Đối với văn hoá Việt Nam, Phật giáo không chỉ đóng vai trò đơn thuần là một tôn giáo mà ảnh hưởng của nó đã đi sâu vào đời sống của nhân dân, bao gồm cả những tín đồ chính thức và cả khô
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phật giáo là một tôn giáo lớn và lâu đời ở nhiều nước châu Á Đối với văn hoá Việt Nam, Phật giáo không chỉ đóng vai trò đơn thuần là một tôn giáo mà ảnh hưởng của nó đã đi sâu vào đời sống của nhân dân, bao gồm cả những tín đồ chính thức và cả không chính thức của đạo
Tại Việt Nam, có sáu tôn giáo được Nhà nước công nhận là: Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành và Hồi giáo, mỗi tôn giáo đều có lịch
sử hình thành và phát triển riêng, song hành với lịch sử dân tộc, tuy nhiên trong
đó, Phật giáo là tôn giáo có hành trình phát triển lâu đời nhất và có sức phát triển mạnh mẽ nhất Ngoài ra, Phật giáo do có nhiều điểm tương đồng với những nét đẹp văn hoá truyền thống của Việt Nam cho nên khi du nhập vào nước ta, đạo Phật đã được bản địa hoá và mang màu sắc dân tộc Vì vậy mà cho tới tận ngày nay, Phật giáo vẫn rất được ưa chuộng và những quan điểm, giáo lí của nó đã len lỏi vào trong tâm thức nhân dân Việt Nam Trong thực tế, nhiều trường hợp khi người Việt gặp những trắc trở hoặc thử thách, nhiều người thường “cầu Trời khấn Phật” để cho tai qua nạn khỏi và sớm được bình an Đó là một biểu hiện vừa dung dị, gần gũi với cuộc sống đời thường, vừa mang đậm tư tưởng Phật giáo được bộc lộ rất tự nhiên từ trong vô thức
Hiểu được điều đó, là sinh viên đã học tập và nghiên cứu bộ môn Cơ sở văn hoá Việt Nam cũng như có niềm yêu thích với Phật giáo, em lựa chọn đề tài này để đem đến cho người đọc những nhận thức, hiểu biết về Phật giáo Việt Nam và ảnh hưởng của nó tới khía cạnh văn hoá dân tộc, từ đó giúp người đọc hiểu được những mặt sâu xa của những tư tưởng Phật giáo đã ăn sâu vào tiềm thức con người Việt Nam cũng như có thái độ trân quý một vẻ đẹp đầy nhân bản của văn hoá dân tộc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 22.1 Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra những tri thức về đặc điểm của Phật giáo và phân tích, chứng minh những ảnh hưởng của đạo Phật đến đời sống văn hoá Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
‒ Đưa ra nguồn gốc và đặc điểm của Phật giáo
‒ Trình bày sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và quá trình bản địa hoá Phật giáo ở nước ta
‒ Làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo tới đời sống văn hoá Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Khảo sát ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá dân tộc trong lịch
sử Việt Nam và ngày nay
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Cơ sở lí luận:
Phật giáo là tôn giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và đã phát sinh ảnh hưởng tới đời sống văn hoá nói chung và tín ngưỡng bản địa nói riêng
từ bấy giờ Trước khi Việt Nam tồn tại các tôn giáo ngoại nhập, dân tộc ta đã có những tín ngưỡng dân gian mang tinh thần cộng đồng, tinh thần dân chủ, tính
âm dương và sự đề cao tính nữ Phật giáo được xây dựng trên cơ sở cuộc đời và giáo lí của Thích Ca Mâu Ni, là một triết thuyết về giác ngộ, giải phóng, chủ trương đem lại những tư tưởng và cải cách tích cực cho xã hội, đó là tư tưởng từ
