Khu bảo tồn thiên nhiên BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông được thành lập theoquyết định số 2714/QĐ-UB ngày 28/12/2004 của Uỷ ban nhân dân UBND tỉnhHoà Bình [26], nằm ở phía Tây- Nam của tỉnh Hoà
Trang 1trường đại học lâm nghiệp
Phạm Quang Tùng
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên
nhiên ngọc sơn-ngổ luông tỉnh hòa bình
Trang 2MỞ ĐẦU
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là khoa học nghiên cứu về tính đa dạng của vậtsống trong thiên nhiên từ các sinh vật nhân sơ, vi sinh vật, các loài động vật và thựcvật bực cao Từ mức độ phân tử đến gen, cơ quan, cơ thể, các loài và các quần xã màchúng sống [24] Đa dạng sinh học duy trì các quá trình sinh thái cơ bản, là nhân tốquan trọng đảm bảo cân bằng sinh thái tự nhiên, tạo môi trường sống ổn định [6]
Nhận thức được giá trị to lớn của ĐDSH và hạn chế sự suy thoái của ĐDSH,năm 1993 Việt Nam ký công ước quốc tế về bảo vệ ĐDSH Ngày 22 tháng 12 năm
1995 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt “Kế hoạch hành động bảo vệĐDSH ở Việt Nam” Với những nỗ lực như vậy, tính đến cuối năm 2005 Việt Nam
có tới 126 khu rừng đặc dụng, trong đó có 29 Vườn Quốc Gia (VQG), 59 khu bảotồn thiên nhiên và 38 khu bảo vệ cảnh quan [6], với tổng diện tích là 2.541.675 ha,bằng 7,6% diện tích lãnh thổ Quốc gia
Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Ngọc Sơn - Ngổ Luông được thành lập theoquyết định số 2714/QĐ-UB ngày 28/12/2004 của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnhHoà Bình [26], nằm ở phía Tây- Nam của tỉnh Hoà Bình, là hành lang nối liền VQGCúc Phương với khu BTTN Pù Luông, đây được xem là nơi giao lưu Động Thực vậtcủa vùng núi Tây Bắc và vùng núi Bắc Trung Bộ Là khu vực có hệ sinh thái rừngtrên núi đá vôi điển hình, độc đáo của Việt Nam với diện tích rừng tự nhiên lớn, tậptrung, có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài quý hiếm [19]
Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn ĐDSH tại Ngọc Sơn - Ngổ Luông đang gặp rấtnhiều thách thức mà trong đó nguyên nhân chủ yếu là do đội ngũ cán bộ Ban quản lý(BQL) khu bảo tồn thiếu về số lượng hạn chế về chuyên môn Toàn bộ 4 thành viêncủa BQL trước đây đều là cán bộ ở các hạt kiểm lâm, tuy có kiến thức về luật pháplâm nghiệp nhưng thiếu kỹ năng và kinh nghiệm về công tác bảo tồn thiên nhiên
Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông có một bộ phận dân cư khoảng hơn 11nghìn người sinh sống Nhận thức về giá trị tài nguyên rừng, bảo tồn ĐDSH củangười dân chưa cao Vấn đề lựa chọn giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển sinh kế,
Trang 3xoá đói giảm nghèo luôn là những cân nhắc mà chính quyền và người dân ở đây khótìm được các giải pháp thích hợp Vì vậy, hiệu quả bảo tồn ĐDSH của khu BTTNNgọc Sơn - Ngổ Luông chưa cao.
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các giải pháp bảo tồn cho Banquản lý, khuyến khích cộng đồng tham gia vào quản lý và sử dụng bền vững TNTN
tôi thực hiện đề tài "Nghiên c ứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý b ảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông,
t ỉnh Hoà Bình” Kết quả nghiên cứu của đề tài là một phần cơ sở khoa học và thực
tiễn cho công tác bảo tồn tại KBT Ngọc Sơn - Ngổ Luông Các giải pháp đề xuấtđược đúc kết nhằm mục tiêu tăng cường hiệu quả công tác bảo tồn ĐDSH và đảmbảo sinh kế cho cộng đồng người dân sống trong khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Trang 4CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Theo công ước về ĐDSH thì ĐDSH được định nghĩa là sự phong phú của mọi
cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trên cạn, ở biển, các hệ sinh thái (HST) dưới nướckhác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên ĐDSH bao gồm sự đa dạngtrong loài (Đa dạng di truyền hay đa dạng gen), giữa các loài (Đa dạng loài) và các
hệ sinh thái (Đa dạng HST) Thuật ngữ ĐDSH được dùng lần đầu tiên vào năm 1988
(Wilson, 1988) và sau khi Công ước ĐDSH được ký kết (1992) đã được dùng phổ biến trên các diễn đàn Quốc tế [31].
