hóa Việt Nam và thế giới, từ đó tạo nên sự kết hợp độc đáo giữa việc
kế thừa và phát triển giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc tôn trọng và bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc làmột phần không thể thiếu trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Báckhuyến khích việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thốngcủa dân tộc Việt Nam
Người không chỉ quan tâm đến văn hóa dân tộc mà còn đề cao việc tiếp thu vàhòa nhập với văn hóa nhân loại Hồ Chí Minh coi đây là một yếu tố quan trọng đểphát triển, nâng cao tầm vóc của văn hóa Việt Nam và khuyến khích việc học hỏi,trao đổi, hòa nhập với các nền văn hóa khác nhau trên thế giới
Đồng thời, Bác luôn coi trọng sự đoàn kết và đa dạng văn hóa, khuyến khíchviệc tạo điều kiện cho các dân tộc, tôn giáo và tầng lớp khác nhau cùng tồn tại vàphát triển trong sự đoàn kết và hòa bình Bác coi đây là yếu tố cần thiết để xâydựng một xã hội công bằng và tiến bộ
1.1.3 Giá trị cộng đồng, tinh thần cộng đồng, tính cộng đồng rất cao
Truyền thống về tính cộng đồng của người Việt đã tồn tại từ lâu đời và là mộtphần quan trọng trong văn hóa và tinh thần của người Việt Nam Tính cộng đồngcủa người Việt được thể hiện qua sự đoàn kết, sẻ chia và giúp đỡ lẫn nhau trongcuộc sống hàng ngày
Có thể kể đến một số câu tục ngữ:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.”
“Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.”
Tính cộng đồng của người Việt Nam được thể hiện qua sự đoàn kết của làng
xã, nơi mọi người cùng nhau làm việc, chia sẻ khó khăn và hưởng thụ thành công.Trong làng xã, người Việt thường tổ chức các hoạt động cộng đồng như lễ hội, họpmặt, và các hoạt động văn hóa, thể thao để tạo sự gắn kết và tương tác giữa cácthành viên trong cộng đồng
Điều đó còn được thể hiện qua truyền thống giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau trongcuộc sống hàng ngày, khi mọi người sẵn lòng giúp đỡ những người khó khăn hơnmình và chia sẻ những gánh nặng của cuộc sống
Trang 6Bên cạnh đó, đất nước ta luôn đối mặt với các mối đe dọa từ thiên tai, dịchbệnh và nguy cơ diệt chủng đồng hóa từ các thế lực bên ngoài Vì vậy mỗi cá nhânkhông thể sống tách biệt mà phải cùng có chung tinh thần yêu nước, quý trọng và
cố kết với nhau
Hồ Chí Minh đề cao giá trị và tính cộng đồng của người Việt Nam, là phảisống với nhau có tình, có nghĩa
1.1.4 Tinh thần nhân nghĩa
Gia đình là trung tâm của cuộc sống và tình nghĩa gia đình là một giá trị quantrọng trong văn hóa Việt Nam Người Việt thường có tình cảm sâu sắc và tráchnhiệm đối với gia đình, và luôn sẵn lòng giúp đỡ và chăm sóc nhau
Tinh thần tương thân tương ái là một giá trị truyền thống của người ViệtNam Người Việt thường có lòng trắc ẩn và sẵn lòng giúp đỡ người khác trongcộng đồng, đặc biệt là những người gặp khó khăn và bất hạnh
Người Việt Nam có truyền thống đoàn kết và đồng lòng trong cuộc sống vàcông việc Tinh thần này được thể hiện qua việc làm việc nhóm, hỗ trợ lẫn nhau vàđoàn kết trong các hoạt động xã hội và chính trị
Trong bản di chúc, Người viết:
“Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!”2
Hồ Chí Minh coi tinh thần nhân nghĩa là một trong những nét đặc trưng của dân tộc Việt Nam Bác đã kế thừa và phát huy sức mạnh của tinh thần nhân nghĩa trong việc xây dựng và phát triển văn hóa; nhấn mạnh tình nghĩa đồng bào, đồng chí và tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà.
