Song cũng như các đơn vị làm công tác bảo tồn khác trong tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chính vẫn là áp lực của sự gia tăng dân số
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN TRỌNG TƯỜNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 4
1.1 Thế giới: 4
1.2 Việt Nam 7
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 11
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu: 11
2.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội: 19
CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 27
3.2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp tiến hành: 28
3.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp: 28
3.4.2 Khảo sát thu thập số liệu: 29
3.4.3 Tổng hợp thông tin, xử lý phân tích số liệu và viết báo cáo: 32
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1 Thực trạng đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô 33
4.1.1 Đa dạng sinh cảnh: 33
4.1.2 Đa dạng về loài: 34
4.1.3 Đa dạng về nguồn gen: 38
Trang 44.2 Hệ thống các nhân tố kinh tế xã hội tác động đến
hoạt động bảo tồn: 41
4.2.1 Phân tích các bên liên quan: 41
4.2.2 Tình hình kinh tế, xã hội, thể chế chính sách, tự nhiên tác động vào Khu BTTN Ea Sô: 46
4.3 Thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô 51
4.3.1 Nguyên nhân những ảnh hưởng đến hoạt động của khu bảo tồn: 51
4.3.2 Mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng và mức độ khai thác trái phép nhóm tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô: 69
4.4 Một số phát hiện trong quá trình nghiên cứu 78
4.4.1 Các phát hiện dựa vào các bên liên quan: 78
4.4.2 Phát hiện các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học theo nhóm loài: 80
4.5 Đề xuất một số giải pháp: 83
4.5.1 Nhóm giải pháp chính sách, xã hội: 83
4.5.2 Nhóm giải pháp về kinh tế, kỹ thuật: 85
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 89
5.1 Kết luận 89
5.1.1 Tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn 89
5.1.2 Tình hình kinh tế xã hội và ảnh hưởng của cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên 89
5.1.3 Đánh giá công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô 90
5.2 Tồn tại 92
5.3 Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 5DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Thứ tự Nội dung Số trang
2.1 Tổng hợp diện tích các loại đất 14
2.2 Bảng tổng hợp bình quân theo tháng của các chỉ tiêu khí tượng, trạm M’Đrăk giai đoạn 2001-2005 15
2.3 Dân số và lao động của 2 xã vùng đệm 20
2.4 Bảng tổng hợp về tình hình dân số của 2 xã vùng đệm Ea Sô và Cư Prao từ năm 1999 đến 2006 20
2.5 Tổng hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm 24
4.1 Khu hệ thực vật tại khu BTTN Ea Sô 34
4.2 Khu hệ động vật tại Khu BTTN Ea Sô 36
4.3 Các loài thực vật quý hiếm cần bảo vệ để bảo tồn nguồn gen 38
4.4 Các loài thú tại khu BTTN Ea Sô có trong Sách đỏ Việt Nam 39
4.5 Các loài chim tại khu BTTN Ea Sô có trong Sách đỏ Việt Nam 40
4.6 Các loài Bò sát tại khu BTTN Ea Sô có trong Sách đỏ Việt nam 41
4.7 Kinh phí đầu tư của Khu BTTN Ea Sô qua các năm 60
4.8 Thu nhập bình quân của các hộ phỏng vấn tại các thôn buôn vùng đệm 62
4.9 Các loài bị tác động mạnh theo từng mục đích sử dụng như sau 69
Trang 6DANH SÁCH BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Thứ tự Nội dung Số trang
4-1 Sơ đồ venn sự tham gia của các bên liên quan trong Bảo tồn
đa dạng sinh học tại Khu BTTN Ea Sô: 41
4-2 Các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến tài nguyên rừng: 49
4-3 Tổng hợp số vụ vi phạm lâm luật tại Khu bảo tồn thiên nhiên so sánh với số vụ vi phạm của người dân trong vùng đệm 56
4-4 Phân theo trình độ cán bộ công nhân viên của khu bảo tồn 59
4-5 Quan hệ giữa tổng mức đầu tư và lương của CBCNV 61
4-6 Cơ cấu doanh thu của các hộ phỏng vấn tại 6 buôn 63
DANH SÁCH PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu phỏng vấn nhóm hộ - tiếp cận khai thác tài nguyên, bảo tồn Phụ lục 2: Mô tả và mã hóa các biến số sử dụng trong phân tích hồi quy:
Phụ lục 3: Kết quả tính toán các phương trình Phụ lục 4: Phiếu phân tích kinh tế hộ
Phụ lục 5: Danh mục thực vật khu BTTN Ea Sô Phụ lục 6: Danh lục thú, chim, bò sát, ếch nhái tại khu BTTN Ea-Sô Phụ lục 7: Một số hình ảnh minh họa
Trang 7CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTTN Bảo tồn thiên nhiên CBCNV Cán bộ công nhân viên CITES Convention on International Trade in Endangered Species
of Wild Fauna and Flora (Công ước mua bán Quốc tế động - thực vật hoang dã nguy cấp)
FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Lương Nông Quốc tế của Liên Hợp quốc) GIS Geographic information system (Hệ thống thông tin địa
lý) GPS Global positioning system (Hệ thống định vị toàn cầu) IPM Integrated Pest Management (phương pháp phòng trừ
SIDA Swedish International Development Cooperation Agency
(Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển) TB-XH Thương binh - Xã hội
WWF World Wide Fund for Nature (Tổ chức bảo tồn quốc tế) IUCN International Union for Conservation of Nature and
Natural Resources (Tổ chức quốc tế bảo tồn tài nguyên thiên nhiên)
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp thuộc chương trình đào tạo Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học tại khoa Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học lâm nghiệp Việt Nam, tôi luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của quý thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các tổ chức, cơ quan và cá nhân
Khoa Đào tạo Sau đại học, Ban Giám hiệu và toàn thể Giáo viên Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp tôi hoàn thành khóa đào tạo
GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, giáo viên hướng dẫn khoa học của luận văn đã định hướng và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Các Thầy giáo, Cô giáo của bộ môn Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, khoa Nông Lâm nghiệp, trường Đại học Tây Nguyên đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập và xử lý số liệu của luận văn
Tập thể Cán bộ Công nhân viên của Ban quản lý dự án khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thu thập số liệu và hoàn thành luận văn
Ủy ban nhân dân xã Ea Sô, Ủy ban nhân dân xã Cư Prao, các Ban Ngành trong huyện M’Đrăk và Ea Kar và Cộng đồng dân cư của 6 thôn buôn đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi thu thập số liệu và tham gia cùng với tôi để đánh giá thực trạng bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ea
Sô