1.1 Trên thế giới.
Bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên sinh học đã trở thành mộtchiến lược chung trên toàn cầu, mà bao trùm nhất là Công ước ĐDSH đã được ký kếttại Hội nghị Thượng đỉnh ở Rio de Janeiro năm 1992 Tiếp đó, nhiều tổ chức Quốc tế
đã tập trung chủ yếu vào công tác bảo tồn ĐDSH như: Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiênQuốc tế (IUCN), Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP), Quỹ Quốc tếBảo vệ Thiên nhiên (WWF), Tổ chức bảo tồn Động Thực vật Quốc tế (FFI), ViệnTài nguyên Di truyền Quốc tế (IPGRI) v.v Nhiều hội nghị, hội thảo được tổ chức vànhiều sách về ĐDSH đã được xuất bản [18,21] nhằm cung cấp những kiến thức rộnglớn hơn về ĐDSH Một số công ước Quốc tế đã được nhiều Quốc gia tham gia thựchiện như công ước ĐDSH, công ước CITES, công ước về các loài di cư
Với nhịp điệu phát triển kinh tế xã hội ngày một tăng, cùng với việc sử dụngkhông hợp lý và sự quản lý yếu kém tài nguyên sinh học, ĐDSH đang bị suy thoáingày càng tăng [17,18] Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại, mà nguyênnhân chủ yếu là do con người khai thác thiên nhiên không hợp lý đã làm cho nhiềuloài bị tiêu diệt
Để thực hiện bảo tồn ĐDSH theo hướng bền vững, những năm gần đây ở mỗinước, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chọn cho mình một chiến lược và
Trang 5chính sách quản lý tài nguyên thích hợp Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế- chính
trị-xã hội, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia màhình thành nên một hệ thống quản lý sử dụng tài nguyên khác nhau Theo lịch sử thờigian quá trình triển khai bảo tồn ĐDSH đã có những bước thay đổi về phương phápnhưng cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận [2]
Trong giai đoạn đầu của tiến trình bảo tồn ĐDSH các hoạt động bảo tồnthường được tách lập với các hoạt động kinh tế - xã hội khác trong vùng Các khu
bảo tồn được xem như những “hòn đảo” tách biệt với thế giới xung quanh [33] Các
tác động của con người lên hệ sinh thái trong khu bảo tồn hoàn toàn bị nghiêm cấm
Tuy nhiên, mô hình bảo tồn này sớm bộc lộ những hạn chế, đặc biệt trong bối cảnhcủa các nước đang phát triển, nơi có một số lượng dân cư lớn đang sinh sống trongcác khu vực bảo tồn Ở rất nhiều nơi, xung đột giữa người dân địa phương và Banquản lý các khu bảo tồn ngày càng trở nên trầm trọng Những người dân được di dời
ra ngoài khu bảo tồn vẫn tiếp tục đi vào rừng, khai thác các sản phẩm của rừng, thậmchí ngày càng trầm trọng và thiếu ý thức hơn Carruthes (1997) đã kết luận mô hình
bảo tồn này rằng "việc bảo tồn theo mô hình Yellowstone 1 là nghiêm cấm hoàn toàn
tác động của con người vào thiên nhiên; được ngăn chặn bởi những hàng rào, hoặc
di dời cư dân địa phương ra khỏi khu bảo tồn sẽ không còn phù hợp trong thế kỷ 21.