1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
1.2.1 Văn hóa phương Đông
Nền văn hóa Việt Nam phát triển giữa hai nền văn hóa lớn của Phương Đông
là Ấn Độ và Trung Quốc
Phật giáo và Nho giáo được truyền vào Việt Nam và dần trở thành hệ tưtưởng chính trong nền văn hóa và được giới trí thức Việt Nam vận dụng để gópphần ổn định trật tự xã hội, bảo vệ sự toàn vẹn của Tổ quốc
Trong những năm thơ ấu, Hồ Chí Minh đã được nuôi dưỡng theo truyềnthống tốt đẹp đó Người được giảng dạy về những sách kinh điển của Khổng giáo;được nghe cha và bạn của cha bàn luận về những tư tưởng triết học và từ đó hìnhthành những nhận định sâu sắc về Phật giáo và Khổng giáo
2 Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1969
Trang 7Về Nho giáo, tư tưởng này đề cao hai yếu tố là hiếu và lễ.
Hiếu bao gồm hiếu học, học không biết mỏi, mệt, học suốt đời Nho giáo đềcao việc giáo dục, các nhà Nho đều quan niệm giáo dục là biện pháp để hướng conngười tới những phẩm chất cao quý như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Đó là những giá trịchuẩn mực của con người trong xã hội phong kiến Giáo dục là cần thiết cho tất cảmọi người nên ai cũng có cơ hội được học tập
Hồ Chí Minh tiếp thu và có tinh thần hiếu học rất cao Suốt cuộc đời người học không ngừng nghỉ Có lần nói chuyện với thanh niên, Bác cho biết: “
Để học được ngoại ngữ, Bác phải kiên trì mỗi ngày học thuộc mười từ, học ở mọi nơi, mọi lúc cho kỳ thuộc, có khi viết các từ đó lên cánh tay để vừa làm vừa nhìn vào đó cho nhớ Hôm sau lại học mười từ khác, cứ thế mà tích lũy dần như ta bỏ tiền tiết kiệm hằng ngày vào ống.”
Lễ là văn hóa, lễ nghi, chuẩn mực Nho giáo rất xem trọng lễ nghi vì nó làbiểu hiện của một xã hội văn minh và có trật tự “Lễ” là những quy tắc mang tínhhình thức được xã hội thừa nhận để bày tỏ sự tôn trọng đối với người khác, vớicộng đồng hoặc với những định chế xã hội và để nhận được sự tôn trọng của xãhội Việc giữ lễ là một cách tu thân và chứng tỏ con người biết tuân thủ nhữngnguyên tắc đạo đức trong quan hệ với người xung quanh
Khổng Tử nói: “Cung kính mà không có lễ thì nhọc nhằn; thận trọng mà
không có lễ thì sợ hãi; mạnh mẽ mà không có lễ thì rối loạn; ngay thẳng mà không
có lễ thì khắc nghiệt.”3 Trước khi chết, Tăng Tử dặn dò học trò: “Bậc quân tử yêu
quý đạo đức có ba điều: dáng vẻ cử chỉ lánh xa sự tàn bạo, khinh nhờn; sắc mặt chính đáng gần gũi niềm tin; nói ra thì lánh xa sự thô bỉ, phản nghịch.”4
Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của đạo đức Nho giáo, như lòng biết
ơn, lòng nhân ái, lòng trung thành, lòng hiếu thảo và lòng nhân từ Bác coi đạo đức là một yếu tố quan trọng trong xây dựng một xã hội công bằng và phát triển.
Nho giáo cũng đặc biệt đề cao nhân nghĩa Khổng Tử từng nói: “Người quân
tử đối với mọi việc trên thế gian, không nhất định phải làm việc này hoặc không làm việc kia, mà xem việc đó có hợp nghĩa hay không, nếu hợp nghĩa thì làm.” Ông
cũng cho rằng “Nhìn thấy việc chính nghĩa không dám làm, là không có dũng khí.
” Tinh thần trọng nghĩa khinh tài của Nho giáo được thể hiện trong câu nói của
Khổng Tử “Người quân tử chỉ biết điều nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết điều lợi.”
3 Lý Minh Tuấn (2017), Tứ thư bình giải, Nxb Tôn giáo, VIII.2a, tr.185
4 Lý Minh Tuấn, Sđd, VIII.4, tr.187
Trang 8Hồ Chí Minh đặc biệt tiếp thu tư tưởng ấy và quan niệm rằng: “Người cách mạng phải hy sinh phấn đấu quên mình vì Đảng, vì nhân dân, đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân mình, không ham giàu sang, không sợ khổ cực, không sợ oai quyền, không sợ phê bình và phê bình người khác phải đúng đắn.”; “phải thương yêu cấp dưới, đồng cam cộng khổ với họ Đối với quân địch hàng, ta phải khoan dung”.