bi, hỉ xả, vô ngã vị tha, bác ái bình đẳng, cứu khổ cứu nạn Chủ trương này có nhiều nét tương đồng với tinh thần dân gian trong tín ngưỡng truyền thống, bao gồm yêu thương đồng loại, đùm bọc lẫn nhau, khuyến khích làm việc thiện,
Trang 3chống lại điều ác, kiến tạo một cộng đồng xã hội nơi ai cũng được hưởng ấm no, hạnh phúc, con người được sống trong sự hoà đồng, gắn bó Từ những điểm chung này, Phật giáo nhanh chóng hỗn dung vào hệ thống tín ngưỡng bản địa và định hình những tín ngưỡng này theo giáo lí đạo Phật; ở chiều ngược lại, Phật giáo Việt Nam cũng mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian, mang một tinh thần rất Việt Nam, khác với Phật giáo ở những quốc gia châu Á khác như Ấn Độ hay Trung Quốc
Cũng chính từ sự hoà hợp này mà Phật giáo Việt Nam tồn tại như một hệ
tư tưởng lớn, được sùng bái rộng rãi, có người sáng lập, có hệ thống giáo lí, giáo luật nghiêm ngặt, có các tín đồ tập trung thực hiện nghi lễ tôn giáo ở các địa điểm thờ phụng gọi là chùa; mặt khác, nhân sinh quan, thế giới quan của Phật giáo cũng có sức sống ẩn tàng trong đời sống thường nhật và thâm nhập vào niềm tin của cộng đồng quần chúng một cách rất tự nhiên Với hai hình thức phát triển song song này, đời sống văn hoá của những con người sống trong cộng đồng lớn là quốc gia, dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng rất sâu sắc của Phật giáo, dẫn tới sự hướng Phật rất rõ nét trong cả cuộc sống thường ngày và trong các hoạt động lễ, hội Phật giáo
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
‒ Phương pháp đọc tài liệu
‒ Phương pháp phân tích và tổng hợp
Trang 4II NỘI DUNG
1 Một số khái niệm liên quan
Phật giáo hay đạo Phật là một tôn giáo và cũng đồng thời là một hệ thống triết học gồm các tư duy, tư tưởng, nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan, giải thích hiện tượng tự nhiên, xã hội, tâm linh, các phương pháp thực hành, tu tập dựa trên lời dạy của Thích Ca Mâu Ni
Theo “Giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam” do Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng biên soạn năm 2016, “Văn hoá là một tổng thể hệ thống những giá trị, những chuẩn mực, những thói quen, những hoạt động trong thực tiễn, có ý thức, mang tính xã hội, sáng tạo và nhân văn của một cộng đồng người nhất định trong lịch
sử nhằm thoả mãn nhu cầu của cuộc sống và tạo ra bản sắc riêng”
Vậy, văn hoá Việt Nam là hệ thống giá trị vật chất – tinh thần được 54 dân tộc anh em sống trên đất nước Việt Nam sáng tạo, tích luỹ, giữ gìn, vận hành trong xã hội và trao truyền cho các thế hệ nối tiếp, thể hiện cả những đặc trưng riêng của từng dân tộc và cả diện mạo văn hoá Việt Nam vừa đa dạng, vừa thống nhất
Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá Việt Nam là sự thâm nhập của các yếu tố Phật giáo vào văn hoá nội sinh của dân tộc Việt Nam, biến đổi hệ thống giá trị vật chất – tinh thần này dựa theo các đặc điểm của đạo Phật, từ đó tạo ra những nhận thức, tư tưởng về cuộc sống và tâm linh của những con người sống trong nền văn hoá Việt Nam
2 Nguồn gốc của Phật giáo và khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam
2.1 Nguồn gốc của Phật giáo