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính, các điều kiện nghiên cứu nên chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được những ý kiến góp ý quý báu của các quý thầy cô giáo, các nhà khoa học, các nhà quản lý và các đồng nghiệp Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Xuân mai, ngày 30/7/2007
Tác giả Nguyễn Trọng Tường
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ cần thiết trong giai đoạn hiện nay không chỉ trên đất nước Việt Nam mà trên toàn thế giới Việt nam là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương và được xem như là một trung tâm đa dạng sinh học của Đông Nam Á, là nơi phân bố của nhiều loài động thực vật và có thể xem là một kho tàng đa dạng sinh học vô giá của nhân loại Nguồn tài nguyên này tồn tại trong các khu rừng mưa nhiệt đới của nước ta, trải dài từ Bắc vào Nam
Tuy nhiên, trong những năm gần đây nguồn tài nguyên rừng của nước
ta đang ngày càng suy giảm cả về diện tích và chất lượng, kể cả nguồn tài nguyên rừng nằm trong các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia Vấn đề này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu vẫn là do sức ép về tăng dân số tự nhiên lẫn cơ học Khi dân số tăng nhanh đồng nghĩa với việc nhu cầu về đất sản xuất, nguyên liệu để làm nhà cửa, chất đốt, thực phẩm… đồng thời vấn
đề quan tâm đầu tư vào các vườn quốc gia và khu bảo tồn để vừa bảo tồn đa dạng sinh học vừa phát triển kinh tế xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân sống ở vùng sâu, vùng xa đặc biệt là các vùng đệm của các khu rừng đặc dụng, dẫn đến công tác quản lý rừng và bảo tồn đa dạng sinh học ngày một khó khăn
Mất rừng làm ảnh hưởng trực tiếp đến tính đa dạng sinh học của các khu rừng ở Việt Nam, nơi cư trú của các loài động vật bị thu hẹp, nguồn thức
ăn của chúng bị cạn kiệt bắt buộc các loài động vật phải di chuyển đi nơi khác hoặc co cụm lại Nhiều loài động, thực vật quý trước đây khá phổ biến ở nước
ta nhưng ngày nay trở nên rất hiếm
Đứng trước thực trạng này, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta
Trang 10loạt các văn bản pháp quy ra đời như: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm
2004, Luật môi trường 2003, đặc biệt Việt Nam ký nhiều công ước quốc tế như: Công ước di sản thế giới năm (1987), Công ước đa dạng sinh học, Công ước về buôn bán quốc tế các loại động thực vật hoang dã đã nguy cấp CITES (1994) Ngày 22/12/1995 Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch hành động về đa dạng sinh học của Việt Nam
Mặc dù, được rất nhiều sự quan tâm sâu sắc của các cấp, các ngành nhưng rừng tự nhiên cùng không ngừng bị tàn phá Tài nguyên rừng của các Khu bảo tồn, Vườn quốc gia vẫn bị suy giảm về chất lượng rừng Việc nghiên cứu các cơ sở khoa học nhằm đưa ra các giải pháp để quản lý và phát triển bền vững đa dạng sinh học còn nhiều hạn chế
Như vậy, làm thế nào để vừa có thể bảo tồn được đa dạng sinh học mà vẫn phát triển được kinh tế xã hội cho người dân đặc biệt là người dân sống ở những vùng đệm của các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên là vấn đề đang được sự quan tâm của ngành Lâm nghiệp nói riêng và các cấp các ngành nói chung Hay nói cách khác là tạo ra một sự kết hợp hài hoà giữa kinh tế –
xã hội – môi trường, tức kết hợp tốt giữa bảo tồn và phát triển
Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô tỉnh Đăk Lăk được thành lập vào tháng
4 năm 1999, nằm trên địa giới hành chính của xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk Là Khu bảo tồn chịu ảnh hưởng của cả hai chế độ khí hậu chuyển tiếp giữa Đông và Tây Trường sơn và một phần ảnh hưởng khí hậu của vùng duyên hải miền trung, cùng với địa hình khá đa dạng từ các dãy núi cao từ Tây bắc xuống Đông nam, đến các sinh cảnh đồng cỏ, đầm lầy, hồ nước hết sức phong phú đây là nơi sinh sống rất tốt của hệ động, thực vật đặc biệt là hệ thú móng guốc
Trang 11Từ khi thành lập đến nay, được sự quan tâm của các cấp, các ngành trong tỉnh Đăk Lăk Ban quản lý dự án khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô đã có nhiều cố gắng để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Song cũng như các đơn vị làm công tác bảo tồn khác trong tỉnh nói riêng và cả nước nói chung, do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chính vẫn là áp lực của sự gia tăng dân số của các vùng lân cận có đời sống vật chất khó khăn, thiếu đất sản xuất cho nên các hoạt động khai thác gỗ quý hiếm, săn bắn, bẫy bắt các loại động vật vẫn diễn ra làm cho tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô cũng bị suy giảm
Vì vậy, bảo vệ được đa dạng sinh học của Khu bảo tồn thiên nhiên Ea
Sô là vấn đề mang tính cấp thiết Để góp phần nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tế để vừa bảo vệ tính đa dạng sinh học của Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, đồng thời giảm sức ép của người dân tại các khu vực
vùng đệm vào rừng, chúng tôi tiến hành chọn đề tài “Đánh giá thực trạng
bảo tồn đa dạng sinh học và đề xuất giải pháp bảo tồn dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, tỉnh Đăk Lăk”
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ ĐA DẠNG
SINH HỌC TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG
1.1 Thế giới:
Đa dạng sinh học có ý nghĩa lâu dài đối với quá trình phát triển kinh tế
xã hội của nhân loại Trên thế giới thuật ngữ đa dạng sinh học được Wilson dùng đầu tiên và năm 1988 “Đa dạng sinh học” nghĩa là tính biến dị giữa xác sinh vật sống từ tất cả các nguồn, trong đó bao gồm hệ sinh thái trên cạn, biển
và các hệ sinh thái dưới nước khác, và là các phức hệ sinh thái, trong đó các sinh vật sống là một cấu thành; đa dạng sinh học bao gồm 3 cấp đa dạng về nguồn gen, loài và hệ sinh thái Khái niệm đa dạng sinh học còn được các tổ
chức trên thế giới khái niệm như sau, theo tổ chức WWF (1989) “đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất; là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật; là nguồn gen chứa đựng trong các loài và các hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Công ước đa dạng sinh học (1992) khái niệm về đa dạng sinh học như sau“Đa dạng sinh học là
sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh học trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái”
Tuy nhiên bảo tồn như thế nào để mang lại hiệu quả thì đã được các nhà khoa học và các quốc gia trên thế giới rất quan tâm áp dụng từ đó thuật ngữ quản lý rừng dựa vào cộng đồng ra đời, vì quản lý bảo tồn rừng đặc biệt