Nếu chúng ta vẫn tiếp tục hình thái bảo tồn này thì hậu quả sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn" [32]
Ngày nay, chiến lược tiếp cận trong công tác bảo tồn đã có nhiều thay đổi
Các hoạt động của con người trong các khu bảo tồn ngày càng được chấp nhận
Chiến lược tiếp cận bảo tồn mới của IUCN trong thế kỷ 21 được khẳng định rằng:
Các khu bảo tồn cần phải tăng số lượng các bên tham gia và người dân trong vùngcần được xem như những "đối tác" hơn là những "mối nguy hiểm" cho công tác bảotồn [38] Nói một cách tổng quát hơn quá trình quản lý tài nguyên đất và rừng cầnsong song với việc bảo đảm sinh kế của cư dân địa phương, tạo ra một chiến lược
Trang 6Một số nước trên thế giới như "Brazil, Trung Quốc, và các nước Trung Đông
đã thực hiện nhiều chương trình, dự án nhằm hướng tới Bảo tồn ĐDSH Kết quả thuđược từ các chương trình này cho thấy rằng muốn tăng cường hiệu quả quản lý tàinguyên ĐDSH trong KBT thì chiến lược “Đồng quản lý” [34] phải được vận dụngmột cách triệt để nhằm đạt được cả hai mục tiêu là bảo tồn ĐDSH và phát triển sinh
kế nông thôn
Đã có rất nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu về những thuộc tính của
"đồng quản lý" và hiệu quả của nó trong công tác bảo tồn Theo Grazia và cộng sự[34] thì "đồng quản lý" là quá trình hợp tác đối tác bởi hai hay nhiều bên tham giatrong quá trình bảo tồn Các bên tham gia có vai trò ngang nhau trong thương thảo,thống nhất, cam kết và đi đến thực thi một chương trình hành động mà trong đó cácbên cùng nhau chia sẻ quyền lực, chức năng, lợi ích và tính trách nhiệm trong quátrình thực thi các hoạt động bảo tồn West và Brechin [43] tập trung nhấn mạnh vàoquá trình chia sẻ tính trách nhiệm và quyền lực giữa Nhà nước và người dân địaphương trong phương pháp "đồng quản lý" ở các khu bảo tồn và cho rằng người dânphải có quyền tham gia vào tất cả các hoạt động một cách bình đẳng với các cơ quanchức năng của nhà nước trong việc hoạch định và thực thi các chính sách bảo tồn, cónhư thế công tác bảo tồn mới mang lại hiệu quả
Chương trình hỗ trợ ĐDSH (The Biodiversity Support Program, 2000) đãthực hiện nhiều dự án với nhiều mục tiêu cho bảo tồn ĐDSH, ở các nước Châu Phi
và Châu Mỹ Latinh [31] Những nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra một số điều kiệnthành công của bảo tồn bao gồm: Một là, mục tiêu bảo tồn phải được thảo luận, đàmphán và nhất trí bởi tất cả các chủ thể hoặc đối tác có liên quan Hai là, các hoạt độngbảo tồn phải xác định và hỗ trợ các lợi ích và nhu cầu của người dân địa phương Ba
là, nhận thức, kiến thức về bảo tồn ĐDSH sẽ dẫn đến động lực, nhưng động lựckhông thì chưa đủ Để biến ý tưởng thành hành động thì con người phải có đầy đủ kỹnăng và năng lực cần thiết [31]
Trang 7để tham quan, nghiên cứu khoa học Sau chuyến đi ông Nguyễn Tạo - Nguyên cục
trưởng cục Lâm nghiệp đã xuất bản bài viết "Bảo tồn thiên nhiên và mối quan hệ với quản lý bảo vệ rừng", đồng thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "rừng là vàng, nếu biết bảo vệ thì rừng rất quý" [37] Lời nói của Hồ Chủ Tịch cùng với những kinh nghiệm
học hỏi được từ nước Đức đã đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển khung thểchế về bảo tồn ĐDSH ở nước ta [10]
Khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên ở Việt Nam là "rừng cấm Cúc Phương",
được thành lập theo quyết định số 72/TTg của Thủ tướng chính phủ vào năm 1962[3] Từ đó cho đến nay số lượng và diện tích các khu rừng đặc dụng ở Việt Namkhông ngừng tăng lên; tính đến cuối năm 2005 Việt Nam có tới 126 khu rừng đặcdụng, trong đó có 29 Vườn Quốc Gia (VQG), 59 khu bảo tồn thiên nhiên và 38 khubảo vệ cảnh quan [6]
Bên cạnh việc phát triển các khu rừng đặc dụng, Nhà nước Việt Nam cũng đãtham gia ký kết nhiều công ước Quốc tế, ban hành nhiều văn bản pháp luật và chínhsách có liên quan đến bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH Năm 1985, chiến lược Bảo tồnQuốc gia của Việt Nam được ban hành Đến năm 1993, Việt nam đã ký công ướcQuốc tế về ĐDSH và tiến hành xây dựng Kế hoạch hành động ĐDSH vào năm 1995
Đây là văn bản có tính pháp lý khung và là kim chỉ nam cho hành động của Việt Namtrong việc bảo tồn ĐDSH ở tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương, các ngành
và các đoàn thể Năm 1991, Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng vàđược sửa đổi, bổ sung vào năm 2004 Cũng vào năm đó (2004), Luật Bảo vệ Môi
Trang 8Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam vẫn còn bộc lộnhiều tồn tại và bất cập mà nguyên nhân chủ yếu bao gồm: (1) nhận thức của ngườidân về bảo tồn ĐDSH còn thấp, (2) năng lực, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ làmcông tác bảo tồn yếu, (3) sự chồng chéo, giữa nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, xóađói giảm nghèo và công tác bảo tồn.