1.2.2 Văn hóa phương Tây
Qua 10 năm sống ở Kinh đô Huế và 3 năm theo học ở trường tiểu học Pháp,
Hồ Chí Minh đã có dịp tiếp xúc với nền văn hóa mới, đọc một số sách của phương
Tây Với khả năng nói nhiều ngôn ngữ trên thế giới (28 ngôn ngữ), Hồ Chí Minh
có thể đọc được các tác phẩm của trên thế giới như: Shakespeare, Dickens, LỗTấn, Hugo, Zola,
Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành được tiếpxúc nhiều với sách báo Pháp Các thầy giáo của Trường Quốc học Huế có ngườiPháp và cả người Việt Nam, cũng có những người yêu nước như thầy HoàngThông, thầy Lê Văn Miến Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước vàsách báo tiến bộ mà anh được tiếp xúc, ý muốn đi sang phương Tây tìm hiểu tìnhhình các nước và học hỏi những thành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớndần trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành
Khoảng tháng 9/1905, Nguyễn Tất Thành và anh trai là Nguyễn Tất Đạtđược cha xin cho theo học lớp dự bị Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố
Vinh Tại đây, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành nhìn thấy dòng chữ “LIBERTÉ,
ÉGALITÉ, FRATERNITÉ” (Tự do - Bình đẳng - Bác ái) Nguyễn Tất Thành tìm
hiểu và biết đó là khẩu hiệu nổi tiếng của Đại Cách mạng Pháp năm 1789 Đối vớiNguyễn Tất Thành, đó là những điều hoàn toàn mới lạ, vì vậy, rất tự nhiên, anhnảy ra ý muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy
Trong khoảng thời gian phụ trách các hoạt động ngoại khóa của Trường DụcThanh - một trường tư thục do các ông Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh
(con trai cụ Nguyễn Thông, một nhân sĩ yêu nước) thành lập năm 1907, ngoài giờ
lên lớp, Nguyễn Tất Thành tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ NguyễnThông để đọc Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng tiến bộ của cácnhà khai sáng Pháp như Rousseau, Voltaire, Montesquieu Đây là bộ ba nhà tưtưởng, triết học trong thời kỳ khai sáng Pháp ở thế kỉ 18 với ba tư tưởng cốt lõi là
dân chủ, bình đẳng tự do và tam quyền phân lập Ba nhà triết học này còn đề cao
triết học chính trị, triết học giáo dục và triết học xã hội
Hồ Chí Minh còn gia nhập các hội nhóm như Hội nghệ thuật và khoa học và
Hội những người bạn của nghệ thuật, từ đó hình thành những hiểu biết về thơ ca và
sân khấu
Trang 9Từ ngày ra đi, Hồ Chí Minh đã đặt chân lên hầu hết các lục địa: Châu Á, châu
Âu, châu Mĩ, châu Phi, và tiếp xúc với những điều mới lạ từ những nước tiên tiếnđến những nước lạc hậu, từ trình độ văn minh rất cao mà nhân loại đạt được đếnnhững cảnh tàn bạo dã man diễn ra hằng ngày Những cái tương phản ngoài cuộcsống cũng tạo ra những cái tương phản trong nhận thức từ đó làm cho Hồ ChíMinh phải tìm hiểu, suy nghĩ và hành động
Vào thời điểm này, phương Tây trở thành trung tâm của các cuộc cách mạngkhoa học kĩ thuật của thế giới với sự phát triển mạnh mẽ của điện khí hóa, tự độnghóa Những tiến bộ khoa học - kĩ thuật cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đã làm thayđổi cơ bản nền sản xuất và cơ cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa, đánh dấu bước tiến mớicủa chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn này
Vào cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỷ XX, văn hóa nghệ thuật phương Tây pháttriển rực rỡ với nhiều trường phái như điện ảnh, âm nhạc, hội họa… đều hướng tới
- Cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1799): Lật đổ chế độ phong kiến, tuyên bố “
Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, cổ vũ cho các phong trào giải phóng dân tộc trên thế
giới