là rừng nhiệt đới chính là bảo tồn đa dạng sinh học
Tại Nê Pan, Subedi, 1991 [25] và cộng sự đã dựng phương pháp đánh giá nhanh (RRA) để nghiên cứu quản lý cây và đất đai tại hai cộng đồng nông
Trang 13thôn ở miền đông Terai (vùng thấp) Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triển lợi tức và công việc làm ăn thông qua dự án do cơ quan phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) và FAO tài trợ Nhiều vấn đề lý luận và thực tiển cộng đồng quản lý của thôn xã, tầm quan trọng của việc thu hút người dân sử dụng tài nguyên và những nhóm sử dụng trực tiếp tham gia vào việc phát triển, cách giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên và công bằng xã hội được thảo luận
Tại Canada, Sherry, E.E 1999 [24] về sự hợp tác quản lý tại Vườn quốc gia Vutut, vừa là một Vườn quốc gia vừa là di sản văn hóa của của người thổ dân vùng Bắc cực Liên minh chính quyền và thổ dân huy động được lực lượng người dân và kết hợp với ban quản lý làm thay đổi chiều hướng bảo tồn
tự nhiên hoang dã và tăng các giá trị của vườn quốc gia Hợp tác quản lý đã kết hợp được giữa các mối quan tâm và và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn Ban quản lý vườn giúp người dân về kỹ thuật xây dựng mô hình, về bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội Hợp tác quản lý ở đây được đánh giá là rất thành công, theo tác giả thì nó được thiết kế để “kết hợp giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” nhà nước văn minh và thổ dân
Shuchenmann, 1999 [19] đã đưa ra một ví dụ ở Vườn quốc gia Andringitra, là vườn quốc gia thứ 14 của nước Cộng hòa Madagascar Vườn quốc gia là một vùng núi có mối quan hệ giữa các hệ sinh thái và sinh cảnh,
đa dạng sinh học và cảnh quan cũng như di tích văn hóa Chính phủ đã có nghị định bảo đảm quyền của người dân như: quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chổ, cho phép giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng Để đạt được những quyền trên, người dân phải có trách nhiệm tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực
Ngoài ra, có nhiều bên liên quan tham gia trong Ban đồng quản lý như du
Trang 14Gilmour D.A, 1999 [19] lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả của các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương và lợi ích quốc gia, do đó chưa phát huy được nội lực của các cộng đồng để quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Vì vậy, quản lý tài nguyên rừng cần phát triển theo hướng kết hợp hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân và lợi ích Quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng
Poffenberger, M và McGean, Bo(eds), 1993 [22] trong báo cáo “liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại vườn quốc gia Dong Yai nằm ở đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan Tại Dong Yai người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái và phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực Tại Nam Sa cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng
hộ Họ khẳng định nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chán sẽ thành công trong việc kiểm soát tài nguyên
Nick Salafky, 2000 [21] và các cộng sự cho rằng vào những năm của thập kỷ 90 thế kỷ trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích kinh tế và bảo tồn Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn Đặc điểm cơ bản của cách tiếp cận này là mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và con người xung quanh Người dân địa phương được hưởng lợi ích trực tiếp từ đa dạng sinh học và như vậy sẽ có thể hạn chế được các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với đa dạng sinh học sự phát triển của đời sống
Trang 15người dân sẽ giúp cho việc bảo tồn đa dạng sinh học chứ không phải cạnh tranh với nhau Hơn nữa chương trình này công nhận vai trò của người dân địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học, cũng trong chiến lược này các nhà bảo tồn có thể giúp người dân địa phương khai thác sử dụng hợp lý các loại lâm sản ngoài gỗ hoặc du lịch sinh thái
Chương trình hỗ trợ đa dạng sinh học (The biodiversity support program, BSP), 2000 [19] đã thực hiện nhiều dự án với mục tiêu nhằm đạt được tác động thật sự đối với bảo tồn Những nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra
một số thành công của bảo tồn: (i)mục tiêu bảo tồn phải được đàm phán và nhất trí bởi tất cả các chủ thể hoặc đối tác có liên quan (ii) các hoạt động bảo tồn phải xác định và hỗ trợ các lợi ích, nhu cầu của địa phương (iii) nhận
thức và kiến thức về bảo tồn đa dạng sinh học sẽ dẫn đến động lực, nhưng động lực không thì chưa đủ để biến ý tưởng thành hành động thì con người phải có đầy đủ kỹ năng và năng lực cần thiết
Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên hoang dã (WWF), 2001 [27] đã đưa
ra một thông điệp chung rất đơn giản nhưng đầy đủ đó là “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xoá đói giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng”
1.2 Việt Nam
Việt Nam được công nhận là trung tâm đặc hữu về loài, chứa đựng một phần hoặc toàn bộ trong 5 vùng chim đặc hữu (EBA) do Birdlife International xác định, 3 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định và 6 trung tâm đa dạng sinh học về thực vật do IUCN xác định Toàn bộ đất nước Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô - Bơ Ma do tổ chức Bảo tồn Quốc tế xác định, là một trong những vùng sinh học đe dọa nhất và giàu có nhất trên trái đất [5]
Trang 16Để góp phần vào bảo tồn đa dạng sinh học Chính phủ Việt Nam đã có những hành động tích cực trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học từ những năm 1960 Hiện nay đã có rất nhiều văn bản luật pháp và dưới luật có liên quan đến việc bảo tồn đa dạng sinh học được ban hành, nhiều dự án, chương trình lớn được thực hiện nhằm phát huy tích cực công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Đồng thời nhằm ngăn chặn việc khai thác sử dụng trái phép tài nguyên thiên nhiên ngày càng gia tăng do yêu cầu ở trong nước và xuất khẩu, tạo sự liên kết và hỗ trợ Quốc tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã tham gia nhiều công ước liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học như công ước Ramsar (1988); Công ước di sản văn hóa thế giới (1987); công ước CITES (1994); công ước về đa dạng sinh học (1994); Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học năm (2004) và hiệp định Asean về bảo tồn thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên (1985)
Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam, 1996 [13] Báo cáo kết quả dự án bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nông thôn thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Ray đã kết luận bảo vệ tính đa dạng sinh học trước hết phải giảm sự phụ thuộc của người dân lên vùng được bảo vệ, đảm bảo được mức độ cao hơn về an toàn lương thực, gia tăng thu nhập hộ gia đình, xóa mù chữ, cải thiện vấn đề về sức khỏe, tạo các cơ hội giúp các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, bản địa phát triển các yếu tố truyền thống văn hóa Bằng việc phát triển phúc lợi xã hội của các cộng đồng sống trong vùng đệm, khuyến khích các hoạt động phát triển nông nghiệp bền vững, phát triển cơ sở hạ tầng
Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam - Trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường rừng, 1998 [18] khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã khẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên
Trang 17thiên nhiên, theo các tác giả thì chính cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về những tài nguyên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết mối quan hệ kinh tế - xã hội trong cộng đồng Họ có khả năng phát triển loài cây trồng vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương Cộng đồng dân cư địa phương vừa là người thực hiện các chương trình quản lý tài nguyên, vừa là người hưởng lợi từ hoạt động quản lý tài nguyên, nên những giải pháp quản lý tài nguyên phù hợp với phong tục, tập quán, những nhận thức, kiến thức của họ có tính khả thi cao
Lê Trọng Cúc, 2002 [8] mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, làm sao phát triển kinh tế được mà vẫn có thể giữ gìn, bảo vệ được thiên nhiên Bảo tồn là liên kết được việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nhiên đặc thu với nhu cầu phát triển có thể chấp nhận được của một bộ phận dân cư mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên đó bao gồm ba
thành phần chính sau: (i) Nếu như nhu cầu phát triển cộng đồng địa phương
đó có thể đáp ứng bởi các nguồn thay thế thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên
sẽ giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn (ii)Nếu cộng đồng rất khó khăn về
mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống vẫn chưa được đáp ứng Vì thế, trước hết cần phải nổ lực cải tiến kinh tế xã hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc
bảo tồn tài nguyên (tiếp cận phát triển kinh tế)(iii) Cộng đồng địa phương có
đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nếu như họ có thể tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên, từ đó họ
có thể chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong ít nhất một số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương
có thể đáp ứng, thông qua sử dụng và khai thác tài nguyên một cách bền vững
và hợp lý (tiếp cận tham gia quy hoạch)
Trang 18Báo cáo tại hội thảo quốc gia, Võ Quý, 1999 [12] “để có cuộc sống và môi trường của người dân miền núi được bền vững”, tác giả cho rằng để duy trì cuộc sống, nhiều người sinh sống trong các khu bảo tồn buộc phải khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây mà đáng ra họ phải góp phần bảo
vệ Vì vậy, để giải quyết mâu thuẩn nói trên phải chú ý đến vấn đề kinh tế xã hội phức tạp mà chủ yếu tìm các biện pháp hữu hiệu cải thiện mức sống của người dân nghèo, đồng thời nâng cao nhận thức của họ về bảo vệ thiên nhiên
và môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, kể cả đất và rừng mà
họ có trách nhiệm bảo vệ và họ được quyền quyết định về cách sử dụng tốt nhất cho cuộc sống của họ và cho cả cộng đồng
Vấn đề quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên, Lê Quý An, 2001 [1] khẳng định quản lý và phát triển vùng đệm trên cơ sở cộng đồng là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các hoạt động bảo tồn Cộng đồng còn có thể phát huy nhưng mặt hay của phong tục, tập quán trong mối quan hệ các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt môi trường, góp sức cho việc bảo tồn Hương ước của các xóm, làng, buôn bản là một ví dụ
Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, Đa dạng sinh học, 2005 [5]
Bảo vệ hệ sinh thái rừng giúp cung cấp nhiều giá trị gián tiếp cho lĩnh vực
phát triển, như: (i) cung cấp “sự an toàn” về kinh tế cho các cộng đồng nghèo sống trong và xung quanh các khu bảo tồn; (ii) ngăn chặn lũ lụt đối với vùng
hạ lưu và cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu; (iii) bảo vệ lưu vực cho các hồ
thủy điện và cung cấp cho ngành công nghiệp nước sạch và năng lượng ổn
định; (iv) bảo tồn tính đa dạng sinh học nông nghiệp bản địa quan trọng và cung cấp bãi ươm cho các quần thể cá; (v) hỗ trợ bảo tồn đa dạng di truyền,
các loài và cảnh quan cho các thế hệ mai sau
Trang 19CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu:
Tổng diện tích tự nhiên 27.800 ha được chia làm 3 phân khu như sau:
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt : 15.959,0 ha Phân khu phục hồi sinh thái : 9.816,0 ha Phân khu dịch vụ hành chính : 2.025,0 ha Trong đó:
Diện tích rừng tự nhiên : 15.580,2 ha Diện tích rừng trồng : 267,5 ha Diện tích không có rừng : 11.952,3 ha Đất trống(Ia,Ib,Ic) : 11.405,8 ha
Trang 20b Địa hình địa mạo:
Địa hình khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô cao nhất là đỉnh ĐleiYa 1.046m) sau đó gồm những đỉnh núi thấp hơn nối tiếp và thoải về phía đông thấp nhất là hai bên bờ suối Ea Puich có độ cao tuyệt đối chỉ còn 140m
(1.014-Khu BTTN Ea Sô có dòng suối Ea Puich chia thành hai phần khác biệt
rõ rệt về địa hình, địa mạo
Phía bắc của suối Ea Puich bắc đầu từ đỉnh ĐlêiYa thấp dần về phía Đông có các dãy núi chính như: Cư Nheh (818m), Cư Kon (500m), Cư Mouil (489m) Khu vực này có địa hình phức tạp chia cắt mạnh với các đồi núi lượn sóng, độ dốc cao (từ 10-25°), hình thành nhiều dông, khe suối…
Phía nam suối Ea Puich có diện tích tương đối bằng phẳng, độ cao bình quân 300m, thấp dần về phía các sông suối (Ea Krông Năng, Ea Puich) trong khu này thỉnh thoảng nhô lên các đồi có độ cao gần 400m như Chư Trêăng (387m)
Địa hình có sự khác biệt như vậy tạo ra nhiều sinh cảnh đặc sắc: sinh cảnh bình nguyên, đồng cỏ chạy dài ở phía nam Ea Puich, cùng với các đồng
cỏ là các đầm lầy, sông suối nhỏ; sinh cảnh núi cao với các kiểu thảm thực vật thay đổi theo độ cao, địa hình, đặc biệt là phân bố các loài thực vật khác nhau