Một điểm vẫn còn gây tranh cãi (đặc biệt trong giới những người làm công tácbảo tồn) trong công tác bảo tồn ở Việt Nam đó là có nên hay không lôi kéo, thu hútngười dân vào tham gia công tác bảo tồn Rất nhiều ý kiến tán đồng với việc này và
đã đề xuất các giải pháp như "đồng quản lý", "quản lý có sự tham gia", "quản lý dựavào cộng đồng" Tuy nhiên, cũng không ít ý kiến cho rằng con người (mà cụ thể làngười dân địa phương) là nhân tố chính dẫn đến sự suy thoái ĐDSH ở các vùng rừng
vì thế không nên để cộng đồng tham gia vào bảo tồn và tốt hơn hết là không để ngườidân sống trong các khu bảo tồn [20]
Những hạn chế và tranh luận chưa có giải pháp triệt để nêu trên phần nào đãtác động và làm giảm hiệu quả công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Nguyên thứtrưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nguyễn Văn Đẳng cũng đã thừa
nhận rằng "hiệu quả của công tác bảo tồn ở Việt Nam vẫn còn thấp mà nguyên nhân
là do không có sự thống nhất trong xây dựng kế hoạch; chồng chéo về trách nhiệm
và thiếu sự hợp tác giữa các bên tham gia" [2]
1.3 Tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Kể từ khi khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông được thành lập tháng 12 năm
2004, cùng với sự hỗ trợ của Tổ chức Bảo tồn động thực vật Quốc tế (FFI), đã cómột số hoạt động bảo tồn ĐDSH được thực hiện Đặc biệt là việc tham mưu chochính quyền các cấp cơ sở trong quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; tuyên truyềnLuật bảo vệ và phát triển rừng, các nghị định và thông tư hướng dẫn về quản lý vàbảo vệ rừng tới cộng đồng dân cư sống xung quanh và các hoạt động nhằm phát triểnsinh kế cho cộng đồng sống trong khu bảo tồn cũng đã được thực hiện [13] Tuynhiên, công tác bảo tồn ĐDSH tại khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông vẫn còn gặpnhiều khó khăn do thiếu đội ngũ cán bộ cũng như chưa có các giải pháp thích hợpnhằm hài hòa vấn đề bảo tồn và phát triển sinh kế của người dân địa phương
Trang 9CHƯƠNG 2:
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bảo tồn Đa dạng sinh họctại khu Bảo tồn Thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hoà Bình
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm, giá trị ĐDSH, hiện trạng quản lý và mối đe dọa đối với ĐDSH tạikhu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm và giá trị ĐDSH ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông:
+ Tính đa dạng của khu hệ thực vật + Tính đa dạng của khu hệ động vật
+ Các kiểu sinh cảnh + Giá trị ĐDSH
- M ối đe doạ và hiện trạng công tác quản lý ĐDSH ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông
+ Mối đe dọa lên ĐDSH + Hệ thống tổ chức + Phân tích ma trận SWOT ( Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức)
+ Khó khăn, thách thức trong quản lý ĐDSH
+ Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong công tác quản lý ĐDSH
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý bảo tồn ĐDSH ở khu BTTN
Ng ọc Sơn - Ngổ Luông
Trang 10+ Nhóm giải pháp về khoa học kỹ thuật + Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách
2.4 Phương pháp nghiên cứu