Phật giáo ra đời vào thế kỉ thứ VI trước Công Nguyên ở Ấn độ trên vùng đất thuộc Nepal ngày nay Trong thời kì này, Bà la môn giáo là tôn giáo chiếm
ưu thế ở Ấn Độ, có vị trí chính trị - xã hội, chia xã hội Ấn Độ thành bốn đẳng cấp theo địa vị giảm dần như sau: Bà-la-môn (Brahamane), Sát-đế-lị (Ksastriya),
Trang 5Vệ- xá (Vaisya) và Thủ-đà-la (Soudra); ngoài ra còn có một đẳng cấp bị loại ra khỏi hệ thống đẳng cấp bốn lớp này là Chiên-đà-la (Pariah), họ bị coi là đẳng cấp hà tiện nhất, bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người, bị đối xử như thú vật Trong các đẳng cấp này, nếu không kể Chiên-đà-la thì đẳng cấp Thủ-đà-la
có địa vị thấp nhất và chiếm đa số ở Ấn Độ, họ nằm dưới đáy của xã hội và phải
đi làm nô lệ phục vụ cho ba đẳng cấp trên Chính sự bất công này đã tạo ra mâu thuẫn giữa những người thuộc đẳng cấp Thủ-đà-la với ba đẳng cấp cao hơn, dẫn tới xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh tư tưởng chống lại đạo Bà la môn và chế độ đẳng cấp của nó, trong đó có đạo Phật
Phật giáo được sáng lập bởi Thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm – một người có xuất thân hoàng tộc nhưng Ngài đã rời bỏ ngôi cao quyền lực và cuộc sống xa hoa chốn hoàng cung vào năm 29 tuổi để đi theo con đường tu hành khổ hạnh với hi vọng tìm kiếm sự giải thoát Sau 6 năm tu hành theo con đường này, Ngài nghiệm ra cuộc sống dù tràn đầy vật chất để thoả mãn dục vọng, ham muốn hay cuộc sống khổ hạnh đều không đem lại sự giải thoát, duy chỉ có con đường trung đạo là đúng đắn nhất Sau 49 ngày thiền định dưới gốc bồ đề, Ngài đã hiểu được những chân lí, bản chất của sự tồn tại, nguồn gốc của sử khổ đau và con đường giải thoát cho chúng sinh khỏi sự đau khổ ấy Ngài đã trở thành Phật – nghĩa là
đã giác ngộ và
được người đời suy tôn là Thích Ca Mâu Ni (người xuất gia tu hành họ Thích Ca) Từ đó Phật truyền giáo đức tin Phật giáo với những tinh thần bình đẳng, dân chủ chất phác, hướng tới sự giải thoát, đánh dấu sự ra đời và truyền bá rộng rãi của Phật giáo, cũng chính là sự phủ nhận chế độ đẳng cấp của đạo Bà-la-môn
2.2 Khái quát lịch sử Phật giáo Việt Nam
Phật giáo được truyền vào Việt Nam qua đường bộ và đường biển vào khoảng cuối thế kỉ I – đầu thế kỉ II bởi các nhà sư Ấn Độ (Ma-ha Kì Vực, Khương Tăng Hội,…) và các nhà sư Trung Quốc (Mâu Bác, Dư Pháp Lan,…)
Trang 6Các dấu tích đầu tiên của Phật giáo Việt Nam được ghi nhận với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo từ tăng sĩ Phật Quang trên núi Quỳnh Viên và truyền thuyết Tứ Pháp Luy Lâu gắn liền với những nhân vật Phật Mẫu Man Nương và Thạch Quang Phật Từ cuối thể kỉ I đến thế kỉ X, Phật giáo phát triển ổn định, thu hút nhiều tín đồ và đã xuất hiện những nhà sư người Việt nổi tiếng như Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền,…
Sang thế kỉ thứ X, nhà nước phong kiến Việt Nam được xây dựng, củng
cố và phát triển Các triều đại phong kiến Đinh, Tiền Lê, Lý – Trần đều có những chính sách khuyến khích đạo Phật Thời Đinh, Tiền Lê, các nhà sư đều được triều đình trọng dụng và phong chức tước cao, cho thấy Phật giáo không chỉ là một tôn giáo đơn thuần mà còn có vai trò chính trị - xã hội quan trọng thời bấy giờ Kế tiếp là thời kì Lý – Trần hay cũng chính là thời kì cực thịnh của Phật giáo Việt Nam Dưới triều Lý, so với hai tôn giáo đương thời là Nho giáo và Đạo giáo ở Việt Nam, Phật giáo là tôn giáo có sức ảnh hưởng lớn nhất và là quốc giáo thời bấy giờ Các vua nhà Lý đều tôn sùng đạo Phật Lý Công Uẩn sau khi lên làm vua đã cho xây dựng chùa chiền khắp cả nước và ban hành nhiều chính sách có lợi cho Phật giáo Trong xã hội, quan lại và nhân dân đều mộ Phật