Với các sinh cảnh đặc trưng đây chính là nguồn thức ăn và nơi cư trú cho hệ động vật trong khu bảo tồn
c Địa chất, thổ nhưỡng:
Cấu tạo đá trong vùng khá phức tạp, gồm 3 nhóm đá chính:
Macma axit, với đá mẹ chủ yếu là Granit, granodiorit phân bố rộng khắp trong vùng và chiếm diện tích chủ yếu
Nhóm đá biến chất gồm có các đá Granit-gơnai, sạn kết, đá phiến…
Trang 21+ Đất đỏ vàng trên Granit (Fa) phân bố chủ yếu ở phía bắc suối Ea Puich, trên các dãy núi đồi lượn sóng, được che phủ bởi những kiểu rừng lá rộng thường xanh và nửa rụng lá ở độ dốc cao nên tầng đất mỏng, có màu vàng và đỏ vàng, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, kết cấu viên cục nhỏ kém bền vững, khả năng thấm nước tốt nhưng giữ nước kém dẫn đến mùa khô bị hạn, dinh dưỡng đất thuộc loại nghèo - trung bình
+ Đất đỏ vàng trên phiến sét (Fs) chiếm một diện tích rất nhỏ, phân bố
ở đồi có độ dốc cao, tầng đất mỏng, có một số tính chất tương tự như đất đỏ vàng trên Granit, đất nghèo dinh dưỡng, do vậy vai trò của thảm thực vật rừng rất quan trọng
+ Đất phù sa sông, suối (Fy) tập trung ven sông Ea Krông Năng
Trên nền đất nói chung nghèo dinh dưỡng nên bảo vệ các lớp thảm thực vật đóng vai trò quan trọng Ngoài ra trên nền đất xám, rừng đã bị tác động ở các mức độ, hình thành các thảm cỏ rộng lớn, một mặt đây là nguồn thức ăn phong phú cho hệ động vật, đặc biệt là hệ thú móng guốc phong phú của khu
Trang 22bảo tồn Nhưng mặt khác cũng hạn chế trong bảo vệ nguồn nước, hạn chế xói mòn và rữa trôi
Bảng 2.1: Tổng hợp diện tích các loại đất
01 Đất xám trên đá Granit (Xa) 14.274 51,3
02 Đất đỏ vàng trên granit (Fa) 13.338 48,0
(Nguồn: Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô năm 2006)
d Khí hậu, thủy văn:
* Khí hậu
Độ cao tuyệt đối của khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô mặc dù tương đương với độ cao tuyệt đối của Thành phố Buôn Ma Thuột, nhưng điều kiện khí hậu ở đây có nhiều điểm khác biệt, khí hậu ở đây chịu sự ảnh hưởng của kiểu khí hậu chuyển tiếp giữa cao nguyên và duyên hải miền Trung, nên mùa mưa ở đây thường đến muộn và kéo dài hơn so với thành phố Buôn Ma Thuột
và một số huyện trong tỉnh Đăk Lăk
Theo số liệu khí tượng thủy văn tại trạm M’Đrăk từ năm 2001-2005 các chỉ tiêu về khí hậu đo được thể hiện ở bảng dưới điều này cho thấy khí hậu của Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô là khí hậu nhiệt đới ẩm với hệ số thủy nhiệt 2,2; tổng nhiệt độ trung bình trong năm không quá 8.600-9.000°C nhiệt
độ trung bình 23-25°C; Nhiệt độ tháng nóng nhất 33-35°C, tháng lạnh nhất 17-19°C, mùa hè ở đây nóng, nhiệt độ tối cao 36,5°C và tối thấp là 11,6°C
Biên độ nhiệt ngày đêm 8-10°C, biên độ nhiệt năm 8,7°C
Trang 23Bảng 2.2: Bảng tổng hợp bình quân theo tháng của các chỉ tiêu khí tượng,
trạm M’Đrăk giai đoạn 2001-2005
Lượng mưa (mm) 30,6 20,1 40,7 62,4 189,6 92,8 75,7 165,8 228,1 486,9 536,8 327,5 2257
Số giờ nắng (giờ) 798,1 1021,7 1071,5 1269,5 1162 977,1 1080,8 872,9 850,2 644,2 534,7 395,4 10678 Lượng mưa bình quân 2.100 – 2.200 mm, mùa mưa ở đây bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau, Độ ẩm không khí trung bình 78-85%; thấp nhất trong mùa khô 35-50%
Tổng số giờ nắng trong vùng khá lớn, trung bình từ 2.000-2.200 giờ/năm Vào mùa khô số giờ nắng đạt tới 210-220 giờ/tháng, có thời kỳ mưa trung bình 200 giờ/tháng
Với chế độ khí hậu khá đặc biệt mang tính trung gian giữa cao nguyên với duyên hải niềm Trung, cùng với các đặc điểm địa hình, đất đai đã tạo nên nhiều sinh cảnh phong phú trong khu bảo tồn, sự phong phú về loài cây, kiểu rừng, sự xuất hiện của nhiều động vật quý hiếm
* Thủy văn Sông suối chảy trong Khu bảo tồn đều thuộc hệ thống sông Ba và đổ ra Biển Đông
Sông lớn nhất trong vùng là sông Krông Năng bao bọc phía Nam và Đông của Khu bảo tồn sau đó chảy vào tỉnh Phú Yên Hệ số dòng chảy trong
Trang 24Suối lớn thứ hai trong trong Khu bảo tồn là Ea Puich, có nước quanh năm, mùa mưa nước dâng rất cao Suối này chủ yếu chảy theo hướng Tây Nam và Đông Bắc và nhập vào suối Krông Năng gần như chia khu bảo tồn làm hai phần Ea Puich chảy qua nhiều địa hình khác nhau, chia cắt tạo nên nhiều ghềnh thác
Ngoài ra trong khu bảo tồn hai bên còn có nhiều mạng lưới suối nhỏ đầu nguồn, chúng đổ vào sông Ea Krông Năng hoặc vào suối Ea Puich để rồi nhập ra Ea Krông Năng sau đó vào chảy vào địa phận Phú Yên, Các suối chủ yếu như sau:
+ Các suối Ea Puk, Ea Hmlay, Ea Kar, Ea Knel, Ea Drou, Ea Knel,
Ea Kra đổ vào suối Ea Puich
+ Các suối Ea Dăh, Ea G’Bou đổ vào Ea Krông Năng
Với một hệ thống suối hầu như phân bố khắp trong khu bảo tồn, kể cả khu núi cao đến vùng bằng phẳng phía nam, cùng với hệ thống đầm lầy, các
hồ tự nhiên nhỏ có nguồn nước phong phú ngay cả trong mùa khô đã tạo điều kiện cho việc quần cư của nhiều loại động thực vật
Vai trò phòng hộ đầu nguồn có tác dụng hạn chế lũ lụt cho vùng duyên hải miền Trung, do vậy bảo vệ và phát triển các khu rừng ven sông suối trong khu bảo tồn đóng vai trò hết sức quan trọng Hiện tại nguồn nước phong phú nên ven hầu hết các sông suối đều có thảm rừng che phủ ở các mức độ, nó sẽ
là nơi cư trú của động vật trong mùa khô và tác dụng quan trọng trong cân bằng điều hòa nguồn nước cho vùng hạ lưu Sông Ba
Với chế độ thủy văn khá đặc trưng đã tạo nên một hệ sinh thái động vật phong phú trong Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô
e Thảm thực vật rừng và tài nguyên rừng:
* Thảm thực vật rừng:
Trang 25Với đặc trưng đa dạng về địa hình, khí hậu, thủy văn đã nói trên hình thành hầu hết các kiểu thảm thực vật rừng đặc trưng cho khu vực chuyển tiếp giữa Tây Nguyên và khu vực duyên hải miền Trung, Khu bảo tồn thiên nhiên
Ea Sô có 4 kiểu rừng chính sau:
Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới; Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới; Rừng thưa cây họ dầu lá rộng nhiệt đới (rừng khộp); Trảng cỏ và trảng cỏ có cây gỗ, cây bụi rải rác, cụ thể như sau:
Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới
Kiểu rừng thường xanh chủ yếu phân bổ ở phía bắc suối Ea Puich từ độ cao 300-1.000m, hoặc rải rác ven sông suối như Ea Puich; Ea Hmlay; Ea Knel… có độ cao thấp hơn; tùy từng vị trí mà có kết cấu tầng tán khác nhau:
Tầng giữa gồm các loài Nhọc, Bứa, Lành ngạnh, Vừng…
Tầng dưới (gồm các loại thảm tươi) các loài như Lấu tuyến,
cỏ Lá tre, Táo rừng, Le nhỏ, Cỏ lào…
Trang 26
Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới
Đây là kiểu rừng chiếm đại đa số diện tích rừng trong khu bảo tồn
