1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa

130 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Các Làng Truyền Thống Gắn Với Du Lịch Di Sản Tại Huyện Đan Phượng Trong Bối Cảnh Đô Thị Hóa
Tác giả Phạm Văn Khôi
Người hướng dẫn TS. Vũ Hoài Đức
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý phát triển đô thị
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 4,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG (13)
    • 1.1. Khái niệm và thuật ngữ (14)
    • 1.2. Tổng quan tài liệu (15)
    • 1.3. Quá trình hình thành và phát triển đô thị tại Đan Phƣợng (18)
      • 1.3.1. Quá trình hình thành (18)
      • 1.3.2. Đánh giá tiềm năng khu vực nghiên cứu trong bối cảnh đô thị hóa (19)
      • 1.3.2. Một số loại hình đô thị (22)
      • 1.3.3. Tác động của quá trình đô thị hóa (23)
    • 1.4. Giá trị Làng xã truyền thống của huyện Đan Phƣợng, những yếu tố và tác động đến Làng, xã trong quá trình đô thị hóa (28)
      • 1.4.1. Những giá trị Làng xã truyền thống của huyện Đan Phƣợng (29)
      • 1.4.2. Những yếu tố và tác động đến Làng, xã trong quá trình đô thị hóa (43)
    • 1.5. Du lịch di sản (46)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG QUẢN LÝ BẢO TỒN LÀNG XÃ GẮN DU LỊCH DI SẢN TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA (49)
    • 2.1. Cơ sở pháp lý (49)
      • 2.1.1. Các văn bản pháp luật của nhà nước (49)
      • 2.1.2. Các văn bản dưới luật (50)
    • 2.2. Cơ sở lý luận (51)
      • 2.2.1. Làng xã truyền thống Việt Nam theo Phạm Hùng Cường (51)
      • 2.2.2. Cơ sở lý luận của sự phát triển đô thị (57)
      • 2.2.3. Lý thuyết phát triển du lịch bền vững (62)
      • 2.2.4. Lý luận về đô thị du lịch (67)
    • 2.3. Cơ sở thực tiễn (69)
      • 2.3.1. Kinh nghiệm nước ngoài (69)
      • 2.3.2. Bài học trong nước (72)
  • CHƯƠNG 3. CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG TRONG QUẢN LÝ BẢO TỒN - PHÁT HUY GIÁ TRỊ LÀNG TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN ĐAN PHƢỢNG GẮN VỚI DU LỊCH DI SẢN TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA (76)
    • 3.1. Đánh giá tiềm năng phát triển đô thị dựa trên động lực xây dựng và bảo tồn di sản văn hóa (76)
      • 3.1.1. Phát triển du lịch tại Đan Phƣợng dựa trên phát triển hạ tầng giao thông (0)
      • 3.1.2. Du lịch di sản bền vững (79)
      • 3.1.3. Dịch vụ hệ sinh thái gắn với du lịch di sản khu vực (80)
    • 3.2. Các kịch bản phát triển đô thị với bảo tồn và phát huy di sản văn hóa địa phương nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc trên địa bàn huyện Đan Phượng (83)
      • 3.2.1. Kịch bản đô thị du lịch cộng đồng (83)
      • 3.2.2. Kịch bản phát triển du lịch gắn với bảo tồn phát huy di sản văn hóa (87)
      • 3.2.3. Kịch bản phát triển không gian vùng huyện theo hướng phân vùng phát triển (91)
    • 3.3. Chương trình hành động trong quản lý bảo tồn - phát huy giá trị Làng truyền thống tại huyện Đan Phƣợng gắn với du lịch di sản trong bối cảnh đô thị hóa (93)
      • 3.3.1. Du lịch di sản trong bối cảnh đô thị hóa tại huyện Đan Phƣợng (93)
      • 3.3.2. Chương trình hành động trong quản lý , bảo tồn, phát huy giá trị Làng truyền thống trong bối cảnh đô thị hóa (95)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (99)
  • PHỤ LỤC (100)

Nội dung

Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG

Khái niệm và thuật ngữ

Làng truyền thống là nơi tập hợp cư dân theo quan hệ láng giềng, sống chung trên một khu vực với đất ở và đất trồng trọt, tạo thành các gia đình nhỏ độc lập Đây là đơn vị xã hội cơ bản, trong khi xã là đơn vị hành chính có thể bao gồm một hoặc nhiều làng Dưới xã có các thôn, và dưới làng có các xóm Mặc dù xã có thể thay đổi qua các giai đoạn, làng vẫn giữ vai trò là đơn vị cơ bản của xã, thể hiện rõ nét trong khái niệm "làng xã" - biểu trưng cho cộng đồng dân cư truyền thống.

Di sản kiến trúc là những công trình có giá trị lịch sử và nghệ thuật, phản ánh đặc trưng văn hóa của một dân tộc hay quốc gia Những công trình này không chỉ ghi dấu ấn trong lịch sử xây dựng mà còn thể hiện sự sáng tạo và nghệ thuật kiến tạo độc đáo.

Di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm vật chất có giá trị về lịch sử, văn hóa và khoa học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia (Quốc hội khóa, 2001, Luật Di sản Văn hóa, 2001).

Di sản phi vật hóa vật thể là sản phẩm tinh thần mang giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, được bảo tồn qua trí nhớ, chữ viết và truyền miệng Nó bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết nghề thủ công truyền thống, tri thức y dược cổ truyền, văn hóa ẩm thực, trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác.

Du lịch di sản đang phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam Loại hình du lịch này tập trung vào việc khai thác giá trị di sản văn hóa, giúp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Các hình thức du lịch di sản đa dạng như du lịch tâm linh, du lịch cội nguồn và du lịch trải nghiệm văn hóa Đô thị hóa là quá trình gia tăng dân số tại các thành phố, thường do di cư từ nông thôn hoặc mở rộng diện tích đô thị Đô thị di sản được định nghĩa là những khu vực đô thị có cấu trúc và vị trí được bảo tồn nguyên vẹn, bao gồm hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, phát triển theo nguyên tắc bảo tồn và hòa hợp với thiên nhiên.

Tổng quan tài liệu

Ở Việt Nam, Làng là khu định cư của cộng đồng, lớn hơn xóm nhưng nhỏ hơn thị trấn, với dân số từ vài trăm đến vài ngàn người Làng thường là nơi sinh hoạt xã hội và sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng có Làng phi nông nghiệp Trong bối cảnh nông nghiệp lúa nước, Làng chủ yếu xuất hiện ở nông thôn Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa hiện nay đang làm thay đổi hình ảnh Làng truyền thống Cần có giải pháp để người dân bảo tồn và phát triển du lịch, gắn với sinh kế, nhằm bảo vệ và phát huy giá trị truyền thống trong xã hội hiện đại Tài liệu của PGS.TS.KTS Phạm Hùng Cường cung cấp cái nhìn về lịch sử và giá trị vật thể, phi vật thể của Làng xã truyền thống ở Đồng bằng sông Hồng.

Làng trong tâm thức của người Việt gắn liền với hình ảnh quen thuộc như cây đa, bến nước, sân đình và cổng làng, tạo nên cấu trúc Làng truyền thống Những không gian kiến trúc này không chỉ phản ánh phong tục tập quán mà còn lưu giữ di sản văn hóa và giá trị truyền thống Làng xã từ xưa đến nay đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị và nâng cao đời sống người dân, góp phần vào sự ổn định xã hội.

2006, PGS.TS.KTS Phạm Hùng Cường đã đề xuất nhằm biến cấu trúc đóng của Làng thành cấu trúc mở, với 5 nguyên tắc chính đó là:

Thiết lập tuyến đường bao quanh Làng là giải pháp chủ đạo, giúp kết nối Làng xã với các khu vực bên ngoài, đồng ruộng, và các hoạt động kinh tế, sản xuất, đồng thời hỗ trợ sự phát triển của điểm dân cư mở rộng.

(2) Nối thông các ngõ cụt ra đường bao, tạo liên kết giao thông dạng mạng;

(3) Hệ thống thoát nước không dồn về trung tâm mà phân tán theo đường nối ngõ cụt với đường bao, dễ thu gom và xử lý nước thải;

Một vùng biên là không gian mở thiết yếu cho sự phát triển của các công trình công cộng như chợ, trường học, khu thể thao và khu cây xanh Đây cũng là đất dự trữ cho việc phát triển các chức năng và quy mô mới trong tương lai.

Thiết lập các điểm sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung giúp tách biệt khu sản xuất quy mô lớn và ô nhiễm ra khỏi Làng xã Cấu trúc mở này tạo điều kiện cho việc cải tạo và bảo tồn các công trình lịch sử cũng như các cảnh quan có giá trị trong Làng xã.

Gần đây, NXB Xây dựng (2021) đã công bố nội dung liên quan đến "Quy hoạch và bảo tồn bản sắc văn hóa trong xây dựng nông thôn mới ở vùng Đồng bằng sông Hồng" Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa phát triển hạ tầng và bảo vệ giá trị văn hóa địa phương nhằm tạo ra một môi trường sống bền vững và hài hòa cho cộng đồng.

PGS.TS.KTS Phạm Hùng Cường đã giới thiệu các nguyên tắc và giải pháp quy hoạch, thiết kế kiến trúc, cảnh quan và hạ tầng trong xây dựng nông thôn mới Mục tiêu của tài liệu là nâng cao chất lượng môi trường sống và tổ chức không gian Làng xã có bản sắc, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của nông thôn Tài liệu được chia thành 6 chương, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chiến lược cải thiện không gian sống tại các khu vực nông thôn.