Ở nông thôn, chùa là không gian sinh hoạt văn hoá tinh thần, các lễ hội Phật giáo trở thành một nét đặc trưng trong sinh hoạt văn hoá triều Lý Khi quyền lực được chuyển giao cho nhà Trần, Phật giáo tiếp tục có những bước phát triển mới Vua Trần Thái Tông đã soạn thảo ra tác phẩm “Khoá hư lục” – tác phẩm Thiền luận đặt nền móng cho Thiền tông triều Trần Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã kế thừa và hoàn thiện tư tưởng ấy, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung – đạo huynh của Trần Thánh Tông và là người dẫn dắt Trần Nhân Tông vào cửa thiền – là tác giả của nhiều tác phẩm về những vấn đề cơ bản của Thiền học, trong đó có “Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục” Đó là một số những đóng góp quan trọng vào lịch sử phát triển của Phật giáo Việt Nam Tuy nhiên, do giáo lí mang tính duy tâm về mặt nhận thức nên kém hiệu lực trong việc trị quốc, đặc biệt là về khía cạnh chính trị - xã hội, nên các triều
Trang 7đại đã áp dụng hệ tư tưởng Nho giáo vào việc giải quyết các vấn đề mà Phật giáo
tỏ ra thiếu sót, yếu kém hơn Trong thời đại này, Phật giáo cùng với Nho giáo và Đạo giáo tồn tại theo hình thức “tam giáo đồng nguyên”
Từ thế kỉ XV, giai cấp phong kiến Việt Nam suy tôn Nho giáo, lấy làm chỗ dựa về tư tưởng, chính trị và đạo đức nên Phật giáo không còn sức ảnh hưởng như trước Từ những năm 30 của thế kỉ XX, phong trào “chấn hưng đạo Phật” do một số nhà sư và trí thức dân tộc và mộ đạo khởi xướng đã khiến tình hình phát triển của Phật giáo dần khởi sắc Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, tuyệt đại bộ phận tăng ni Phật tử vẫn giữ truyền thống yêu nước và
có những đóng góp quan trọng cho cách mạng, cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Một sự kiện tiêu biểu cho tinh thần dân tộc của Phật giáo Việt Nam trong thời kì này là vào ngày 11/6/1963, Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu trên ngã tư đại lộ Phan Đình Phùng và phố Lê Văn Duyệt (nay là ngã tư phố Nguyễn Đình Chiểu và đường Cách mạng tháng Tám, Thành phố Hồ Chí Minh)
để phản đối chính sách kì thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm Sau này khi đất nước độc lập, hoà bình, thống nhất về một mối, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ra đời vào năm 1981, gồm Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự
Ngày nay, Phật giáo đang có sự phát triển ổn định và trở thành một trong những tôn giáo lớn nhất Việt Nam với 4,6 triệu tín đồ (theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam năm 2020) Ảnh hưởng của Phật giáo đã trở nên ngày một đậm nét trong đời sống văn hoá Việt Nam, góp phần xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá Việt Nam
3.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hoá sinh hoạt vật chất
3.1.1 Văn hoá ẩm thực chay