Kiểu rừng này phân bố hầu hết ở các độ cao, có thể xen kẻ với kiểu rừng trên, trong đó tỷ lệ cây rụng lá chiếm 25-75% trong tổ thành kết cấu của kiểu rừng này rất thay đổi ở từng vị trí trong khu vực nhưng điển hình nhất cũng có 3 tầng chính:
Tầng trên là các loài: Lành ngạnh, Bằng lăng, Quau, Gáo vàng, Trám, Căm xe, Giáng hương, Cà te…
Tầng giữ gồm các loài: Nhọc, Nhãn rừng, Thàu táu, Cò ke, Cóc rừng, Cơm nguội…
Tầng dưới (cây bụi thảm tươi) gồm các loài: Cỏ lá tre, Cỏ lào, Cỏ tranh, Cỏ họ gừng, Táo rừng, Le nhỏ…
Đặc biệt ở Khu bảo tồn còn có một số vùng có kiểu rừng nửa rụng lá rất đặc trưng với một số ưu hợp chính như: ưu hợp bằng lăng, ưu hợp Căm xe, ưu hợp Lành ngạnh, ưu hợp Giáng hương
Rừng thưa cây cây họ dầu lá rộng nhiệt đới (rừng khộp)
Trong khu vực còn tồn tại một diện tích rừng khộp không lớn, ở phía nam gần giáp sông Ea Krông Năng phân bố thành 2 cụm có kiểu rừng rất đặc trưng kết cấu thường có 3 tầng
Tầng trên cao từ 12-15m
Tầng giữa cao khoảng 7-8m
Tầng dưới (thảm cỏ) gồm cỏ tranh, Cỏ lào, Cù đèn, Cỏ trinh nữ,
Trang 27Đây là kiểu thảm thực vật chiếm diện tích khá lớn trong khu bảo tồn về nguồn gốc của nó có thể là nguyên sinh hoặc do tác động của con người tạo nên Phân bố chủ yếu ở phía nam suối Ea Puich, ở độ cao 200-300m, địa hình tương đối bằng phẳng
Về loài, ở các trảng cỏ chủ yếu là các loài như Cỏ tranh, Cỏ mật, Cỏ lồng vực, Cỏ chỉ, Cỏ cựa gà và nhiều loài cỏ khác theo từng khu vực
Một số trảng cỏ rải rác cây thân gỗ là những cây tái sinh sau khai thác như: Gáo, Giáng hương, Vừng, Cẩm lai đen… hoặc một số loài ưa sáng như:
Me rừng, Thầu táu, Trám, Cóc rừng… và xen một số loài cây bụi như Thành ngạnh, Táo rừng, Chà là núi…
Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô có một kiểu rừng đại diện cho rừng nhiệt đới và ngay cả ở các kiểu rừng này có các những đặc trưng khác với những khu vực khác đó là những khu rừng Căm xe, Bằng lăng, Lành ngạnh, Cẩm liên, Gáo vàng gần như thuần loài được phân bố khá điển hành trong khu bảo tồn
2.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội:
Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô nằm gọn trong địa giới hành chính của
xã Ea Sô, huyện Ea Kar, về mặt địa lý Khu bảo tồn có địa hình bằng phẳng nên thông thương dễ dàng với các cụm dân cư trong xã xung quanh
Dân số, dân tộc và lao động:
Dân cư vùng đệm Ea Sô phân bố tương đối tập trung, chỉ có số dân kinh tế mới từ các tỉnh phía bắc và miền trung vào định cư ở thành cụm hoặc rải rác trên diện tích đất nương rẫy
Trang 28Bảng 2.3: Dân số và lao động của 2 xã vùng đệm
động
Ghi chú
Ea Kar Ea Sô 1.786 7.701 3.721 3.980 3.820 M’Drăk Cư Prao 1.039 4.509 2.144 2.365 2.819
Tổng 02 xã 2.825 12.210 5.865 6.345 6.639
(Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo KTXH của hai xã năm 2006)
Tổng số lao động hai xã vùng đệm có 6.639 người, cho thấy tiềm năng lao động tại chỗ là rất lớn, tuy nhiên lực lượng lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp chân tay, chưa qua đào tạo mặt khác do cơ sở hạ tầng còn kém phát triển nên trình độ dân trí của 2 xã vùng đệm còn thấp
Phân bố dân cư nhìn chung dân cư trong toàn vùng sống tập trung theo các xã, thôn, buôn dọc theo đường quốc lộ Đăk Lăk - Phú Yên, các trục đường chính liên xã, liên thôn buôn do đã được xây dựng , do đó tình hình an ninh trật tự được đảm bảo, dân số của 2 xã vùng đệm liên tục tăng làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô theo bảng sau:
Bảng 2.4 Bảng tổng hợp về tình hình dân số của 2 xã vùng đệm Ea Sô và
Cư Prao từ năm 1999 đến 2006
Trang 29Theo bảng trên thì dân số của 2 xã vùng đệm Ea Sô và Cư Prao liên tục tăng qua các năm, cho nên sức ép về lượng thực, thực phẩm, nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu cần thiết của người dân cùng tăng theo điều này đồng nghĩa với sức ép vào Khu bảo tồn ngày một lớn và đã gây ra không ít khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng cũng như công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong Khu bảo tồn
Đặc điểm thành phần dân tộc:
Toàn vùng có 14 dân tộc thiểu số cùng sinh sống gồm: Đồng bào dân tộc tại chỗ như: Ê Đê, M’Nông, Ja Rai, Xê Đăng…; Đồng bào dân tộc thiểu
số có nguồn gốc từ phía bắc và miền trung di cư tự do vào sinh sống như:
Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Mường, Cao Lan… Các dân tộc nói trên vẫn còn giữ được nhiều phong tục tập quán và truyền thống đặc trưng của mình như tinh thần cộng đồng, lễ hội cồng chiêng, chế độ mẫu hệ… đây là nét đặc trưng
cơ bản ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần của cộng đồng trong vùng
Ngoài các dân tộc trên, thì dân tộc Kinh vẫn là dân tộc chiếm đa số với hơn 50% tổng số dân Dân cư trong vùng đa số là dân nhập cư từ các tỉnh, thành, địa phương trong cả nước đến định canh định cư và sống cùng các dân tộc tại chỗ Sự hiện diện của số đông người dân tộc Kinh trong khu vực, đã góp phần thúc đẩy công tác định canh, định cư, mở mang đất đai, sản xuất nông nghiệp trình độ cao, đặc biệt là sản xuất cây lúa nước và các loại hoa màu khác, góp phần phát triển giao lưu hàng hóa, mở rộng thành phần kinh tế dịch vụ, mua bán, trao đổi trong toàn vùng
Lao động và việc làm:
Ở khu vực vùng đệm lao động chủ yếu là nông nghiệp, bình quân mỗi
hộ từ 2 - 3 lao động, tuy nhiên trình độ lao động còn thấp, hiệu suất lao động chưa cao, chưa nắm bắt và áp dụng được các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
Trang 30trong sản xuất như: biện pháp thâm canh tăng năng suất, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện thực tế…
Tình hình kinh tế và đời sống trong vùng đệm:
Là các xã vùng ba đặc biệt khó khăn, từ khi thành lập đến nay cơ cấu kinh tế của xã đã có nhiều chuyển biến tích cực theo cơ chế thị trường, các chỉ tiêu đề ra năm sau đều cao hơn năm trước, thể hiện qua tổng thu nhập của địa phương và mức thu nhập bình quân của người dân trong xã như: lương thực bình quân đầu người khoảng 600kg/người/năm, thu nhập bình quân đầu người khoảng 4.500.000 đồng/người/năm, cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm tương đối ổn định
Tuy nhiên mục tiêu kinh tế còn phát triển chậm, sản phẩm hàng hóa chưa cao, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhưng thiếu đầu tư, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm, trình độ thâm canh còn thấp, chưa khai thác hết tiềm năng đất đai, hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết khí hậu, nhiều năm liền bị hạn hán mất mùa dẫn đến đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Hiện trong vùng đệm còn 1.147 hộ đói nghèo, chiếm trên 40% tổng dân số của vùng, còn lại là mức sống tạm đủ ăn hoặc trung bình và khá (số liệu năm 2006)