(1) Bản sắc văn hóa trong Làng xã truyền thống vùng Đồng bằng sông Hồng,

(2) Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản cộng đồng trong Làng xã truyền thống,

(3) Mô hình phát triển kinh tế nông thôn từ tiềm năng văn hóa,

(4) Quy hoạch nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hóa,

(5) Thiết kế cảnh quan và giữ gìn bản sắc văn hóa,

(6) Quản lý quy hoạch có sự tham gia tích cực của cộng đồng

Bài viết của PGS.TS.KTS Phạm Hùng Cường trên Tạp chí Kiến trúc tập trung vào việc bảo tồn thích ứng, một phương pháp quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản làng xã truyền thống Nội dung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa bảo tồn di sản và phát triển bền vững, từ đó tạo ra những giải pháp hiệu quả cho việc gìn giữ văn hóa địa phương.

10, 2016 Bài báo khoa học này đã đề cập đến 2 nhóm giá trị hệ thống di sản, đó là

Nhóm 1 là hệ thống di sản văn hóa vật thể (gồm: Giá trị di sản về cấu trúc: Cấu trúc không gian, cách thức phát triển và hình thành Làng; Giá trị về kiến trúc nhà ở truyền thống; Giá trị về kiến trúc các công trình công cộng, tôn giáo, tín ngƣỡng: Gồm các công trình tôn giáo, tín ngƣỡng: Đình, chùa, miếu, phủ, văn chỉ, nhà thờ họ…và các công trình phục vụ cộng đồng: Giếng, ao, cổng Làng, lũy tre, đường, cầu, quán…) Nhóm 2 là iá trị di sản phi vật thể và vật thể khác (gồm:Danh nhân: các vị vua, các anh hùng, nhân vật có công với nước, với Làng; Phong tục, tập quán, tín ngưỡng: Lễ hội, ma chay, cưới xin, lệ Làng, lễ tết…; Lối sống cộng đồng: Quan hệ láng giềng, dòng họ, gia đình; Truyền thuyết, ngữ văn truyền miệng; Văn bản: Gia phả, văn bia; Phương thức sản xuất, nghề truyền ương thống; Ẩm thực; Trang phục truyền thống; Đồ dùng gia đình truyền thống; Nghệ thuật biểu diễn: Tuồng, chèo, múa rối, quan họ… Bài báo cũng đã đƣa ra vài hạn chế của công tác bảo tồn di sản hiện nay và đƣa ra một số giải pháp để tiếp cận và bảo tồn di sản

Trong bài viết của Cao Thị Hải Bắc, tác giả trình bày phương án bảo tồn không gian Làng xã tại một khu đô thị cụ thể Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, với địa chỉ Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, Tập 36, năm 2016.

Số 2 (2020) 43-57“Phương án bảo tồn không gian Làng trong lòng đô thị trung tâm tỉnh Bắc Ninh” (tham khảo mô hình bảo tồn Làng Hahoe của Hàn Quốc) Nội dung tài liệu này gồm 6 mục, kết quả nghiên cứu tác giả đã thực nêu ra 3 vấn đề chính: Thứ nhất, về thực trạng các Làng thuộc khu vực đô thị trung tâm tỉnh Bắc Ninh hiện nay; thứ hai các nôi dung chính cần đƣợc bảo tồn tại các Làng trong khu vực đô thị trung tâm tỉnh Bắc Ninh; thứ ba, về mô hình bảo tồn Làng Hahole của Hàn quốc (Cao Hoài Bắc, 2020)

Các nghiên cứu hiện nay đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn thích ứng và phát huy giá trị di sản của các làng xã truyền thống trong bối cảnh đô thị hóa Việc giữ gìn những giá trị lịch sử không chỉ là trách nhiệm của chính quyền địa phương mà còn cần sự tham gia tích cực của người dân Để bảo tồn và phát triển du lịch gắn liền với sinh kế của cộng đồng, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và người dân Điều này sẽ giúp các giá trị truyền thống của làng Việt tồn tại lâu dài, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay.

Quá trình hình thành và phát triển đô thị tại Đan Phƣợng

1.3.1 Quá trình hình thành Đan Phƣợng là một vùng đất cổ, theo sách Đại Nam nhất thống chí, tên huyện có từ thể kỷ XIII (thời vua Trần Thái Tông - 1246); đến thời thuộc Minh có tên là Đan Sơn, thuộc châu Từ Liêm, phủ Giao Châu Sang thời Hậu Lê, Đan Phƣợng thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Năm 1831, vua Minh Mạng điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập các tỉnh mới Huyện đƣợc tách ra thành huyện riêng vào năm 1832 vẫn thuộc phủ Quốc Oai Đến năm 1888, sau khi vua Đồng Khánh cắt

Hà Nội cho Pháp, huyện Đan Phƣợng đƣợc nhập về phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông

Bảng 1.1 Địa giới hành chính của huyện Đan Phượng từ 1945 đến nay

Thời gian Tỉnh, thành phố

Tám (1945) thuộc tỉnh Hà Đông

Từ tháng 3/1947 thành phố Hà Nội

Tháng 5/1948 đến tháng 10/1948 thuộc huyện Liên Bắc, tỉnh Lƣỡng Hà

Từ tháng 10/1948 đến tháng 3/1954 thuộc huyện Liên Bắc, tỉnh Lƣỡng Hà

Từ tháng 10/1948 đến tháng 3/1954: thuộc bắc Liên Bắc do Ban cán sự bắc Liên Bắc nắm

Tháng 4/1954, thuộc tỉnh Sơn Tây

Ngày 20/4/1961 thuộc tỉnh Hà Đông

Ngày 21/4/1965 thuộc tỉnh Hà Tây

27/12/1975 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình

Ngày 29/12/1978 thành phố Hà Nội quản lý

Ngày 12/8/1991 thuộc tỉnh Hà Tây ngày 01/8/2008 thuộc thành phố Hà Nội quản lý cho đến ngày nay

(Nguồn :Tác giả tổng hợp)

Hình 1.1 Vị trí, địa điểm nghiên cứu

Đánh giá tiềm năng khu vực nghiên cứu trong bối cảnh đô thị hóa là cần thiết, đặc biệt trong việc xác định vị thế của huyện Đan Phượng trong quá trình phát triển đô thị Việc này càng trở nên quan trọng sau khi Quy hoạch Chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 được phê duyệt, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả cho khu vực.

Hà Nội đã đẩy nhanh việc triển khai các đồ án quy hoạch phân khu đô thị và quy hoạch chi tiết, theo Quyết định số 1259/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/7/2011, nhằm tạo cơ sở quản lý và thực hiện các dự án đầu tư Điều này không chỉ giúp quản lý hiệu quả hơn mà còn là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của thành phố đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Các tuyến đường động lực

6 Đường Tây Thăng Long a.Tài nguyên du lịch nhân văn Đan Phƣợng là có bề dày lịch sử lâu đời và truyền thống cách mạng, là nơi hội tụ nhiều danh nhân, là quê hương có phong tục tập quán phong phú Huyện có

Trong tổng số 155 di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật có giá trị, có 64 di tích đã được xếp hạng, bao gồm 01 di tích quốc gia đặc biệt, 37 di tích cấp quốc gia và 26 di tích cấp tỉnh Số di tích còn lại, 91 di tích, vẫn chưa được xếp hạng.

Đan Phượng không chỉ nổi bật với các di tích lịch sử mà còn mang đậm nét văn hóa truyền thống qua các lễ hội đầu xuân diễn ra hàng năm tại các xã, thị trấn Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, huyện còn tự hào với những nghề truyền thống lâu đời như sản xuất bánh kẹo ở xã Song Phượng, chế biến giò chả tại xã Tân Hội, và nem ở thị trấn Phùng Những làng nghề này không chỉ là di sản văn hóa quý giá mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch địa phương.

Đền Văn Hiến, tọa lạc tại xã Hạ Mỗ, là nơi thờ cúng danh nhân Tô Hiến Thành (1102-1179), một vị Thái úy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, phục vụ dưới ba triều vua Lý Thần Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông.

Đình Vạn Xuân, tọa lạc tại xã Hạ Mỗ, là một ngôi đình cổ mang kiến trúc độc đáo kiểu “nội vương, ngoại quốc” Ngôi đình này gắn liền với lịch sử thời Lý Bát Lang và Hậu Lý Nam Đế, những vị quân vương đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Lương Đồng thời, Đình Vạn Xuân cũng liên quan đến thành cổ Ổ Diên, kinh đô của nhà nước Vạn Xuân vào thế kỷ VI.

Chùa Hải Giác, nằm tại xã Hạ Mỗ, là một ngôi chùa cổ kính với kiến trúc kiểu trăm gian và nhiều pho tượng độc đáo Nơi đây cũng là trụ sở của nhà sư Thanh Trang, người đã tham gia cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do Vương Quốc Chính lãnh đạo và hy sinh anh dũng tại chùa vào năm 1898.

- Đền Vân Môn (xã Trung Châu) Di tích lịch sử cấp quốc gia, nằm bên hữu ngạn sông Hồng, nơi thờ Hai Bà Trƣng, nữ anh hùng dân tộc

Chùa Đôi Hồi, tọa lạc tại xã Song Phượng, là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Cơ quan báo Cứu quốc của Mặt trận Việt Minh trong thời kỳ tiền khởi nghĩa Đây cũng là cơ sở hoạt động bí mật của cán bộ Việt Minh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đình Sông, tọa lạc tại xã Đồng Tháp, là di tích lịch sử văn hóa và cách mạng cấp quốc gia, nổi bật với việc tổ chức Đại hội Đảng bộ huyện Đan Phượng lần thứ nhất vào ngày 19/5/1947 Đền Nhà Bà tại xã Liên Hà là nơi thờ bà Sa Lãng, nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng, cũng được công nhận là di tích cấp quốc gia đầu tiên của huyện Đan Phượng Đình Đại Phùng, nằm ở xã Đan Phượng, là một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của thế kỷ XVII, được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt.