ĐDSH theo quan điểm thực tiễn được xem là sản phẩm của sự tươngtác của hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội Vì vậy, khi nghiên cứu về ĐDSH cáchtiếp cận được áp dụng là: tổng hợp, liên ngành và hệ thống Các yếu tố tài nguyênnằm trong mối quan hệ chặt chẽ của một HST Trong đó, con người vừa là một thànhviên quan trọng, vừa là một đối tượng hưởng lợi từ nguồn tài nguyên này
2.4.1 Ph ương pháp thừa kế
Thu thập, tổng hợp và phân tích hệ thống tất cả các tài liệu có được liên quanđến các nội dung nghiên cứu ĐDSH của KBT như: Báo cáo điều tra của Viện Sinhthái và Tài nguyên Sinh vật, báo cáo của Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật Quốc tế(FFI), Báo cáo điều tra kinh tế xã hội của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, dự
án LLINK của Hội dân tộc học, dự án khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông của Phânviện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc bộ và kế thừa các số liệu về kinh tế xã hội củacác xã, huyện và các báo cáo tổng kết năm của các xã, niên giám thống kê của 2huyện Tân Lạc và Lạc Sơn
2.4.2 Phương pháp tìm hiểu giá trị và mối đe dọa đối với ĐDSH.
Sử dụng phương pháp PRA để tìm hiểu giá trị và mối đe dọa đối với ĐDSH,xác định tình hình khai thác gỗ, các loại lâm sản ngoài gỗ và săn bắt động vật Đánhgiá nhận thức và thái độ của cộng đồng người dân trong việc bảo vệ nguồn tàinguyên rừng Tác giả chọn 2 trong số 7 xã (Ngọc Sơn, Nam Sơn) của khu vực để tiếnhành điều tra các loài cây gỗ, loài động vật rừng thường bị khai thác, săn bắt Đây làcác xã có tính đặc thù, điển hình về vấn đề bảo tồn cũng như kinh tế xã hội trong khubảo tồn Ở mỗi xã tiến hành chọn 3 thôn theo phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên, mỗithôn chọn 15 hộ để tiến hành phỏng vấn Sự chính xác của thông tin được kiểmchứng bằng cách tiến hành họp dân lấy ý kiến tập thể của các thôn trong xã
Trang 112.4.3 Phương pháp điều tra đa dạng sinh học.
Phương pháp điều tra ĐDSH sử dụng trong quá trình nghiên cứu của tổ chứcFFI mà tác giả là một thành viên của đoàn nghiên cứu là phương pháp phổ biến được
áp dụng cho từng nhóm sinh vật như Thực vật, Động vật có xương sống, các kiểusinh cảnh, phần lớn kết quả điều tra đa dạng sinh học sử dụng trong nghiên cứu nàyđược kế thừa từ kết quả của một số cơ quan khoa học, các tổ chức Quốc tế đã vàđang giúp đỡ các hoạt động tại khu bảo tồn Tuy nhiên, tác giả cũng đã kiểm chứngcập nhật thông tin, số liệu bằng cách lập một tuyến điều tra chạy dọc khu BTTN từ
xã Tân Mỹ đến xã Bắc Sơn, trên tuyến đó lập 7 điểm điều tra ĐDHS bằng phươngpháp quan sát, phỏng vấn và chụp hình
2.4.4 Phương pháp điều tra tình hình kinh tế- xã hội.
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) được
sử dụng để điều tra đánh giá tình hình kinh tế- xã hội Phương pháp này được sửdụng trong toàn bộ quá trình điều tra Các công cụ của phương pháp này được thựchiện bao gồm: Công cụ phỏng vấn, vẽ sơ đồ thôn bản, đi theo lát cắt, chụp hình, biểu
đồ Venn, phân tích tình hình thu nhập, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng¸ các hoạtđộng sản xuất, điều tra thị trường, gợi ý cho tương lai …