Về văn hoá ẩm thực, cơ cấu bữa ăn của người Việt gồm ba thành phần là cơm – rau – cá, trong đó 2/3 có nguồn gốc từ thực vật Ngoài ra, người Việt còn
Trang 8biết tận dụng các nguyên liệu từ thiên nhiên để nấu rượu Tuy nhiên, Phật giáo
có Ngũ giới là năm điều răn tu sĩ tại gia, bao gồm: tránh xa sát sinh, tránh xa sự trộm cắp, tránh xa sự tà dâm, tránh xa sự nói dối, tránh xa kích động như uống rượu Dù Đức Phật không buộc Phật tử phải tuân theo triệt để hay có hình phạt với sự bất tuân những giới này, nhưng năm giới cũng có ảnh hưởng ít nhiều tới nếp sinh hoạt ăn uống của người Việt nói chung và những nhà tu hành nói riêng Nhiều gia đình Việt Nam có thói quen ăn chay hàng tháng âm lịch vào ngày đầu tháng và ngày rằm, còn với cư sĩ (người tại gia mộ đạo Phật) và tăng ni Phật tử
tu tại chùa thì có thể ăn chay trường, không uống rượu, không sử dụng các sản phẩm từ động vật và không ăn một số loại rau có mùi đặc trưng như hành và tỏi
để giữ tâm hồn thanh tịnh, tránh sát sinh Bữa ăn chay của người Việt Nam rất
đa dạng về nguyên liệu: gạo, rau, đậu,… do sự phong phú của hệ thống thực vật
mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho chúng ta
3.1.2 Kiến trúc Phật giáo Việt Nam
Ở một số nước châu Á, những đặc trưng kiến trúc Phật giáo của các quốc gia có thể kể đến như: Trung Quốc với những thiền viện rộng lớn; Nhật Bản với kết cấu chùa xây dựng từ những ngôi nhà gỗ, luôn có một khu vườn phía trước chùa, thể hiện sự hoà hợp với thiên nhiên; chùa của người Hàn Quốc thì được trang trí bởi năm màu xanh, trắng, đỏ, đen, vàng lần lượt tượng trưng cho bốn hướng đông, tây, nam, bắc và một trung tâm; Thái Lan thì nổi tiếng bởi ngôi chùa được dát vàng làm nên tên tuổi của quốc gia này – xứ sở chùa Vàng; Ấn
Độ - cái nôi của Phật giáo lại có những ngôi chùa xây từ đá, gạch, được tô điểm bởi nghệ thuật tạo hình những hình ảnh hoa sen, bánh xe luân hồi,… công trình Phật giáo Ấn Độ cũng có đa dạng các loại hình mà trong đó phải nhắc đến tháp Sanchi, chùa hang Ajanta,…
Kiến trúc Phật giáo của các quốc gia đều có những đặc trưng riêng và Việt Nam cũng không ngoại lệ Chùa ở Việt Nam được xây dựng bằng gỗ nguyên khối Một ngôi chùa bao giờ cũng bao gồm đầy đủ: tam quan là cổng
Trang 9vào chùa gồm ba cửa vào; sân chùa là nơi trưng bày các chậu cây, hòn non bộ để tăng thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi chùa; nhà bái đường thường có năm gian, có các tượng, bia đá, chuông, khánh; qua bái đường là chính điện; song song với chính điện là hành lang; hết nhà chính điện, theo đường hành lang, ta đến nhà hậu đường Trong thực tế, kiến trúc chùa không nhất thiết phải tuân theo chặt chẽ bố cục trên, mà ở một số chùa ngoài điện thờ Phật còn có điện thờ Thần, gọi là chùa “tiền Phật hậu Thánh” rất phổ biến ở miền Bắc nước ta; ngoài
ra, chùa Việt Nam còn thờ cả thánh của Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian, thờ Mẫu, thờ Tứ Pháp,… Các chùa của người Việt thường toạ lạc ở những nơi đất rộng rãi, trừ những ngôi chùa được xây dựng ở những địa điểm thắng cảnh thiên nhiên ra thì phần lớn chùa chiền ở Việt Nam luôn có xu hướng gần gũi với nhân dân, gắn liền với làng xóm, thể hiện rõ ý thức mở rộng đất đai trong kinh tế nông nghiệp xưa Bên trong chùa trồng những cây linh thiêng theo quan niệm truyền thống của người Việt như cây bồ đề, cây trúc, cây sung,… Mái chùa được lợp ngói vẩy, được tạo hình những đường cong uốn ngược, toả ra bốn phía, gợi hình ảnh cánh hoa nở rộ Chùa được trang trí bằng những hình tượng Tứ linh trong văn hoá Việt Nam gồm có Long – Lân – Quy – Phụng, tạo nên một vẻ đẹp đặc trưng rất truyền thống Việt Nam