Chùa Đông Khê, tọa lạc tại xã Đan Phượng, là một ngôi chùa cổ nổi bật với hệ thống tượng Phật độc đáo Nơi đây còn bảo tồn nhiều hiện vật có niên đại từ thời nhà Mạc (thế kỷ XVI) và được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Ngoài ra, chùa còn tổ chức một số lễ hội tiêu biểu, thu hút đông đảo du khách và tín đồ tham gia.

Lễ hội Đền Nhà Bà, diễn ra vào ngày 8 tháng 3 âm lịch, là lễ hội truyền thống lớn nhất của huyện Đan Phượng, nổi bật với các hoạt động hội đua thuyền rồng và đánh cờ người.

Lễ hội đền Bồng Lai, diễn ra vào ngày 14 tháng 3 âm lịch, tôn vinh Thánh Mẫu Hạo Nương, phi tần của vua Lý Thánh Tông và là mẹ của thái tử Linh Lang Sự kiện này nổi bật với các hoạt động truyền thống như tục rước nước và hội đua thuyền rồng, thu hút đông đảo du khách tham gia.

Hội thả diều Làng Bá Giang, nằm tại xã Hồng Hà, nổi tiếng với nghề làm diều sáo truyền thống Sự kiện này diễn ra vào ngày 15/3 âm lịch hàng năm, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước tham gia Hội thả diều Làng Bá Giang đã được công nhận là một địa chỉ văn hóa dân gian quan trọng.

Giá trị Làng xã truyền thống của huyện Đan Phƣợng, những yếu tố và tác động đến Làng, xã trong quá trình đô thị hóa

Việt Nam đang trải qua quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ và Hải Phòng Từ năm 2010 đến 2020, các đô thị này đã mở rộng không gian từ trung tâm ra ngoại vi, với khu vực ven đô đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối hoạt động sản xuất và thương mại giữa thị trường đô thị và nông thôn Khu vực này cung cấp nguyên liệu và lao động cho đô thị, đồng thời hỗ trợ phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo cầu nối giữa đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh Dự báo đến năm 2035, tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc sẽ đạt 50-55%, tăng từ 35,03% vào năm 2017.

Quá trình đô thị hóa tại Hà Nội đang diễn ra mạnh mẽ, điều này đòi hỏi việc nghiên cứu và mở rộng thành phố trở nên cần thiết Vào ngày 21/10/2019, Chủ tịch đã có những chỉ đạo quan trọng liên quan đến vấn đề này.

UBND TP Hà Nội đã phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng 4 huyện Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì và Đan Phượng thành quận đến năm 2025 Để huyện Đan Phượng đạt tiêu chuẩn quận, cần tập trung phát triển kinh tế và huy động nguồn vốn cho đầu tư hạ tầng đô thị Đồng thời, cần chú trọng đầu tư vào văn hóa, giáo dục và y tế, hoàn thiện các tiêu chí phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng Mục tiêu là đến năm 2025, huyện Đan Phượng và các xã, thị trấn thuộc huyện sẽ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và tiêu chuẩn của quận, phường theo quy định.

Trong tương lai, Quận sẽ phát triển bền vững với các đô thị cao cấp, khu đô thị sinh thái, và trung tâm mua sắm hiện đại Đồng thời, khu vực này sẽ chú trọng đến các khu vui chơi giải trí và dịch vụ chăm sóc sức khỏe cao cấp, kết hợp với việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa lịch sử phong phú Hạ tầng kỹ thuật và xã hội của các khu đô thị mới sẽ được kết nối đồng bộ với hạ tầng nông thôn hiện tại, tạo ra một môi trường sống hiện đại và bền vững.

Việc nâng cấp huyện lên quận đang đặt ra thách thức trong quá trình chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị, dẫn đến nhiều thay đổi đáng kể Đô thị hóa khu vực nông thôn ven đô gây biến động về nhân khẩu và đất đai, làm phá vỡ cấu trúc nông thôn truyền thống Hệ thống hạ tầng hiện tại không đáp ứng kịp thời nhu cầu, dẫn đến quá tải và các vấn đề môi trường Sự phát triển không kiểm soát của đất đai xây dựng làm mất đi đất nông nghiệp, đồng thời gây ra tình trạng an ninh trật tự xã hội không ổn định Những giá trị truyền thống của vùng nông thôn cũng đang dần bị mai một, tạo ra các hệ lụy tiêu cực trong quá trình đô thị hóa Để quản lý hiệu quả giai đoạn chuyển đổi này, cần nhận diện và bảo tồn giá trị Làng xã truyền thống cũng như phân tích các yếu tố tác động đến quá trình đô thị hóa, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp.

1.4.1 Những giá trị Làng xã truyền thống của huyện Đan Phượng a.Nét truyền thống từ góc độ giá trị

Làng Việt luôn có xu hướng thay đổi và chuyển hóa để thích nghi với các điều kiện lịch sử và môi trường, không phải là một cơ chế cố định Sự hình thành và phát triển của Làng xã ở Đan Phượng gắn liền với lịch sử, vì vậy việc đánh giá nét truyền thống cần dựa trên một hệ giá trị đa dạng đã được tích tụ qua thời gian Điều này bao gồm nhận diện các giá trị quá khứ tạo nên bản sắc riêng của mỗi Làng, từ cấu trúc không gian truyền thống đến các công trình kiến trúc và cảnh quan, cùng với đời sống cộng đồng và mối quan hệ sinh thái bền vững Mỗi Làng có những đặc trưng riêng, phụ thuộc vào khả năng cải tạo và thích ứng với môi trường tự nhiên xung quanh Các giá trị di sản vật thể và phi vật thể tại huyện Đan Phượng cũng góp phần vào sự phong phú của văn hóa địa phương.

Huyện Đan Phượng sở hữu 120 làng và 155 di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật có giá trị, cùng với 210 hồ nước và giếng làng, nổi bật là các giếng cổ tại xã Đan Phượng như Đoài Khê, Đông Khê và Đại Phùng (Nguồn: UBND xã Đan Phượng, 2022)

Giếng Đại Phùng, nằm ở vị trí đầu hồi bên phải của đình Đại Phùng, là một giếng cổ độc đáo không có chân đế mà được vạt thẳng xuống Cổ giếng cao 55cm và dày 13,5cm, với đường kính ngoài là 130cm và đường kính trong 83cm Phần xây gạch trát xi măng cao 70cm được tôn lên vào năm 2010, dưới đó là lòng giếng được xây bằng đá ong Đặc biệt, trên miệng giếng có những rãnh nhỏ được đục để ngăn nứt vỡ Nước giếng trong và sạch, thích hợp để pha trà hoặc đồ xôi, và được tạo tác bởi những thợ Chăm khéo léo, không phải từ địa phương hay người Bắc.

(Nguồn: UBND xã Đan Phượng, 2022)

Giếng cổ Đông Khê, nằm gần thôn Đại Phùng, được bao bọc bởi hàng rào sắt hình bát giác Giếng được chế tác từ đá xanh nguyên khối với thiết kế cầu kỳ, cao 78cm ở cổ giếng và 40cm ở thành giếng Phía chân giếng có hai lớp đá xanh tạo thành thềm hình tròn, trong khi lòng giếng được cấu tạo từ những thanh đá chữ nhật xếp so le, tạo độ vững chắc và chức năng lọc nước Các rãnh nhỏ ở miệng giếng giúp tăng cường độ bền, ngăn ngừa nứt vỡ do biến đổi thời tiết Dưới đáy giếng, một khối đá tròn lớn hỗ trợ sự ổn định cho các thanh đá phía trên Hiện nay, nước trong giếng vẫn rất trong và có chất lượng tốt.

(Nguồn: UBND xã Đan Phượng, 2022)

Giếng Đoài Khê, nằm ở phía tây xã Đan Phượng, cách cổng Làng khoảng chục thước, là một di tích quan trọng của làng Giếng cổ này được xây dựng từ một khối đá ong liền mạch, với thềm hình tròn được lát bằng gạch thẻ có độ cứng cao Đường kính ngoài của giếng là 130cm và đường kính trong là 90cm Phần cổ giếng được gia cố bằng hai lượt gạch thẻ, một lượt xếp dọc và một lượt xếp ngang, cho thấy đây là kết quả của một đợt trùng tu vào đầu thế kỷ 20 Dưới các lớp gạch là những viên đá ong xếp so le, được cho là đã tồn tại từ thế kỷ 18 theo lời kể của các cụ cao niên trong Làng.

Giếng Đoài Khê, tương tự như hai giếng cổ quý ở thôn Đại Phùng và thôn Đông Khê, mang dấu ấn rõ rệt của những rãnh do dây gầu kéo nước Miệng giếng làm từ đá ong có hình dáng giống như răng cưa, vừa đẹp vừa bóng Theo lời kể của người dân xóm giếng, trong quá khứ, nhiều cao nhân đã đến làng để lấy nước giếng pha trà Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, lính Tây cũng thường xuyên đến từ bốt Phùng để lấy nước sử dụng.

(Nguồn: UBND xã Đan Phượng, 2022)

Giếng cổ tại xã Đan Phượng là tài sản văn hóa quý giá, nhưng đang đối mặt với nguy cơ bị xâm hại do đô thị hóa Việc tuyên truyền giá trị văn hóa lịch sử của Đan Phượng là cần thiết Đình Đại Phùng, nơi thờ Vũ Hùng - vị tướng có công dẹp giặc thời Trần Nghệ Tông, được xây dựng từ thời kỳ này và hiện còn lưu giữ kiến trúc nghệ thuật thời Lê thế kỷ XVII Đình có quy mô lớn với Tiền tế và Đại đình, nơi có những bức chạm khắc tinh xảo thể hiện tài năng của nghệ nhân Mặc dù không lớn, Đình Đại Phùng nổi bật với các mảng chạm khắc dân gian độc đáo, phản ánh đời sống văn hóa và tâm linh của người dân, tạo nên không gian thanh bình của thời kỳ lịch sử này.