Các bản tuyên ngôn, tuyên bố của các quốc gia phương Tây cũng là một trongnhững yếu tố giúp Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, làm sâu sắc hơn tư tưởng vềvăn hóa của mình:
- Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789): “Người ta sinh ra
tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”, khẳng định những quyền cơ bản của con người như tự do, bình đẳng,
bác ái, đặt nền móng cho các văn bản pháp lý về nhân quyền sau này;
- Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776): Nhấn mạnh những giá trị như tự do,
bình đẳng, quyền tự quyết, ảnh hưởng đến các cuộc đấu tranh giành độc lập và dânchủ trên thế giới;
- Tuyên bố Gettysburg (1863) của Tổng thống Abraham Lincoln: “Tất cả
mọi người đều được tạo ra bình đẳng.”, khẳng định tầm quan trọng của bình đẳng
Trang 10và tự do cho tất cả mọi người, thúc đẩy phong trào bãi nô lệ ở Mỹ, “Họ được Đấng
Tạo Hóa ban cho những quyền không ai có thể xâm phạm, trong số đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
1.3 Chủ nghĩa Marx - Lenin
K Marx coi văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt độnglao động sáng tạo của con người - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời
sống hiện thực của con người Trong quan niệm của K Marx, “văn hóa là cái
phản ánh tính đặc thù của hoạt động con người và sự tồn tại, vận động, phát triển
cùng với tính đặc thù như vậy của con người trong thế giới” Nói cách khác, văn
hóa là cái phản ánh việc con người tự ý thức về vai trò độc lập của mình, về khảnăng và năng lực sáng tạo của mình trong việc cải tạo và biến đổi tự nhiên
K Marx còn quan niệm “văn hóa là lĩnh vực hoạt động mà nhờ đó, con người
sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình với tư cách là một thực thể xã hội” Đó là
hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống giá trị mang tính định hướngcho sự phát triển ý thức con người và cho lối ứng xử của con người trong cộngđồng xã hội Với hệ thống giá trị định hướng này, mỗi nền văn hóa trở thành một
hệ thống biểu tượng bao hàm trong đó các khuôn mẫu ứng xử xã hội của conngười Đó còn là hoạt động của con người nhằm tạo ra một hệ thống những thể chế
mà qua đó, những giá trị cao đẹp, mang tính định hướng được giữ gìn, lưu truyền
và phổ biến trong cộng đồng xã hội, trở thành tài sản của mỗi người, của tất cả mọingười trong cộng đồng xã hội ấy và làm nên truyền thống văn hóa cho một cộngđồng xã hội
Hồ Chí Minh tiếp thu quan điểm của Marx - Lenin cho rằng văn hóa là do conngười tạo ra trong quá trình lao động và sinh hoạt xã hội Văn hóa phản ánh quan
hệ xã hội, giai cấp và chịu ảnh hưởng của nền kinh tế Hồ Chí Minh nhận thức rõvăn hóa trong xã hội cũ mang tính giai cấp, phục vụ lợi ích của tầng lớp thống trị.Văn hóa tiến bộ là văn hóa đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dânlao động Khái niệm văn hóa Hồ Chí Minh nêu ra đã khái quát nội dung rộng nhấtcủa phạm trù văn hóa, bao hàm các hoạt động vật chất và tinh thần của con ngườicùng với các giá trị mà con người sáng tạo ra; đồng thời, khái niệm văn hóa củaNgười cũng chỉ ra nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách chủ thể hoạt độngcủa đời sống xã hội chính là nguồn gốc, động lực sâu xa của văn hóa
2 Cơ sở thực tiễn: Xét theo bối cảnh gia đình
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình trí thức yêu nước, tiêu biểu cho nềnvăn hóa lâu đời của dân tộc
Sống trên mảnh đất thường xuyên phải gánh chịu những tai họa của thiên tai,
sự xâm lược của nước ngoài, nhân dân Việt Nam đã sớm biết đoàn kết và gắn bó
Trang 11với nhau để cùng phát huy trí tuệ và tài năng để cùng sản xuất chiến đấu Chínhhoàn cảnh ấy đã tạo cho nhân dân Việt Nam một truyền thống văn hóa bền vững.