2.4.5 Phân tích SWOT đối với công tác quản lý ĐDSH.
Thu thập các báo cáo, số liệu về các chương trình hoạt động của BQL khuBTTN từ năm 2005 đến nay, sử dụng các công cụ PRA như: sơ đồ Venn để phân tíchmối quan hệ giữa các bên liên quan, phân tích ma trận SWOT2 để xác định các điểmmạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức nhằm xác định các thuận lợi, khó khăn đối vớicông tác bảo tồn; xác định năng lực và phân tích ảnh hưởng của các bên liên quan,tham gia công tác bảo tồn
2.4.6 Phương pháp phân tích số liệu.
Phân tích hệ thống, so sánh và ma trận để tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinhtế- xã hội, đặc điểm và giá trị ĐDSH, mối đe dọa và hiện trạng quản lý bảo tồn
Trang 12ĐDSH ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệuquả bảo tồn.
2.4.7 Nguyên t ắc đề xuất các giải pháp.
Sử dụng phương pháp tiếp cận khung logic để xác định các hành động ưu tiên
Các giải pháp được đề xuất đảm bảo được các tiêu chí như: Có sự điều phối, phốihợp liên ngành; sâu sát với mối quan tâm và sự tham gia của các tổ chức liên quan
Các mối liên hệ liên ngành được thực hiện ở cấp Trung ương, Tỉnh, Huyện và Xã
Các giải pháp đề xuất phải thể hiện được nguyện vọng về ổn định dân sinh, kinh tếcủa các cộng đồng dân cư sống xung quanh KBT Các nội dung nghiên cứu đượcthực hiện khái quát theo sơ đồ ở hình 2.1
Hình 2.1: Sơ đồ quá trình thực hiện các nội dung nghiên cứu ở khu bảo tồn thiên
nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Thông tin về điềukiện tự nhiên, kinh
tế xã hội của KBT
Đặc điểm và giá trịĐDSH của KBT
Mối đe dọa và hiệntrạng công tác quản
lý ĐDSH của KBT
Xử lý, phân tích tổng hợp
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý
bảo tồn ĐDSH của KBT
Trang 13CHƯƠNG 3:
CÁC KHÍA CẠNH VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 V ị trí khu vực điều tra
Khu vực nghiên cứu có toạ độ địa lý: 20021’ đến 22036’ Vĩ độ Bắc
105009’ đến 105013’ Kinh độ Đông
Hình 3.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Tổng diện tích tự nhiên khu điều tra là 19.254 ha, bao gồm cả KBT và vùngđệm nằm trên địa bàn của các xã: Ngọc Sơn, Tự Do, Ngọc Lâu, Tân Mỹ (Huyện LạcSơn) và Bắc Sơn, Nam Sơn, Ngổ Luông (Huyện Tân Lạc)
Phía Bắc giáp huyện Mai Châu tỉnh Hoà BìnhPhía Đông- Nam là vùng đệm Vườn quốc gia Cúc PhươngPhía Tây giáp huyện Quan Hoá, Bá Thước tỉnh Thanh Hoá
Trang 143.1.2 Địa hình
Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông là phần giữa của cánh cung đá vôi TâyBắc- Đông Nam miền Bắc Việt Nam, kéo dài từ Mộc Châu - Sơn La đến CúcPhương- Ninh Bình, tạo thành dải phân cách giữa miền núi Tây Bắc với vùng đồngbằng Bắc Bộ Địa hình chia cắt phức tạp, xen kẽ những khối núi đá vôi hiểm trở chạytheo hướng Tây Bắc - Đông Nam là những thung lũng hẹp [19]
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
- Địa chất: Phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu phân bố thành dạng dải kéo
dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Thành phần chính gồm: đá sét vôi, bột kết, đávôi, đá phiến sét, đôi nơi có kẹp lớp mỏng cát kết hạt mịn Các đá vôi xếp vào nhómnày có dạng khối phân lớp dày Đá vôi bị phong hoá mạnh với các khe nứt sâu vàrộng do các hoạt động kiến tạo tác động, đồng thời các quá trình phong hoá cơ học
và phong hoá hoá học xảy ra mạnh mẽ nhất là phong hoá quá trình hoà tan trên các
đá vôi dạng khối Kết quả là trên bề mặt địa hình tạo thành các phễu karst đá vôi vàdạng địa hình tai mèo điển hình [19]
- Thổ nhưỡng: Qua điều tra đã xác định trong khu vực có các loại đất sau:
+ Đất phù sa ngòi suối: Phân bố ở ven các ngòi suối, là những dải đất có diệntích rất nhỏ hẹp
+ Đất dốc tụ thung lũng: Phân bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độ dốcđịa hình nhỏ
+ Đất feralit bị biến đổi do trồng lúa nước: Phân bố trên các sườn đủ nướctưới, hoặc có thể chủ động tưới, phát triển trên các sản phẩm hình thành tại chỗ hoặcđất dốc tụ
+ Đất feralit mùn phát triển trên đá sét: Đất feralit mùn trên núi phân bố ởvành đai 700- 1800 m
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá vôi: Đất có màu nâu vàng, thành phần cơ giớitrung bình đến thịt nhẹ, cấu tạo cục ổn định, sâu khoảng 50 cm có xuất hiện kết von
Trang 15+ Đất feralit trên đá sét: Phân bố ở vành đai thấp (< 700 m), lớp phủ thực vậtnghèo nàn.