Hình 1.5 Bên trong Đình Đại Phùng xã Đan Phượng, Di tích quốc gia cấp đặc biệt

Đình Vạn Xuân, tọa lạc tại xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, Hà Nội, được công nhận là di tích quốc gia vào năm 1991 Đình thờ Hy Minh Dũng Nghị Đại vương, hoàng tử thứ 6 của triều đại Lý Nằm ở trung tâm làng, đình được xây dựng theo hướng Tây, tạo thành điểm đối xứng với hai ngôi đền Hàng Văn và Hàng Võ Với diện tích rộng lớn và thế đất đẹp, đình có sân rộng hơn 600 m2, bao quanh bởi bốn cửa quấn thư và hệ thống cột đồng trụ Kiến trúc cổ điển với hai nhà tả nghi, hữu nghi tám mái mang đến không gian thoáng đãng và uy nghi Sân cỏ bên ao đình với gò tròn và cây cối xanh tươi tạo nên khung cảnh hữu tình quanh năm.

Nhà tiền tế có cấu trúc gồm 5 gian và 2 chái, tiếp theo là tòa đại đình Từ gian giữa nhà tiền tế, hệ thống mái dọc chạy thẳng vào gian giữa đại đình, nối liền với hậu cung Ngôi nhà dọc này được nâng cao với hai tầng mái Nhà hậu cung bao gồm 2 gian dọc, kết nối với gian giữa đại đình, cùng với hai tầng bốn mái như dãy nhà dọc kéo dài từ đại đình ra tiền tế Nối liền giữa nhà tiền tế và đại đình là hai dãy hành lang nhỏ, mỗi dãy gồm 3 gian hẹp Phía sau hậu cung có 3 nếp nhà liên kết với nhau, được gọi là nhà hậu phòng, mỗi nếp nhà đều có 3 gian.

Giữa các tòa tiền tế, đại đình và dãy nhà, hồ vuông đối xứng được tạo thành từ 8 bờ xối nước chảy vào, mang lại không gian thoáng mát cho khu vực Bên trong, hai hồ nước tương tự nằm giữa tòa đại đình và nhà hậu cung, tạo điểm nhấn cho cấu trúc kiểu nội vương ngoại quốc của đình Vạn Xuân Cả bốn hồ nước không chỉ làm sáng bừng không gian mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo cho khu vực.

Du lịch di sản

Là một bộ phận quan trọng của ngành Du lịch đó là Du lịch di sản văn hóa

Du lịch di sản không chỉ là việc thăm các di tích lịch sử và văn hóa, mà còn là cơ hội để du khách trải nghiệm và kết nối với lịch sử, văn hóa, và truyền thống của từng vùng đất Mỗi cộng đồng đều có những câu chuyện riêng để chia sẻ với du khách Hoạt động du lịch này không chỉ hỗ trợ bảo tồn di sản và môi trường sinh thái, mà còn giúp người dân địa phương xóa đói, giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Du lịch di sản kết nối du khách với văn hóa, môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương tại các khu di sản, là loại hình du lịch có hàm lượng văn hóa cao và tôn trọng thiên nhiên UNESCO và nhiều quốc gia khuyến khích phát triển du lịch di sản, vì đây là mô hình tổng hợp giữa du lịch văn hóa, tâm linh, sinh thái, có trách nhiệm và cộng đồng, nhằm bảo tồn và giữ gìn tính nguyên vẹn của các giá trị nổi bật toàn cầu của di sản.

Di sản văn hóa không chỉ là tài sản quốc gia mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch, đồng thời du lịch cũng đóng vai trò trong việc bảo tồn và quảng bá di sản Tại Việt Nam, di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc, góp phần lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước Mối quan hệ giữa du lịch và di sản văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa có ảnh hưởng qua lại Di sản văn hóa tạo nên những giá trị độc đáo, phong tục tập quán của cộng đồng địa phương, từ đó làm phong phú thêm sản phẩm du lịch và nhanh chóng đưa hình ảnh quốc gia đến với thế giới.

Văn hóa là nguồn tài nguyên quý giá cho du lịch, bao gồm cả văn hóa vật thể như cảnh quan, di sản kiến trúc và ẩm thực, lẫn văn hóa phi vật thể như lễ hội và phong tục tập quán Nó không chỉ thu hút du khách mà còn bảo tồn bản sắc độc đáo trong sự giao lưu văn hóa đa dạng, góp phần vào sự phát triển du lịch bền vững Hơn nữa, văn hóa còn thể hiện qua hành vi ứng xử và cách thức kinh doanh giữa các công ty lữ hành, cư dân địa phương và du khách, tạo nên mối quan hệ nhân văn trong môi trường du lịch.

Cộng đồng dân cư địa phương tại các khu di sản không chỉ tham gia bảo vệ di sản mà còn lưu giữ và giới thiệu những giá trị văn hóa độc đáo của địa phương, thu hút du khách đến trải nghiệm Sự chuyển đổi từ lao động nông nghiệp sang du lịch nông nghiệp và du lịch trải nghiệm cuộc sống tại các làng quê, dựa trên tài nguyên như đất đai, con người, quy trình sản xuất, cùng với các yếu tố tự nhiên như hệ thống thủy lợi, sông ngòi, thời tiết và cảnh quan, tạo nên nền tảng cho du lịch nông nghiệp phát triển.

Mối quan hệ giữa di sản và văn hóa có tác động qua lại, trong đó sự phát triển du lịch ảnh hưởng mạnh mẽ đến di sản văn hóa Du lịch mang đến cho du khách cơ hội tham quan, khám phá và thưởng thức các loại hình nghệ thuật, từ đó gia tăng sự đa dạng và hiểu biết giữa các quốc gia Sản phẩm du lịch không chỉ đơn thuần là sản phẩm vật chất mà còn chứa đựng giá trị văn hóa tinh thần, đáp ứng nhu cầu của du khách khi đến vùng đất mới, với yếu tố văn hóa thường tạo ra sức hút mạnh mẽ hơn cả vật chất.

CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG QUẢN LÝ BẢO TỒN LÀNG XÃ GẮN DU LỊCH DI SẢN TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA

Cơ sở pháp lý

2.1.1 Các văn bản pháp luật của nhà nước

*Luật số 28/2001/QH10 của Quốc hội: “Di sản văn hóa” quy định một số điều quan trọng nhƣ sau:

Di sản văn hóa phi vật thể là những sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, được bảo tồn qua trí nhớ, chữ viết và truyền miệng Nó bao gồm nhiều hình thức như ngôn ngữ, tác phẩm văn học, nghệ thuật, diễn xướng dân gian, lối sống, lễ hội, bí quyết nghề thủ công truyền thống, tri thức y dược cổ truyền, văn hóa ẩm thực, trang phục truyền thống và các tri thức dân gian khác.

Di sản văn hóa vật thể là những sản phẩm vật chất mang giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học Nó bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.

Di tích lịch sử - văn hóa bao gồm các công trình xây dựng, địa điểm, và di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có giá trị quan trọng về lịch sử, văn hóa và khoa học.

Danh lam thắng cảnh là những địa điểm nổi bật, bao gồm cảnh quan thiên nhiên và các công trình kiến trúc mang giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học Những địa điểm này không chỉ thu hút du khách bởi vẻ đẹp tự nhiên mà còn bởi sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và kiến trúc, tạo nên những trải nghiệm văn hóa và lịch sử phong phú.

Bảo quản di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia là hoạt động thiết yếu nhằm ngăn chặn và giảm thiểu các nguy cơ gây hư hỏng, đồng thời giữ gìn những yếu tố nguyên gốc của các di sản này.

Tu bổ di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh là hoạt động quan trọng nhằm sửa chữa, gia cố và tôn tạo các di tích này Việc bảo tồn và phục hồi không chỉ giúp gìn giữ giá trị văn hóa, lịch sử mà còn nâng cao giá trị du lịch của những địa điểm nổi tiếng.

Phục hồi di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh là hoạt động tái tạo lại những giá trị văn hóa và lịch sử đã bị hủy hoại, dựa trên các nghiên cứu khoa học và tài liệu liên quan.

*Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm:

Xây dựng và triển khai chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách nhằm phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa là nhiệm vụ quan trọng Việc này không chỉ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của di sản văn hóa trong đời sống xã hội.

Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa;

Tổ chức và chỉ đạo các hoạt động nhằm bảo vệ cũng như phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật liên quan đến di sản văn hóa.

Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;

Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa

2.1.2 Các văn bản dưới luật

Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050;

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015 - 2020;

Quyết định số 741/QĐ-UBND ngày 04/02/2013 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Quy hoạch phân khu đô thị S1, tỷ lệ 1/5.000;

Quyết định số 401/QĐ-UBND ngày 16/01/2014 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Quy hoạch phân khu đô thị S2, tỷ lệ 1/5.000;

Quyết định số 3796/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Quy hoạch phân khu đô thị GS, tỷ lệ 1/5.000;

Quyết định số 5515/QĐ-UBND ngày 20/10/2015 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng huyện Đan Phƣợng, thành phố

Quyết định số 1045/QĐ-UBND, ban hành ngày 25/3/2022, của UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng với tỷ lệ 1/5.000, bao gồm đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở Quy hoạch này nhằm phát triển bền vững khu vực ven sông Hồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý đô thị và cải thiện chất lượng sống cho cư dân.

Quyết định số 4398/QĐ-UBND ngày 03/9/2015 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng, thị trấn Phùng tỷ lệ 1/5000;

Quyết định số 6746/QĐ-UBND ngày 08/12/2015 của UBND thành phố Hà Nội phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 cho khu chức năng đô thị Green City Quy hoạch này nhằm phát triển khu vực đô thị bền vững, nâng cao chất lượng sống cho cư dân và tạo ra không gian xanh, hiện đại.