Ở Việt Nam còn có một ngôi chùa với lối kiến trúc rất đặc sắc là Chùa Một Cột (Hà Nội) Chùa chỉ có một điện thờ gọi là đài Liên Hoa xây từ gỗ dựng trên một cột trụ duy nhất là cột đá có hai khúc chồng lên nhau thành một khối, mái chùa được xây và lợp ngói theo lối kinh điển của chùa Việt Nam với nóc mái được trang trí bởi hình tượng Lưỡng long chầu nguyệt (hai rồng chầu trăng)
và góc mái được trang trí bằng hình Xi Vẫn Chùa Một Cột nguyên bản được xây từ thời Lý nhưng hiện đã không còn Chùa Một Cột hiện tại là phiên bản được trùng tu nhiều lần qua các thời kì nhưng bị Pháp phá huỷ khi rút khỏi Hà Nội ngày 11/9/1954 và được dựng lại năm 1955 theo kiến trúc để lại từ thời nhà Nguyễn Nhìn từ xa, chùa như một bông sen lớn vươn thẳng lên khỏi ao, bông sen cũng chính là biểu tượng của sự thuần khiết và sinh hoá hồn nhiên trong
Trang 10Phật giáo, gợi về phần tâm linh của con người cũng giống hoa sen, mọc từ bùn
mà chẳng hôi tanh mùi bùn Bên trong điện thờ là tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay mạ vàng ngự trên toà sen, xung quanh bày biện những lư hương đồng, bộ ấm chén thờ, bình cắm hoa sen Bàn thờ được sơn son thếp vàng
và được chạm khắc những hoạ tiết hình mây tinh tế Phía sau tượng Phật treo tấm hoành phi đỏ ghi ba chữ vàng “Liên Hoa Đài” Chùa Một Cột là điểm đến thu hút du khách tại Hà Nội và đã trở thành biểu tượng ngàn năm văn hoá của Thủ đô Ngày 12/11/2012, chùa được Tổ chức Kỉ lục châu Á công nhận là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất châu Á
3.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hoá sinh hoạt tinh thần
3.2.1 Văn học dân gian
Văn học dân gian Việt Nam là những tác phẩm văn học do nhân dân Việt Nam xưa sáng tác và lưu truyền trong cộng đồng dưới hình thức truyền miệng là chủ yếu Văn học dân gian gồm nhiều thể loại như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, sử thi,… Mỗi một thể loại lại phản ánh một kiểu nội dung riêng, nhìn chung tất cả đều thể hiện nhân sinh quan của người Việt xưa trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội
Phật giáo khi được người Việt tiếp nhận đã trở thành một vật liệu sáng tác cho văn học dân gian Người Việt Nam có nhiều câu ca dao, tục ngữ liên quan đến “Bụt” (phiên âm trực tiếp từ “Buddha”, nghĩa là “Phật”) như: “Đi với Bụt mặc áo cà sa Đi với ma mặc áo giấy.” “Bụt nhà không thiêng” “Hiền như Bụt”
Nhiều truyện trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam cũng xuất hiện nhân vật Bụt Nhân vật này được khắc hoạ như một vị thần hiền từ, phúc hậu, chuyên giúp đỡ những người thân cô thế cô, gặp khó khăn, nguy nan, chẳng hạn như trong các truyện “Tấm Cám”, “Cây tre trăm đốt”,… Nhân vật này thể hiện khát vọng chân chính ngàn đời của người Việt: được sống trong xã hội công bằng, hạnh phúc, người sống tốt được gặp nhiều chuyện may mắn, kẻ ác phải chịu sự trừng phạt đích đáng Triết lí “ở hiền gặp lành” này như có sự gặp gỡ với quan