Do đó với những gia đình tri thức như cụ Nguyễn Sinh Sắc, thì những phẩm chấtnói trên không chỉ được duy trì về mặt truyền thống mà còn thấm nhuần về mặt tưtưởng
Thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Sinh Sắc, cũng như cácnhà trí thức yêu nước khác luôn tự hào về nền văn hóa đã qua bao thế kỉ chiếu sáng
trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam Ông đậu Phó bảng Khoa thi
Hội Tân Sửu năm 1901 và là một nhà nho có tư tưởng tiến bộ Ông dạy các con: “
Vật dĩ quan gia vi ngô phong dạng” (đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà ta) Ông luôn giáo dục chí hướng, đạo đức, kiến thức và bồi đắp ý chí cho
các con Nguyễn Tất Thành đã tiếp nhận được ở thân phụ mình về tấm gương ý chíkiên cường, quyết tâm vươn lên đỉnh cao của tri thức với nghị lực phi thường đểđạt mục tiêu của mình
Từ lúc lọt lòng mẹ, Nguyễn Sinh Cung đã được nuôi dưỡng trong tiếng hátcủa mẹ, những câu chuyện do bà ngoại và mẹ kế và những trò chơi dân gian của trẻcon trong làng Những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, lịch sử, quan hệ xã hội,… lànhững bài học đầu tiên mà Nguyễn Sinh Cung tiếp nhận từ gia đình, quê hương.Những điều tiếp nhận này sống mãi trong tâm trí Hồ Chí Minh và tạo nên ở Ngườinhững đặc tính nổi bật của con người xứ Nghệ, mà dù có xa quê hương 50 năm,trong đó sống xa Tổ quốc 30 năm, cũng không hề bị phai mờ ở Người
Hoàn cảnh gia đình đã sớm đem lại cho Hồ Chí Minh những tinh hoa về văn hóa dân tộc từ đó dần hình thành nên tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hóa.
Tất cả những đóng góp và phát triển về văn hóa của Hồ Chí Minh đã đượcUNESCO công nhận và vinh danh vào năm 1987 tại Nghị quyết số 24C/18.65 củaUNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh
“18.6.5 Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ðại hội đồng,
Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới,
Nhắc lại Nghị quyết số 18 C/4.351 thông qua tại Khóa 18 Ðại Hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm
Trang 12các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,
Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm Kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt
Nam.
Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Nhận thấy những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
1 Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người.
2 Ðề nghị Tổng Giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để
Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam.”
II QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NỀN VĂN HÓA MỚI
1 Định nghĩa “văn hóa” theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Từ những cơ sở khách quan, khoa học, Hồ Chí Minh đúc kết nội hàm khái
niệm văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài
người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.”5
Đồng thời, đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy
mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ Nâng cao trình độ văn hóa
5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.431
Trang 13của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.”6 Hồ Chí Minh đánh giá cao vaitrò của văn hóa trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Văn hóa
là “ngọn cờ tinh thần” của dân tộc, là động lực thúc đẩy con người tham gia cáchmạng Hơn nữa, Hồ Chí Minh nhấn mạnh mục đích của văn hóa là phục vụ nhândân, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của mọi người Văn hóa phải hướng đếngiáo dục con người, nâng cao trình độ dân trí và bồi dưỡng đạo đức cách mạng.Theo nghĩa rộng, Hồ Chí Minh nêu văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất
và tinh thần do loài người sáng tạo ra “Văn hoá là sự tổng hòa của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.”7
Theo nghĩa hẹp, văn hoá là những giá trị tinh thần Người viết: “Trong công
cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi trọng ngang nhau: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng.”8