Nghị quyết số 28-NQ/HU ngày 20/12/2021 của Huyện ủy Đan Phượng đặt mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động của các cấp ủy, chính quyền và các cơ quan, đơn vị đến năm 2025 và những năm tiếp theo Nghị quyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước thông qua việc áp dụng công nghệ số, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

UBND huyện Đan Phượng đã phê duyệt quy hoạch nông thôn mới vào năm 2012, điều chỉnh quy hoạch này vào năm 2017, và quy hoạch điểm dân cư nông thôn cùng trung tâm xã vào năm 2020 Những quyết định này nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững cho khu vực nông thôn.

Cơ sở lý luận

2.2.1 Làng xã truyền thống Việt Nam theo Phạm Hùng Cường:

Làng Việt cổ truyền được hiểu là một tế bào xã hội của người Việt, nơi tập hợp cư dân chủ yếu dựa vào quan hệ láng giềng Các thành viên trong làng cùng sinh sống trên một khu vực bao gồm đất ở và đất trồng trọt, tạo thành một cộng đồng các gia đình nhỏ có hoạt động sản xuất và sinh hoạt độc lập.

Làng đã trải qua quá trình phát triển để trở thành một đơn vị xã hội cơ bản, nơi hình thành các mối quan hệ huyết thống và sự liên kết giữa những người sống cùng địa vực Sự đoàn kết trong việc chống chọi với thiên nhiên và khai phá đồng bằng đã tạo nên tính cộng đồng đặc trưng của Làng xã.

Làng truyền thống là đơn vị xã hội cơ bản, xã là đơn vị hành chính có thể bao gồm 1 Làng hoặc nhiều Làng

Tuy xã là đơn vị hành chính có thể thay đổi qua các giai đoạn, nhưng Làng vẫn giữ vai trò là đơn vị cơ bản của xã Khái niệm Làng xã thể hiện rõ nét ý nghĩa của điểm dân cư truyền thống.

Cơ cấu tổ chức và quan hệ xã hội trong Làng xã thể hiện sự gắn bó chặt chẽ của cá nhân với nhiều mối quan hệ, bao gồm gia đình, dòng họ và các mối quan hệ với cộng đồng xung quanh Những mối quan hệ này không chỉ tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau mà còn định hình bản sắc và vai trò của từng cá nhân trong xã hội.

Mối quan hệ trong làng, bao gồm sự tương tác với đồng nghiệp, đồng môn và chính quyền, đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng Những mối quan hệ này không chỉ đan xen mà còn tác động lẫn nhau, ảnh hưởng đến cách cư xử của người dân Vì vậy, khi thực hiện bất kỳ hành động nào, người làng luôn phải cân nhắc đến nhiều yếu tố trong các mối quan hệ này.

Hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội trong Làng xã truyền thống thể hiện sự đan xen và đa chiều, cùng với tính tự trị rõ nét Những yếu tố này đã góp phần tạo nên sức mạnh của cộng đồng, bảo đảm sự tồn tại bền vững của Làng xã qua hàng ngàn năm và hình thành nên những giá trị văn hóa truyền thống quý báu.

Không gian Làng xã truyền thống

Các làng xã ở vùng Đồng bằng Sông Hồng có cấu trúc tương đồng, với mỗi làng nằm trong khu vực đất cao ráo và được bao bọc bởi lũy tre Xung quanh các làng là những cánh đồng ruộng màu mỡ.

Làng truyền thống bao gồm các thành phần chủ yếu như lũy tre, cổng làng, nhà ở, các công trình công cộng như đình, điếm, quán và văn chỉ, cùng với các công trình tôn giáo như chùa, miếu, phủ Ngoài ra, làng còn có giếng, ao làng, cây xanh, đồng ruộng và nghĩa địa, tạo nên một bức tranh sinh động và hài hòa của cuộc sống nông thôn.

Hệ thống giao thông trong Làng thường được thiết kế theo kiểu phân nhánh như cành cây hoặc kiểu răng lược Trong mỗi Làng, có một trục đường chính gọi là đường Làng, từ đó dẫn đến các xóm và ngõ Xóm là khu vực mà các hộ gia đình cùng sử dụng một ngõ chính để kết nối với đường Làng Hầu hết các ngõ trong Làng thường là ngõ cụt và rất ít ngõ nối thông với nhau.

Làng thường có 1 hoặc 2 cổng chính kết nối với đường liên xã, trong khi các cổng còn lại dẫn ra cánh đồng Đường trong làng thường có chiều rộng từ 2,4 đến 3,5 mét, trong khi đường chính có bề rộng khoảng 5 mét và được lát bằng gạch đỏ hoặc gạch lát nghiêng.

Cảnh quan không gian Làng truyền thống

Làng xã truyền thống, với lịch sử hình thành hàng ngàn năm, đã lưu giữ và phát triển nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, bao gồm cả giá trị về cảnh quan và tổ chức không gian.

Các giá trị phi vật thể

Làng xã truyền thống là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của người Việt

Lễ hội là sự kiện quan trọng thường diễn ra tại các làng, tổng, bao gồm các hoạt động như hội đình và hội chùa Phần lễ bao gồm việc rước lễ vật và thực hiện các nghi lễ cầu mong mùa màng bội thu, mang lại sự may mắn và thịnh vượng cho cộng đồng Trong khi đó, phần hội diễn ra với nhiều hoạt động vui chơi như đấu vật, đánh đu, đấu cờ và chọi gà, tạo không khí phấn khởi cho người dân Hội Làng không chỉ gắn kết cộng đồng dân cư mà còn có ý nghĩa lớn trong khu vực, như hội Đình Lệ Mật ở Gia Lâm - Hà Nội, nơi thờ Thành Hoàng của 13 làng ven Hồ Tây thời Lý, thu hút sự tham gia của các làng với lễ vật vào dịp hội.

Hội cúng Thủy thần, chọi trâu Đồ Sơn - Hải Phòng và hội Đồng Kỵ (Hà Nội) là những sự kiện lớn thu hút sự tham gia của cả vùng Những lễ hội này do người dân tự tổ chức, thể hiện ý nghĩa xã hội sâu sắc và gắn kết cộng đồng.

Hệ sinh thái (ecosystem) Làng xã

Hệ sinh thái Làng xã truyền thống là một hệ sinh thái độc lập với nhiều chu trình khép kín, bao gồm các phân hệ sinh thái hộ gia đình, sinh thái Làng xã và mối quan hệ giữa đô thị và nông thôn.

Làng xã truyền thống là một đơn vị có mối quan hệ sinh thái nhân văn mật thiết

Cộng đồng dân cư tồn tại hàng ngàn năm trong một khu vực cụ thể không chỉ nhờ vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên mà còn nhờ vào sức mạnh văn hóa của cộng đồng Điều này chứng tỏ rằng Làng xã là một mô hình cư trú sinh thái nhân văn phát triển bền vững Giá trị này của Làng xã truyền thống cần được đánh giá cao trong công tác bảo tồn.

Kết luận về giá trị của di sản Làng Việt

Cơ sở thực tiễn

2.3.1 Kinh nghiệm nước ngoài a Làng nghề quạt gấp truyền thống Miyawaki Baisenan (Nhật Bản) Đƣợc thành lập vào năm 1823 tại quận Nakagyo, thành phố Kyoto, cửa hàng quạt gấp truyền thống Miyawaki Baisenan vẫn giữ nguyên kiến trúc nhà gỗ truyền thống vốn phổ biến ở các con phố cổ Nhật Bản Đây là nơi lưu giữ lịch sử và các đặc trƣng của quạt gấp Kyoto, loại quạt không chỉ dùng làm mát mà còn đƣợc sử dụng để làm đạo cụ biểu diễn trong nghệ thuật kịch Noh hay hài kịch Kyogen

Hình 2.6 Hình ảnh quạt gấp truyền thống Miyawaki Baisenan -Nhật Bản

Chiếc quạt gấp Kyoto nổi tiếng vì mỗi sản phẩm phải trải qua 87 công đoạn tỉ mỉ do bàn tay của các nghệ nhân thực hiện, thể hiện sự công phu và tinh xảo trong từng chi tiết.

Quy trình sản xuất quạt truyền thống bao gồm hơn 20 công đoạn khác nhau, từ việc chế tạo khung và mặt giấy, đến trang trí và mài nhẵn Mỗi công đoạn đều được thực hiện bởi các nghệ nhân chuyên môn, đảm bảo chất lượng và tính thẩm mỹ cao cho sản phẩm.

Khi đến thăm Miyawaki Baisenan, du khách sẽ được khám phá "mê cung" của những chiếc quạt gấp tại tầng 1 và chiêm ngưỡng kiệt tác tranh tường vẽ quạt giấy ở trần nhà tầng 2, do 48 bậc thầy hội họa Kyoto như Tomioka Tessai và Takeuchi Seiho thực hiện vào năm 1902 Sau gần 200 năm, Miyawaki Baisenan vẫn là biểu tượng cho những ai yêu thích quạt gấp truyền thống của Nhật Bản.

Văn hóa Kimjang có thể đã xuất hiện trên bán đảo Triều Tiên từ thời kỳ đồ đồng, với nhiều di tích gần bờ biển cho thấy sự tồn tại của rau, muối và các hũ chứa thực phẩm Một số phát hiện như bình đất nung dùng để bảo quản thực phẩm và các chai, lọ đựng rượu trên ngôi mộ cổ thời Koguryeo, cùng với ghi chép về công nghệ sản xuất nước tương, tuy không phải là bằng chứng chắc chắn, nhưng gợi ý về nguồn gốc của kim chi và văn hóa Kimjang Đến đầu thời Goryeo (khoảng thế kỷ thứ 10), văn bản mô tả kim chi đầu tiên xuất hiện, cho thấy diện mạo ban đầu của văn hóa Kimjang, trong đó sách “Đông quốc lý tương quốc tập” của Lee Gyu-bo ghi nhận rằng củ cải muối trong ba tháng hè rất tốt và kim chi ngâm muối có thể làm món ăn cho mùa đông.