Thực trạng sản xuất nông nghiệp:
Trồng trọt:
+ Lúa nước 1- 2 vụ: Lúa nước trong vùng chiếm một diện tích nhỏ, lúa
2 vụ chủ yếu tập trung một số ít ở ven suối hoặc sình lầy, với diện tích 132,5
ha, năng suất khoảng trên 55 tạ/ha
+ Cây hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày: Bao gồm các loại cây đậu, bắp, sắn lai, mía với diện tích 10.468 ha Sản xuất cây hàng năm không đồng đều, có nơi còn khá thấp, loài cây trồng thường không ổn định, do đó
Trang 31cần định hướng cây trồng khác có hiệu quả hơn Cây công nghiệp ngắn ngày như Mía, Bông đang ngày càng phát triển, nhưng do thị trường tiêu thụ còn bấp bênh nên chưa kích thích được người dân mạnh dạn đầu tư
+ Cây công nghiệp dài ngày: Chủ yếu là cây cà phê và cây điều, đây là hai loại cây mang lại giá trị kinh tế hàng hóa cao, song những năm gần đây do giá cả thị trường thấp, điều kiện nước tưới và thời tiết không thuận lợi dẫn đến một số nơi phải phá đi để thay thế các loại cây trồng khác
Như vậy Nông nghiệp là ngành sản xuất chính của hai xã vùng đệm với tổng sản lượng lương thực năm 2006 đạt 10.628tấn Trong đó cây ngắn ngày, cây lúa vẫn là cây trồng chủ yếu Áp lực dân số ngày càng lớn, vì vậy để giải quyết được vấn đề lương thực cần phải có sự đầu tư về công trình thủy lợi nhỏ
để tăng diện tích lúa 2 vụ, quy hoạch sử dụng đất hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp
Chăn nuôi:
Tập quán chăn nuôi mang tính tự cung, tự cấp là chính, chăn nuôi còn ở trình độ thấp Chưa quan tâm nhiều đến công tác phòng chống dịch bệnh, chuồng trại tuy có nhưng chưa được chú ý đúng mức, chưa chú trọng đến sản phẩm hàng hóa, thiếu vốn đầu tư nên chưa nâng cao được chất lượng và hiệu quả dẫn đến thu nhập không đáng kể
Điều kiện tự nhiên, đất đai và khả năng tạo nguồn thức ăn ở đây rất thuận lợi nếu được đầu tư hỗ trợ vốn, giống và khoa học kỹ thuật thì ngành chăn nuôi sẽ phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa
Một số loài vật nuôi chính như: trâu, bò, dê, gà, vịt… số lượng từng loài được thống kê như sau:
Trang 32Bảng 2.5: Tổng hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm
(con)
Bò (con)
Lợn (con)
Dê (con)
Gia cầm (con)
Tuy nhiên, được sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng như Chính quyền địa phương các xã, Kiểm lâm khu bảo tồn, Hạt kiểm lâm các huyện…đã tích cực tuần tra, tuyên truyền, vận động nhân dân tự nguyện ký cam kết không phá rừng và săn bắt các loại lâm sản trái phép, đã làm cho hiện tượng khai thác gỗ, khai thác lâm sản, phá rừng làm rẫy giảm một cách đáng kể
Trang 33xa đã tạo nên cơ sở vật chất tương đối ổn định cho các xã, các xã đã có điện lưới, trạm xá, trường học và bưu điện văn hóa xã
Cùng với sự phát triển y tế trong toàn vùng Tây Nguyên và tỉnh Đăk Lăk, công tác y tế của các xã vùng đệm đã được quan tâm Việc chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh cho người dân đã có nhiều tiến bộ Các trạm y
tế xã đều có từ 3-4 cán bộ làm việc, ngoài ra mạng lưới y tế còn có các cán bộ
ở tại các thôn, buôn thực hiện sơ khám ban đầu cho người bệnh
Tuy nhiên trong vùng đệm vẫn còn có một số hộ dân sống rải rác, một
số hộ đồng bào dân tộc ít người sống vẫn còn lạc hậu, hủ tục; các trạm xá, trường học còn bán kiên cố Đây là những khó khăn cho công tác y tế, giáo dục cần được chính quyền địa phương các cấp quan tâm
Giao thông:
Trong khu vực vùng đệm đều có đường tỉnh lộ Đăk Lăk - Phú Yên đi qua, đây là yếu tố thuận lợi phục vụ cho việc giao thông đi lại, trao đổi hàng hóa và thúc đẩy sản xuất phát triển
Đường liên xã, liên thôn buôn đã tạm đủ nhưng chất lượng chưa đảm bảo Đường liên xã nhìn chung còn tốt, hiện đang có một số đoạn xuống cấp, lầy lội Đường liên thôn buôn thì rất xấu, đã xuống cấp trầm trọng, nhất là vào mùa mưa đường rất khó đi, ảnh hưởng nhiều đến sản xuất mùa vụ và thu hái nông sản, trao đổi hàng hóa cần đầu tư tu sửa và bảo dưỡng
Điện, nước sạch:
Hai xã đã có điện lưới quốc gia về đến thôn, buôn, chỉ có một số ít thôn buôn ở khá sâu sát khu bảo tồn chưa có điện Tuy nhiên điện ở đây chủ yếu chỉ phục vụ cho sinh hoạt còn đối với sản xuất thì còn rất hạn chế
Đa số các hộ dùng nước giếng không hợp vệ sinh, một số buôn ở xã Cư
Trang 34đầu tư nhưng hiện nay đã xuống cấp không sử dụng được, người dân vẫn phải
sử dụng nước sông suối
Dịch vụ bưu chính viễn thông:
Hiện nay các xã đều đã có bưu điện văn hóa xã, ngoài phục vụ nhân dân trong việc thông tin liên lạc mà đây còn là nơi đọc sách báo góp phần nâng cao đời sống, văn hóa, tinh thần cho người dân
Chợ:
Hầu hết các xã đều có chợ họp hàng ngày, rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tại địa phương
Trang 35CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu nhằm đánh giá được đặc điểm đa dạng sinh học và thực trạng bảo tồn, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp bảo tồn dựa vào cộng đồng
tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, tỉnh Đăk Lăk
3.2 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
Do điều kiện nhân lực, vật lực, kinh phí và đặc biệt là nội dung và phương pháp của đề tài đòi hỏi rất nhiều thời gian nên đối tượng và phạm vi nghiên cứu được giới hạn cụ thể như sau:
Điều tra, đánh giá tính đa dạng sinh học trong vùng lõi khu BTTN Ea
Sô tỉnh Đăk Lăk là kết quả kế thừa của các đề tài nghiên cứu trước và giới
Trang 36hạn mức độ nghiên cứu ở các loài thực vật bậc cao có mạch, động vật thì chỉ nghiên cứu các loài thú, chim, bò sát ếch nhái
Đánh giá vùng đệm tại buôn Ea Puk, thôn 12, thôn 15, xã Ea Sô huyện
Ea Kar, Buôn Pa, Buông Yô, Buôn Hoang xã Cư Prao huyện M’Đrăk đây là 6 thôn, buôn có nhiều ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô của 2 xã vùng đệm Ea Sô, huyện Ea Kar và Cư Prao, huyện M’Đrăk
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tổng hợp thông tin, tài liệu, phản ảnh được thực trạng đa dạng sinh học của Khu BTTN Ea Sô (sinh cảnh, thực vật, động vật)
- Phân tích đánh giá các bên liên quan để phản ảnh thực trạng công tác bảo tồn đa dạng dinh học tại Khu BTTN Ea Sô
- Đánh giá tình hình phát triển KT-XH vùng đệm liên quan đến hoạt động bảo tồn của Khu BTTN Ea Sô
- Hệ thống hóa các nhân tố kinh tế, xã hội có tác động đến công tác bảo tồn
- Hệ thống hóa các nguyên nhân ảnh hưởng đến bảo tồn tại Khu bảo tồn
và đề xuất các giải pháp cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng
3.4 Phương pháp tiến hành:
3.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp:
Tài liệu thứ cấp là những tài liệu được tổng hợp và xử lý của các cơ quan cấp tỉnh, huyện, xã và những nghiên cứu khoa học có trước Những tài liệu thu thập là tài liệu nghiên cứu có liên quan về đa dạng sinh học và kỹ thuật, phương pháp quản lý rừng dựa vào cộng đồng các số liệu các vụ vi
Trang 37phạm lâm luật từ năm 2004-2006; các số liệu về khí tượng thủy văn trong khu vực 1999-2006; các số liệu về diễn biến dân số của 2 xã vùng đệm khu BTTN
Ea Sô từ năm 1999-2006
3.4.2 Khảo sát thu thập số liệu:
Nguồn số liệu được thu thập ngoài thực địa bằng các kỹ năng và phương pháp dưới dây:
a Phương pháp chọn các thôn, buôn để nghiên cứu
- Các thôn được lựa chọn là các thôn, buôn thuộc 02 xã vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, là những thôn buôn mà diện tích đất sản xuất
và đất ở của họ nằm cạnh Khu bảo tồn
- Người dân của các thôn, buôn này có một số hoạt động ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên của khu bảo tồn như khai thác lâm sản ngoài gỗ, động vật, cây gỗ và những loại lâm sản khác
- Trong các thôn, buôn được lựa chọn thì một nửa là các thôn, buôn các
hộ nhập cư và một nửa là các thôn, buôn là các hộ định cư từ lâu để có sự đa dạng về số liệu thu thập và phân tích số liệu
- Các thôn buôn lựa chọn là những thôn buôn có số người dân sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng lớn hoặc các thôn buôn này có vị trí tự nhiên rất thuận lợi trong việc xâm nhập vào Khu bảo tồn
Trên cơ sở các đặc điểm trên chúng tôi tiến hành chọn thôn Ea Puk, thôn 12, thôn 15 xã Ea Sô, huyện Ea Kar đây là các thôn buôn có đồng bào dân tộc tại chỗ nhưng cũng được nhập cư đến thôn, buôn vào những năm trước khi thành lập Khu bảo tồn khoảng từ 1990 đến 1995; Buôn Pa, Buôn
Yô, Buôn Hoang xã Cư Prao, huyện M’Đrăk, đây là những buôn có đặc điểm trên 90% là người dân tộc tại chỗ và người dân đã sinh sống tại địa phương từ
Trang 38b Phương pháp điều tra thu thập số liệu:
Do thời gian hạn chế nên việc điều tra đánh giá giá trị đa dạng sinh học của khu bảo tồn chỉ kế thừa kết quả của dự án đầu tư Khu bảo tồn thiên nhiên
Ea Sô là chủ yếu, chỉ kiểm tra và bổ sung cập nhật một số thông tin ngoài thực địa về hiện trạng rừng, thực vật bậc cao, động vật có xương sống
- Đánh giá nông thôn để xác định mức độ ảnh hưởng của cộng đồng đến tài nguyên Khu bảo tồn:
Hiện nay các phương pháp được sử dụng phổ biến là đánh giá nhanh nông thôn (RRA- Rapid Rural Appraisal) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA- Participatory Rural Appraisal) Để kết quả đạt được vẫn đảm bảo
có sự tham gia đồng thời đảm bảo thực hiện đúng thời gian chúng tôi sử dụng đồng thời cả hai phương pháp
- Các công cụ sử dụng trong quá trình đánh giá nông thôn + Ma trận về tầm quan trọng và mức độ sử dụng các nhóm tài nguyên;
bình chọn ưu tiên sử dụng lâm sản ngoài gỗ, động vật rừng, thực vật thân gỗ của cộng đồng thôn buôn
+ Sơ đồ tiếp cận tài nguyên
+ Sơ đồ venn xác định sự tham gia của các bên liên quan trong quản lý
và bảo vệ rừng
+ Phiếu đánh giá phân tích kinh tế hộ + Phiếu phỏng vấn nhóm hộ tiếp cận tài nguyên
- Phương pháp chọn người dân tham gia thảo luận và phỏng vấn
+ Về số lượng: mỗi thôn buôn là 10 hộ gia đình + Thành phần: gồm đại diện Ban tự quản thôn, già làng, đại diện các tổ chức đoàn thể và những người lớn tuổi có kinh nghiệm trong sản xuất nông,
Trang 39lâm nghiệp trong thôn buôn, đặc biệt là có khả năng trao đổi giao tiếp bằng tiếng phổ thông và đại diện về thành phần (nam, nữ, già, trẻ)
+ Trong quá trình thảo luận đã chia ra làm ba nhóm thảo luận theo chủ
đề nhóm thực vật thân gỗ, nhóm lâm sản ngoài gỗ, nhóm động vật rừng
+ Đánh giá phân tích kinh tế hộ của 10 hộ gia đình/1buôn; mỗi buôn đảm bảo 60% các hộ thoát nghèo và 40% các hộ nghèo (theo chuẩn nghèo mới của Bộ Lao động TBXH là thu nhập <200.000 đồng/khẩu/tháng)
+ Phỏng vấn nhóm hộ theo bảng câu hỏi phụ lục 1 nhằm phát hiện tình
hình tiếp khai thác sử dụng các loài, nhóm loài, cũng như hiểu biết của các nhóm hộ gia đình tại cộng đồng các thôn buôn về mức độ tiếp cận tài nguyên
+ Kết quả phỏng vấn hộ sẽ cung cấp số liệu cho việc xác định số lượng khai thác theo từng nhóm tài nguyên bị tác động (biến phụ thuộc: yikt), và chiều hướng cùng như mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng (các biến phụ thuộc: xi)
- Phương pháp chọn người tham gia hội thảo đánh giá thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học của các bên liên quan 2 huyện, 2 xã, 6 thôn, buôn và đại diện Khu bảo tồn
- Đại diện cơ quan cấp huyện: gồm 01 người đại diện Hạt kiểm lâm huyện, 01 người đại diện Trạm khuyến nông, 01 người đại diện cho Phòng kinh tế huyện
- Đại diện cơ quan cấp xã: gồm 01 đại diện lãnh đạo UBND xã, 01 đại diện Ban lâm nghiệp và 01 cán bộ khuyến nông xã
- Đại diện thôn buôn: gồm 01 đại diện Ban tự quản thôn và 01 người dân tham gia
- Đại diện Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô: gồm 01 đại diện
Trang 403.4.3 Tổng hợp thông tin, xử lý phân tích số liệu và viết báo cáo:
- Sử dụng Sách đỏ Việt Nam và tra cứu những loài động vật, thực vật bị
đe dọa mức quốc gia và toàn cầu
- Tổng hợp các dữ liệu phỏng vấn hộ, nhóm hộ và tính toán trên phần mềm Microsoft Excel 7.0
- Xử lý, phân tích tài liệu điều tra xã hội theo các nội dung nghiên cứu -Phân tích hồi quy đa biến bằng phần mềm Statgraphic Plus 3.0 để xác định mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đối với số lượng các loài thuộc nhóm tài nguyên được quan tâm nghiên cứu
- Mã hóa tất cả các biến tài nguyên và nhân tố ảnh hưởng: Đối với các biến số số lượng thì giữ nguyên giá trị đưa vào tính toán trực tiếp Với các biến xã hội có tính định tính thì được mã hóa theo cấp và sắp xếp theo một
chiều hướng nhất định tại phụ lục 2
Tiêu chuẩn để đánh giá các biến số độc lập có tồn tại quan hệ với các biến phụ thuộc bằng tiêu chuẩn t với mức sai P<0,05 Kiểm tra sự tồn tại của
hệ số tương quan R bằng tiêu chuẩn F với P < 0,05 Các biến số có thể độc lập hoặc có mối quan hệ với nhau trong việc ảnh hưởng đến biến phụ thuộc trong
mô hình, theo đó có thể sử dụng biến đơn hoặc biến tổ hợp
Lần lượt phân tích các mối quan hệ giữ lượng khai thác của các nhóm tài nguyên thực vật thân gỗ (TVTG), nhóm lâm sản ngoài gỗ (LSNG), nhóm động vật rừng (ĐVR) của cộng đồng người dân các thôn buôn thuộc 2 xã với tất cả các nhân tố tác động Sau đó đưa ra những điểm chung từ đó đưa ra những nhân tố tác động và các giải pháp khắc phục