Theo nghĩa hẹp nhất, văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con ngườiđược đánh giá bằng học vấn phổ thông, thể hiện ở việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọingười phải học văn hoá, phải xóa nạn mù chữ, coi dốt là một thứ giặc nguy hại củadân tộc, sự phát triển đất nước Điều thú vị là định nghĩa của Hồ Chí Minh về vănhoá có nhiều điểm gần giống với quan niệm hiện đại của UNESCO về văn hoátheo khía cạnh: Phức thể, tổng thể nhiều mặt, nét riêng biệt, đặc trưng riêng về tinhthần và vật chất, những quyền cơ bản của con người, hệ thống các giá trị: cách ứng
xử, sự giao tiếp Tuy nhiên, quan niệm của Hồ Chí Minh ra đời năm 1943 trongnhà tù của quân phiệt, khi mà tổ chức UNESCO chưa ra đời Đó chính là cống hiếnlớn của Người vào kho tàng trí tuệ của nhân loại Như vậy, cũng đủ cho chúng tathấy được khí phách của một nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh
2 Tính chất của nền văn hóa mới
2.1 Tính dân tộc của văn hoá
Tính dân tộc của văn hóa là sự thể hiện của chủ nghĩa yêu nước và tinh thầnđộc lập, tự cường của dân tộc trong lĩnh vực văn hóa, nên trước hết nó phải đượcthể hiện ở nội dung tuyên truyền cho “lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do” và “tinh thần
vì nước quên mình” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói
Tính dân tộc của văn hóa đòi hỏi phải thể hiện được cốt cách và tâm hồn conngười Việt Nam, đó là truyền thống yêu nước, cần cù, dũng cảm, đoàn kết, thương
6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.10, tr.458-459
7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.431
8 Hồ Chí Minh: Về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997, tr.11
Trang 14người, tóm lại là tất cả những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn và tính cách ViệtNam đã được hun đúc trong suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.Muốn thể hiện được yêu cầu này, Hồ Chí Minh đòi hỏi các nhà văn hóa - vănnghệ phải đi sâu vào quần chúng nhân dân, thực hiện ba cùng với họ, có thể mớiphát hiện và mô tả được chiều sâu của tính cách và tâm hồn quần chúng, lại phải
học Lịch sử, hiểu truyền thống dân tộc Người từng cảnh báo: “Coi chừng, có
nhiều người Việt Nam lại không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình bằng những người nước ngoài Lại cũng phải hiểu kỹ hiểu sâu truyền thống văn hóa nghệ thuật Việt Nam.”9
Lịch sử dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng, mở đầu bài diễn caLịch sử nước ta sáng tác tại Cao Bằng khoảng năm 1941, Người viết:
“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa…”
Vào ngày 19/9/1954, khi về thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoànQuân Tiên phong (Đại đoàn 308) tại Đền Hùng (Phú Thọ), Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau
giữ lấy nước”.
Bác nhắc đến công lao của các vua Hùng như một sự khơi gợi trong tâm thứcmỗi người về ý thức cội nguồn dân tộc, nhắc nhở toàn Đảng, toàn quân, toàn dân taphải phát huy truyền thống con cháu Lạc Hồng, phải biết trân trọng vốn quý củavăn hóa, lịch sử dân tộc, đồng thời phải có trách nhiệm giữ gìn giang sơn gấm vóc.Lời căn dặn của Người như sự khẳng định vai trò quan trọng của di sản văn hóatruyền thống đối với sự phát triển mọi mặt của đất nước
Tính dân tộc của văn hóa còn được thể hiện ở hình thức và phương tiện diễnđạt Mỗi dân tộc có nếp cảm, nếp nghĩ riêng, có hình thức diễn đạt riêng đi thẳngvào lòng người, lay động sâu xa tâm hồn họ Cách đây gần 70 năm, trong tờ BáoNhân số, số 232, từ ngày 27 đến ngày 28/9/1954, với bút danh C.B, Người nhắc
nhở: “Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên Các chú
phải học cách kể chuyện của nhân dân.”10
Về mặt ngôn ngữ, ngày 16/4/1959, đến thăm Đại hội II của Hội Nhà báo ViệtNam, lấy tư cách “một người có nhiều duyên nợ với báo chí”, Người căn dặn:
“Tiếng nói là một thứ của cải rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ
gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.”11
9 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.671
10 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.561
11 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.465
Trang 15Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính dân tộc của văn hóa rất toàn diện và sâusắc, từ nội dung đến hình thức diễn đạt Bản thân Người là nhà văn hóa kiệt xuất, làbiểu tượng cao đẹp của bản sắc, tính cách, tâm hồn dân tộc là tấm gương cho cácnhà văn hóa - văn nghệ học tập và noi theo.