Kim chi, trong suốt một thời gian dài, chỉ được coi là một loại rau muối thông thường, chủ yếu là củ cải ngâm trong nước muối mà không có cải thảo, ớt đỏ hay gia vị khác.

Vào thế kỷ 15, trong thời kỳ Joseon, người Hàn Quốc bắt đầu sử dụng ớt như một gia vị chính thức cho Kim chi, bên cạnh những nguyên liệu truyền thống như tỏi, nấm thông, củ cải lớn và cải thảo.

Hình 2.7 Hình ảnh chế biến Kim chi

(Nguồn Tác giả sưu tầm)

Vào thế kỷ 19, muối Kim chi đã được ghi chép trong cuốn “Đông quốc Tuế thì ký”, phản ánh phong tục tập quán của người Hàn Quốc thời đó Tại Seoul, Kimjang được thực hiện với các nguyên liệu như củ cải, cải thảo, tỏi, ớt và muối, tất cả được bảo quản trong vại Hai hoạt động quan trọng trong năm của người dân là làm Tương vào mùa hè và muối Kim chi vào mùa đông.

Năm 1920, cuốn “Từ điển ngôn ngữ Triều Tiên” phát hành tại Phủ tổng đốc Triều Tiên đã định nghĩa về Kimjang, giúp hiểu rõ bối cảnh sử dụng tên gọi này Kimjang không chỉ là một sự kiện quan trọng trong đời sống gia đình mà còn được thể hiện phong phú trong thơ ca và văn xuôi, thu hút sự quan tâm lớn từ cộng đồng.

Vào tháng 12 năm 2013, Kim chi và Kimjang đã được UNESCO công nhận là “Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại” Đến ngày 15 tháng 11 năm 2017, Kimjang tiếp tục được công nhận là “Tài sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia” với mã số 133.

Kimjang, một yếu tố quan trọng trong Di sản Văn hóa phi vật thể, thể hiện tầm quan trọng của kim chi trong đời sống người dân Hàn Quốc Kim chi không chỉ là món ăn hàng ngày trong bữa cơm gia đình, mà còn phản ánh âm hưởng lối sống truyền thống của người Hàn Quốc qua các thế hệ Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ Di sản Văn hóa phi vật thể đã khẳng định giá trị này.

Chúng tôi trân trọng việc người Hàn Quốc chia sẻ Kim chi với hàng xóm, thể hiện văn hóa muối Kimchi qua nhiều thế hệ Hành động này không chỉ tăng cường sự hiểu biết mà còn nâng cao tinh thần đoàn kết giữa cộng đồng Hàn Quốc Đồng thời, nó cũng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của Di sản Văn hóa phi vật thể nhân loại.

Văn hóa Kimjang mang đến cho chúng ta cơ hội quý báu để khám phá cuộc sống của người dân Hàn Quốc, cũng như di sản văn hóa của họ trên bán đảo Triều Tiên qua các thời kỳ lịch sử.

Văn hóa Kimjang và sự xuất hiện của các loại Kim chi phản ánh những khó khăn mà người dân phải đối mặt trong mùa đông khắc nghiệt Trong thời gian này, việc tìm kiếm rau củ và trồng trọt trở nên khó khăn, dẫn đến nhu cầu dự trữ thực phẩm và chế biến món ăn có khả năng bảo quản lâu dài Kim chi và văn hóa muối Kimchi đã ra đời như một giải pháp thiết yếu cho vấn đề này.

Kim chi là món ăn quốc dân không thể thiếu trong mỗi gia đình Hàn Quốc, được mọi người từ người giàu đến người nghèo yêu thích Trong mùa đông, Kimjang trở thành nguồn sống quan trọng cho người nghèo và là món ăn thiết yếu của người giàu Kim chi có thể kết hợp với mọi món ăn, từ cơm trắng đến cháo nhạt, mang lại hương vị đậm đà Ngay cả trong thời kỳ dư dả lương thực, Kim chi vẫn giữ vị trí quan trọng trong bữa cơm hàng ngày của người Hàn Quốc.

2.3.2 Bài học trong nước a Làng gốm Bát Tràng (Bát Tràng-Gia Lâm-Hà Nội)

CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG TRONG QUẢN LÝ BẢO TỒN - PHÁT HUY GIÁ TRỊ LÀNG TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN ĐAN PHƢỢNG GẮN VỚI DU LỊCH DI SẢN TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA

Đánh giá tiềm năng phát triển đô thị dựa trên động lực xây dựng và bảo tồn di sản văn hóa

3.1.1 Phát triển du lịch tại Đan Phượng dựa trên phát triển hạ tầng giao thông

Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi từ nơi cư trú của con người nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Hoạt động du lịch bao gồm sự tham gia của khách du lịch, các tổ chức và cá nhân kinh doanh du lịch, cũng như cộng đồng dân cư và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến lĩnh vực này.

Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch được xây dựng trong khuôn khổ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện, nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong việc phát triển du lịch.

Mạng lưới đường bộ: Đường vành đai 4, mặt đường 120m; Đường Tỉnh lộ

Đường 417 và 422 có mặt đường rộng 11m; Đường Tây Thăng Long có mặt đường 60m (phía Nam đường vành đai 4) và 40m (phía Bắc đường vành đai 4); Đường nối Hoàng Quốc Việt kéo dài có mặt đường 40m; Các đường nhánh N1, N5, N16, N17, N18, N20 có mặt đường từ 9m đến 14m; Đường vào đền Văn Hiến men theo ven 2 bên hồ có mặt đường 7m Dự kiến xây dựng mới bến xe khách loại 4 tại thị trấn Phùng, Tân Lập, Thọ An và bến xe loại 2 tại Hạ Mỗ Hệ thống giao thông đường thủy cũng sẽ được phát triển.

Sông Hồng và sông Đáy là hai tuyến đường thủy quan trọng, không chỉ phục vụ vận chuyển hàng hóa và đi lại của người dân địa phương mà còn góp phần phát triển du lịch Việc khai thác và sử dụng hiệu quả hai con sông này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và thu hút khách du lịch.

Trên sông Hồng, dự án cải tạo và nâng cấp cảng cũ Hồng Hà đang được triển khai, đồng thời xây dựng mới cảng Liên Trung Bên cạnh đó, tuyến sông Đáy cũng đang được đầu tư với việc xây dựng mới bến tàu Đồng Tháp.

* Vận tải hành khách công cộng:

Phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho dân cƣ cũng nhƣ khách du lịch đến Đan Phƣợng gồm:

Hệ thống vận tải hành khách tại thành phố được quản lý bởi các công ty vận tải tư nhân, bao gồm các tuyến xe buýt nhanh và dịch vụ taxi.

Hình 3.1 Hệ thống giao thông đã được đầu tư, chưa được đầu tư

(Nguồn: Phòng QLĐT huyện Đan Phượng, 2016)

Hệ thống cấp điện đã được nâng cấp và phát triển theo các định hướng trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch Đặc biệt, hệ thống này đảm bảo tiêu chuẩn cung cấp điện cho khách du lịch tại các khu vực nông thôn.

Cung cấp 200-330 kWh/người/ngày đêm, tương đương với tiêu chuẩn cấp điện đô thị loại IV, từ các trạm 110KV như Phúc Thọ, Trôi, Chèm Để đảm bảo nguồn điện ổn định cho sản xuất và du lịch 24/24 giờ, cần xây dựng thêm các trạm biến áp tại các xã.

* Hệ thống cấp, thoát nước:

Đến năm 2050, nhu cầu nước sạch cho khoảng 350 nghìn dân trong huyện dự kiến đạt 195.000m3/ngày đêm Nhà máy nước mặt Sông Hồng sẽ cung cấp nước với công suất giai đoạn 1 là 300.000m3/ngày đêm và giai đoạn 2 là 450.000m3/ngày đêm, đảm bảo cung cấp nước sạch cho toàn vùng Mục tiêu đến năm 2025 là tất cả cư dân sẽ được cấp nước sạch, đặc biệt các khu du lịch sẽ đạt tiêu chuẩn tối thiểu 200 l/người/ngày đêm Các khu du lịch nằm trong khu vực có hệ thống cấp nước đô thị sẽ sử dụng nước từ hệ thống cấp nước sông Đà, đồng thời mở rộng và nâng cấp Nhà máy nước sạch tại thị trấn Phùng, Tân Hội và Tân Lập Những khu điểm du lịch chưa có hệ thống cấp nước đô thị sẽ tạm thời sử dụng nước từ hệ thống giếng khoan và bể lọc đạt tiêu chuẩn chất lượng.

Trạm xử lý nước thải 29.000m3/ngày đêm tại xã Tân Lập đáp ứng nhu cầu xử lý nước thải cho khu vực phía Đông vành đai 4, theo quy hoạch chung của huyện Hệ thống thoát nước thải được thiết kế và triển khai phù hợp với các tiêu chuẩn và quy định hiện hành.

* Vệ sinh môi trường, xử lý chất thải rắn trong sinh hoạt

Đến năm 2015, mục tiêu xử lý chất thải rắn đạt tỷ lệ thu gom và xử lý 100%; hoàn thành xây dựng nhà máy xử lý rác thải tại xã Phương Đình; và duy trì các đội vệ sinh môi trường chuyên trách nhằm đảm bảo các tuyến đường giao thông chính trong huyện, bao gồm cả đường liên xã, luôn được giữ gìn xanh, sạch, đẹp.

Phát triển đa dạng hệ thống cơ sở lưu trú là cần thiết, đặc biệt là việc hình thành các khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 2 sao Điều này cần bám sát quy hoạch vùng và quy hoạch phát triển đô thị để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong việc thu hút du khách.

Khu đô thị Tân Lập - 01 khách sạn;

Khu đô thị Hồng Thái (Hạ Mỗ- Tân Hội) - 01 khách sạn

Khu đô thị sinh thái Hồng Hà- 01 khách sạn

Khu đô thị thị trấn Phùng - 01 khách sạn

Để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, cần tập trung nâng cấp và thay thế hệ thống nhà nghỉ hiện có, đồng thời phát triển hệ thống nhà nghỉ mới phù hợp với định hướng phát triển các trục đường như vành đai 4, Tây Thăng Long, và đường 32, cũng như các vùng đặc trưng như Giáo dục và Y tế.

Trung tâm thể thao cần mở rộng các hạng mục để đáp ứng nhu cầu luyện tập và giải trí của du khách và cư dân, bao gồm việc xây dựng bể bơi đạt tiêu chuẩn Các cơ sở lưu trú lớn như khách sạn và khu du lịch sinh thái cũng cần đầu tư vào các công trình thể thao như sân tennis, sân cầu lông, bể bơi và câu lạc bộ sức khỏe.

Hệ thống cơ sở vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch và cư dân cần được phát triển theo mô hình hỗn hợp về đêm, bao gồm vũ trường, game, cinema và shopping, tại khu vực trung tâm huyện Tân Hội, Tân Lập Đồng thời, cần mở rộng các cơ sở vui chơi giải trí mang tính dân giã, phù hợp với nhu cầu của du khách tại các điểm du lịch sinh thái như công viên văn hóa, bơi thuyền và câu cá ở Đồng Tháp, thị trấn Phùng, Phương Đình, Thượng Mỗ, và Liên Trung.

Các kịch bản phát triển đô thị với bảo tồn và phát huy di sản văn hóa địa phương nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc trên địa bàn huyện Đan Phượng

3.2.1 Kịch bản đô thị du lịch cộng đồng:

Xây dựng các trọng điểm du lịch tại huyện Đan Phượng dựa trên việc phát huy tài nguyên lịch sử và thiên nhiên nhằm tạo ra những điểm đến giải trí mới, từ đó nâng cao sức hấp dẫn của khu vực này.

Hình 3.3 Bản đồ quy hoạch HTKT-HTXH

(Nguồn: Phòng QLĐT huyện Đan Phượng, 2016)

1 Du lịch gắn với bảo tồn tự nhiên

Du lịch văn hóa là thế mạnh nổi bật và sản phẩm du lịch đặc trưng của Đan Phượng, bao gồm các loại hình như tham quan di tích lịch sử văn hóa, khám phá làng nghề, trải nghiệm du lịch lễ hội và du lịch cộng đồng.

Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng tập trung vào việc khám phá và tìm hiểu giá trị cảnh quan và sinh thái, mang đến trải nghiệm thư giãn vào cuối tuần tại khu vực ven sông Đáy và ven đê sông Hồng.

Du lịch vui chơi giải trí: Tập trung theo hướng hình thành các khu vui chơi giải trí tham quan, thể thao, thưởng thức nghệ thuật trung tâm huyện

Du lịch mua sắm và ẩm thực đang phát triển mạnh mẽ tại các trung tâm thương mại và trung tâm mua sắm hiện đại Bên cạnh đó, các điểm du lịch làng nghề ẩm thực truyền thống nổi tiếng cũng thu hút nhiều du khách.

2 Du lịch gắn với bảo tồn các di sản vật thể và phi vật thể

Phục dựng và bảo tồn các giá trị văn hóa, di tích lịch sử cũng nhƣ các địa điểm thăm quan, các lễ hội truyền thống của địa phương

Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển du lịch văn hóa và sinh thái, khai thác lợi thế văn hóa, sinh thái và nhân văn của huyện nhằm thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế Đảm bảo sự hài hòa trong đầu tư giữa du lịch văn hóa và du lịch sinh thái, trong đó ưu tiên hàng đầu là phát triển du lịch văn hóa.

Du lịch văn hóa tập trung vào các di sản như đình, chùa, đền, quán, miếu và tượng đài, với mục tiêu ưu tiên công tác trùng tu và tôn tạo các di tích lịch sử cùng những công trình kiến trúc tiêu biểu trong khu vực.

Du lịch sinh thái nhƣ nghỉ dƣỡng cuối tuần vùng sông Đáy, sông Hồng gồm cả du lịch văn hóa, du lịch Làng nghề, ẩm thực trong khu vực

Để phát triển du lịch và giải trí, cần kết hợp khai thác các trò chơi dân gian trong lễ hội truyền thống với việc đầu tư vào dịch vụ giải trí hiện đại Ưu tiên xây dựng các hình thức giải trí tổng hợp, tổ chức các hoạt động thể thao tại trung tâm huyện, xã, các điểm du lịch và trung tâm thương mại sẽ tạo ra môi trường hấp dẫn cho du khách và người dân.

(3) Du lịch gắn với phát triển sản phẩm du lịch

Du lịch văn hóa là thế mạnh nổi bật của Đan Phượng, với các sản phẩm du lịch đặc trưng như tham quan di tích lịch sử văn hóa, khám phá làng nghề, trải nghiệm du lịch lễ hội và du lịch cộng đồng.

Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng tập trung vào việc khám phá và tìm hiểu giá trị cảnh quan, sinh thái tại khu vực ven sông Đáy và ven đê sông Hồng Đây là một lựa chọn lý tưởng cho những ai muốn trải nghiệm nghỉ cuối tuần trong không gian thiên nhiên tươi đẹp và thư giãn.

Du lịch vui chơi giải trí: Tập trung theo hướng hình thành các khu vui chơi giải trí tham quan, thể thao, thưởng thức nghệ thuật trung tâm huyện

Du lịch mua sắm và ẩm thực đang phát triển mạnh mẽ tại các trung tâm thương mại và mua sắm hiện đại, đồng thời thu hút du khách đến các điểm du lịch làng nghề ẩm thực truyền thống nổi tiếng.

(4) Phát triển du lịch sinh thái theo không gian lãnh thổ

Các cụm du lịch chính

* Cụm du lịch Trung tâm huyện : Gắn với nguồn tài nguyên du lịch nhân văn, chủ yếu là các công trình di tích lịch sử, văn hóa, thể thao

Sản phẩm du lịch chính bao gồm tham quan di tích lịch sử và văn hóa tâm linh, vui chơi giải trí thể thao, thưởng thức nghệ thuật, ẩm thực và mua sắm Những điểm du lịch nổi bật như Đài tưởng niệm liệt sĩ, Nhà truyền thống, Tượng đài phong trào phụ nữ Ba đảm đang, đình Sông, chùa Đôi Hồi, đình Đại Phùng, chùa Đại Từ Ân, Sân vận động, Nhà hát huyện, các Trung tâm thương mại và cơ sở sản xuất nem Phùng sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm phong phú và đa dạng.

Cụm du lịch Tiểu vùng Đan Hoài kết hợp nguồn tài nguyên nhân văn và tự nhiên phong phú, bao gồm các di tích lịch sử, văn hóa cùng hệ thống sông, đầm, hồ đặc sắc.

Sản phẩm du lịch chính bao gồm tham quan di tích lịch sử và văn hóa tâm linh, vui chơi giải trí, thưởng thức nghệ thuật, và nghỉ dưỡng cuối tuần Những điểm du lịch nổi bật như đền Văn Hiến bên dòng Nhuệ giang cổ, đình Vạn Xuân, chùa Hải Giác, đền Nhà Bà, lăng Văn Sơn với múa hát chèo tàu và tượng đài chiến thắng "Ba ngày năm trận", cùng đô thị sinh thái nghỉ dưỡng Liên Hồng, Liên Trung, hứa hẹn mang đến trải nghiệm đa dạng cho du khách.

Vùng hữu Hồng là khu vực phát triển dọc bờ sông Hồng, tạo thành trục không gian chủ đạo của huyện Nơi đây nổi bật với không gian mặt nước và cảnh quan ven sông hấp dẫn, cùng với nhiều di tích lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng phong phú.

Các sản phẩm du lịch:

Du lịch văn hóa lịch sử tại Việt Nam mang đến nhiều trải nghiệm thú vị với các điểm đến nổi bật như đền Hát Môn, tượng đài chiến thắng chợ Gốc Ngô, và đền Văn Hiến bên dòng sông Nhuệ cổ Du khách không thể bỏ qua đền Sa Lãng và khu tưởng niệm Chợ Dày, cùng với tượng đài chiến thắng "Ba ngày năm trận" đang chuẩn bị thi công, cũng như lăng Văn Sơn, tất cả đều góp phần làm phong phú thêm hành trình khám phá di sản văn hóa và lịch sử của đất nước.

Chương trình hành động trong quản lý bảo tồn - phát huy giá trị Làng truyền thống tại huyện Đan Phƣợng gắn với du lịch di sản trong bối cảnh đô thị hóa

3.3.1 Du lịch di sản trong bối cảnh đô thị hóa tại huyện Đan Phượng a Đầu tƣ phát triển du lịch

Trong những năm qua, huyện đã chú trọng đầu tư vào việc phát triển tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn, mặc dù du lịch chưa trở thành một ngành kinh tế chính thức.

Việc phục chế và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa là rất quan trọng, với những công trình tiêu biểu như Đền thờ danh nhân Tô Hiến Thành ở Hạ Mỗ, Chùa Đôi Hồi tại Song Phượng, Chùa Tân Hải ở Trung Châu, Chùa Già Lê ở Hồng Hà, Chùa Chổi ở Liên Hồng, và Đình Đại Phùng ở Đan Phượng.

Các công trình trọng điểm được hoàn thành để chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội bao gồm sân vận động huyện, Tượng đài phụ nữ ba đảm đang và đền thờ danh nhân Tô Hiến Thành Những công trình này không chỉ mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc mà còn thể hiện lòng tự hào và tri ân đối với lịch sử và những giá trị văn hóa của Thăng Long-Hà Nội.