2.2 Tính khoa học của văn hóa
Nhấn mạnh giá trị của truyền thống dân tộc, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minhcũng chỉ rõ trong truyền thống có mặt tích cực và mặt tiêu cực Một trong nhữngthiếu hụt của văn hóa cổ truyền là chưa hình thành được một truyền thống khoahọc Tư duy nông nghiệp là một loại tư duy kinh nghiệm, không mở đường chokhoa học tự nhiên phát triển, nên tư duy lý luận, khái niệm khoa học, phương phápkhoa học chưa trở thành mặt chủ đạo của ý thức toàn xã hội Trong điều kiện đó,
mê tín dị đoan có đất để phát triển
Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái vớikhoa học, phản tiến bộ; phải truyền bá tư tưởng triết học mácxít Đấu tranh chốngchủ nghĩa duy tâm thần bí, mê tín, dị đoan Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ Icủa Hội Phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam năm 1963, Người giao cho ngành
giáo dục phải “dạy bảo các cháu thiếu niên về khoa học, kỹ thuật, làm cho các
cháu ngay từ thuở nhỏ đã biết yêu khoa học, để mai sau các cháu trở thành những người có thói quen sinh hoạt và làm việc theo khoa học.”12
Người nhắc nhở ngành văn hóa: trong việc khôi phục vốn cũ chỉ “nên khôi
phục cái gì tốt, còn cái gì không tốt thì phải loại dần ra”, không được “khôi phục
cả đồng bóng, rước xách thần thánh.’’13
Để tuyên truyền nếp sống vệ sinh, phong cách sống và làm việc theo khoahọc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết các tác phẩm Đời sống mới, Sửa đổi lối làmviệc, nhằm tổ chức lại các quan hệ văn hóa từ trong một nhà, một làng, một trườnghọc đến các cơ quan, đơn vị bộ đội, v.v sao cho việc ăn, ở, học tập, lao động phảituân theo Đời sống mới, bài trừ các phong tục tập quán cổ hủ, làm cho nếp sống xãhội mỗi ngày một tiến bộ hơn, hợp với khoa học và văn minh
2.3 Tính đại chúng của văn hóa
Đây là vấn đề thuộc về tính nhân dân, về đối tượng phục vụ của văn hóa nghệ thuật Trước kia, trong xã hội cũ, văn hóa - nghệ thuật được coi là món ăntinh thần sang trọng, chỉ dành riêng cho một thiểu số người ăn trên ngồi chốc Đó
-là một trong những điều bất công của xã hội cũ
Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử:Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, sángtạo ra văn hóa, do đó họ phải được hưởng thụ các giá trị văn hóa Người nói:
“Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo.
12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.99
13 ĐHQGHN: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc
gia-Sự thật, Hà Nội, 1998, tr.161-162
Trang 16Nhưng, quần chúng không chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là người sáng tác nữa.”14
Từ đó Người đặt vấn đề: “Văn hóa phục vụ ai” và Người khẳng định dứtkhoát: Văn hóa phải phục vụ đại đa số nhân dân, phải hướng về đại chúng, phảiphản ánh được tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân Người thường xuyênnhắc nhở người cầm bút:
“Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai?
Viết cho đại đa số: Công - Nông - Binh.
Viết để làm gì?
Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình Để phục vụ quần chúng.”15
Tại Hội nghị những người tích cực làm công tác văn hóa quần chúng
(02/1960), Người nói: “Văn hóa phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào
việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng.”16
Văn hóa là trình độ phát triển của con người, do con người làm ra, nó phải trở
về phục vụ con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đấu tranh giải phóng dân tộc để đemlại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, trong đó có văn hóa Đó là tính nhấtquán trong sự nghiệp cách mạng của Người
Tính đại chúng của văn hóa đòi hỏi các nhà hoạt động văn hóa phải tăngcường liên hệ với thực tế, đi sâu vào cuộc sống của nhân dân vừa để tìm hiểu vàphản ánh những nỗi lo âu và suy nghĩ, khát vọng và tình yêu, cuộc đời và số phậncủa nhân dân; vừa để đem ánh sáng văn hóa đến mọi người mọi nhà, nhất là các
vùng sâu, vùng xa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình: “Phải thấy rằng
nói chung văn hóa của ta còn loanh quanh trong thành phố, chỗ dễ ăn, chứ chưa đến chỗ đồng bào Mèo, đồng bào Mán.”17
Tóm lại, ba tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng hợp lại thành một chỉnh thể thống nhất, ngày càng thấm sâu vào ý thức sáng tạo của các nhà hoạt động văn hóa nước ta, giúp họ sáng tạo nên những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn hóa mới Đây là những quan điểm mới, tiến bộ, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy biện chứng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay Dù sau này, tính chất của nền văn hóa mới
có sự thay đổi nhất định về cách diễn đạt, nhưng tinh thần cốt lõi của nó cũng không đi ra ngoài ba tính chất đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên từ những ngày đầu dựng nước.
14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.250
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.205
16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.470
17 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.558