Bảo tồn và nâng cấp 42 Làng nghề tại huyện, trong đó có 07 Làng nghề đạt tiêu chí công nhận, sẽ tạo thêm điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch Các Làng nghề tiêu biểu bao gồm chế biến lâm sản ở Liên Trung, Liên Hà; sản xuất rượu và đậu ở Hồng Hà, Hạ Mỗ; sản xuất bánh kẹo ở Song Phượng; và nghề cơ khí ở Tân Hội Đặc biệt, nghề sản xuất nem nổi tiếng ở thị trấn Phùng cũng góp phần làm phong phú thêm trải nghiệm du lịch.

Trong những năm qua, huyện đã đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống giao thông, điện, thông tin liên lạc và nước sạch, nhằm cải thiện điều kiện kinh doanh và thu hút du khách Hiện tại, công tác đầu tư hạ tầng đang tiếp tục được triển khai.

Huyện Đan Phượng đã quyết liệt chỉ đạo và đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và xã hội, góp phần thay đổi diện mạo huyện và tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong ngành du lịch Tuy nhiên, việc đầu tư riêng cho phát triển du lịch nhằm hình thành các khu và điểm du lịch vẫn chưa được chú trọng.

Công tác quản lý nhà nước về du lịch đã được UBND huyện quan tâm chỉ đạo, tạo tiền đề cho sự phát triển của du lịch huyện

Bảo tồn và phục hồi các công trình lịch sử, văn hóa đặc sắc của huyện như đình, chùa; quy hoạch và xây dựng các công trình văn hóa như tượng đài, đài tưởng niệm, nhà truyền thống; đồng thời phát triển các khu liên hợp thể thao và trung tâm thương mại.

Nâng cao chỉ số cải cách thủ tục hành chính nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc triển khai hoạt động kinh doanh dịch vụ và đầu tư du lịch trên địa bàn.

Mặc dù có tiềm năng, công tác quản lý Nhà nước về du lịch tại huyện vẫn còn nhiều hạn chế Huyện chưa xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch cụ thể Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến thông tin về du lịch và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này cũng chưa được chú trọng đúng mức.

* Những tồn tại và nguyên nhân trong phát triển du lịch

Hệ thống tài nguyên du lịch huyện chưa được khai thác hiệu quả, dẫn đến sự xuống cấp của một số tài nguyên Cơ sở hạ tầng tiếp cận các điểm du lịch còn yếu, ảnh hưởng đến khả năng phát triển du lịch Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các hoạt động kinh tế xã hội và du lịch vẫn chưa hiệu quả.

Quy mô cơ sở du lịch còn nhỏ, sức cạnh tranh thấp, chƣa hình thành đƣợc doanh nghiệp du lịch có thương hiệu

Dịch vụ vui chơi giải trí hiện nay còn thiếu về số lượng và đơn điệu về thể loại, chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Các dịch vụ hỗ trợ du lịch chưa đa dạng và hấp dẫn, đồng thời thiếu các khu du lịch, khu vui chơi giải trí và trung tâm thương mại có quy mô và tính cạnh tranh cao trong khu vực Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thời gian lưu trú của khách du lịch còn quá thấp.

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, bao gồm cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch, hiện đang yếu cả về số lượng lẫn chất lượng Đặc biệt, sự thiếu hụt các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn chất lượng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch.

Hệ thống hạ tầng du lịch và đô thị hiện tại còn yếu kém, thiếu phương tiện vận chuyển khách du lịch chất lượng cao Giao thông công cộng chưa được phát triển đầy đủ, dẫn đến việc thiếu mạng lưới thuận tiện để du khách tiếp cận các điểm tham quan.

Công tác xúc tiến quảng bá du lịch vẫn chưa được triển khai hiệu quả, dẫn đến việc chưa hình thành các sự kiện văn hóa - du lịch và thể thao - du lịch Hơn nữa, sự phối hợp giữa các ngành và các vùng trong huyện với các địa phương còn gặp nhiều hạn chế.

Chất lƣợng và số lƣợng của nhân lực du lịch chƣa đƣợc quan tâm, chƣa có đội ngũ thuyết minh viên tại cơ sở

Chưa có sự kết hợp hợp lý giữa mục tiêu phát triển đô thị và phát triển du lịch đô thị, dẫn đến việc hạ tầng du lịch chưa được đầu tư và chú trọng đúng mức.

Ngày đăng: 08/12/2024, 08:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Phạm Hùng Cường (2014). Làng xã truyền thống Việt Nam, bảo tồn và phát triển. Hà Nội: NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã truyền thống Việt Nam, bảo tồn và phát triển
Tác giả: Phạm Hùng Cường
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2014
1. Ban Chỉ huy Quân sự huyện (2022). Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Đan Phượng 1945-2022 Khác
2. Cao Thị Hoài Bắc (2020). Phương án bảo tồn Làng trong lòng đô thị trung tâm tỉnh Bắc Ninh, Hà nội. Tạp chí nghiên cứu nước ngoài tập 36, số 2 Khác
3. Công ty cổ phần Prosin (2008). Quản lí di sản đô thị trong bối cảnh phát triển đô thị ở Việt Nam, Tài liệu hướng dẫn cho những nhà hoạch định Khác
4. Chi cục Thống kê huyện Đan Phƣợng (2021). Niên giám thống kê huyện Đan Phượng 2010-2020 Khác
5. Phạm Đình Việt, 2008, Bảo tồn di sản kiến trúc và đô thị, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác
6. Phạm Hùng Cường (2006). Làm mới lại cấu trúc Làng Việt. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam, Số 4 Khác
8. Phạm Hùng Cường (2016). Bảo tồn thích ứng, phương pháp tiếp cận để bảo tồn và phát huy giá trị di sản Làng xã truyền thống, Hà Nội. Tạp chí Kiến trúc, số 10 Khác
9. Phạm Hùng Cường (2021). Quy hoạch và giữ gìn bản sắc văn hóa trong xây dựng nông thôn mới vùng Đồng bằng sông Hồng, Hà Nội: NXB Xây dựng Khác
10. Lưu Đức Hải (2022). Đô thị Việt Nam - Thực trạng và định hướng chính Khác
11. Huyện ủy Đan Phƣợng ( 2016). Lịch sử cách mạng huyện Đan Phượng 1930-2015) Khác
12. Huyện ủy Đan Phƣợng (2020). Văn kiện Đại Hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXIV (nhiệm kỳ 2020-2025) Khác
14. Quốc hội (2001). Luật di sản văn hóa năm 2001 Khác
15. Quốc hội (2009). Luật di sản văn hóa năm 2009 Khác
16. UBND huyện Đan Phƣợng (2015). Thuyết minh quy hoạch chung xây dựng huyện Đan Phượng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 Khác
17. UBND huyện Đan Phƣợng (2022). Nhiệm vụ quy hoạch xây dựng vùng huyện Đan Phượng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, Huyện Đan Phượng Khác
18. UN Habitat (1992). Multilingual Glossary of Human Settlements Terms Khác
19. Trần Hữu Sơn (2021). Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch di sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Vị trí, địa điểm nghiên cứu - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 1.1. Vị trí, địa điểm nghiên cứu (Trang 19)
Hình 1.2. Giếng Đại Phùng - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 1.2. Giếng Đại Phùng (Trang 31)
Hình 1.3. Giếng Đông Khê - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 1.3. Giếng Đông Khê (Trang 32)
Hình 1.5. Bên trong Đình Đại Phùng xã Đan Phượng, Di tích quốc gia cấp đặc biệt - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 1.5. Bên trong Đình Đại Phùng xã Đan Phượng, Di tích quốc gia cấp đặc biệt (Trang 34)
Hình 1.6. Đình Vạn Xuân, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 1.6. Đình Vạn Xuân, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng (Trang 39)
Hình 2.1. Cổng làng Đường Lâm, Sơn Tây - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 2.1. Cổng làng Đường Lâm, Sơn Tây (Trang 55)
Hình 2.2. Sơ đồ chung của khung quy hoạch bền vững đô thị - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 2.2. Sơ đồ chung của khung quy hoạch bền vững đô thị (Trang 60)
Hình 2.3. Khung phát triển du lịch bền vững - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 2.3. Khung phát triển du lịch bền vững (Trang 63)
Hình 2.5. Hình ảnh liên kết hoạt động của con người với các chức năng phục vụ - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 2.5. Hình ảnh liên kết hoạt động của con người với các chức năng phục vụ (Trang 68)
Hình 2.6. Hình ảnh quạt gấp truyền thống Miyawaki Baisenan -Nhật Bản - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 2.6. Hình ảnh quạt gấp truyền thống Miyawaki Baisenan -Nhật Bản (Trang 69)
Hình 2.7. Hình ảnh chế biến Kim chi - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 2.7. Hình ảnh chế biến Kim chi (Trang 71)
Hình 2.8.  Hình ảnh Làng gốm Bá Tràng bên Sông Hồng - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 2.8. Hình ảnh Làng gốm Bá Tràng bên Sông Hồng (Trang 73)
Hình 3.2. Bản đồ định hướng phân vùng chức năng - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 3.2. Bản đồ định hướng phân vùng chức năng (Trang 82)
Hình 3.5. Bản đồ một số vị trí di tích, điểm đến du lịch chính trên địa bàn huyện - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 3.5. Bản đồ một số vị trí di tích, điểm đến du lịch chính trên địa bàn huyện (Trang 88)
Hình 3.6. Bản đồ quy hoạch phân vùng cụm du lịch - Bảo tồn và phát huy giá trị các làng truyền thống gắn với du lịch di sản tại huyện Đan phượng trong bối cảnh Đô thị hóa
Hình 3.6. Bản đồ quy hoạch phân vùng cụm du lịch (Trang 93)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w