3.1.4 Khí h ậu
Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới, gió mùa, ảnh hưởngcủa khí hậu vùng cao Một năm có 4 mùa và chia theo lượng mưa thì có mùa mưa vàmùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 10 đến tháng
4 năm sau Các đặc trưng chính của khí hậu trong vùng như sau [19]:
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí bình quân năm là 23,30C, nhiệt độ trungbình thấp nhất là 20,60C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 27,20C Nhiệt độ thấp nhấttuyệt đối từ 3- 50C xảy ra vào tháng 1, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 38,50C vàotháng 6 Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng là 7,60C, biên độ nhiệt giữa ngày vàđêm từ 8- 100C
- Chế độ ẩm: Lượng mưa trung bình năm là 1.750 mm Năm cao nhất tới2.800 mm, năm thấp nhất 1.250 mm
Lượng bốc hơi bình quân năm 885 mm, bằng 50,6% lượng mưa trung bìnhnăm, lượng bốc hơi lớn thường xảy ra vào các tháng ít mưa gây nên tình trạng thiếunước nghiêm trọng ảnh hưởng đến cây trồng vụ đông xuân
Độ ẩm không khí: độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, giữa các thángtrong năm biến thiên từ 75 - 86%
- Chế độ gió: Hướng gió thịnh hành từ tháng 3 đến tháng 11 là gió mùa ĐôngBắc, các tháng còn lại chủ yếu là gió Nam, gió Tây Nam thường xuất hiện vào tháng
6, 7 gây khô nóng
- Sương muối: Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12, tháng 1 năm sauvới tần xuất xuất hiện 1- 3 lần/năm Đây là yếu tố bất lợi cho sinh trưởng và pháttriển của cây trồng
Trang 163.1.5 Hi ện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng
3.1.5.1 Diện tích các loại đất
Kết quả điều tra hiện trạng sử dụng đất trong khu vực do Viện Điều tra Quyhoạch rừng Phân viện Tây Bắc bộ thực hiện [18] ở Bảng 3.1 cho thấy Đất đai các xãtrong khu vực sử dụng vào mục đích lâm nghiệp là chủ yếu, chiếm tới 80,2% Đấtnông nghiệp chỉ chiếm 8,8%, bình quân mỗi hộ gia đình có 0,8 ha (nhiều nhất là xãNgổ Luông 1,2 ha và ít nhất là xã Bắc Sơn 0,5 ha); đất chưa sử dụng còn 9,8% chủyếu là đất đồi núi trọc, khó canh tác
Diện tích đất lâm nghiệp trong vùng là 15.487,5 ha chiếm hơn 80% diện tích
tự nhiên Theo thống kê của các xã, tất cả các loại đất rừng đã được giao cho các hộgia đình quản lý
Trong vùng vẫn còn tồn tại hình thức bảo vệ rừng cộng đồng Gần như ở mỗithôn bản đều có một khu rừng riêng để sử dụng cho các lợi ích công cộng Mọi ngườitrong thôn bản đều có ý thức và trách nhiệm cao với tài nguyên thiên nhiên tại khuvực đó mà không ai xâm phạm, việc sử dụng tài nguyên ở khu vực này được ngườidân trong thôn thảo luận và giải quyết Mô hình quản lý rừng cộng đồng này cầnđược nghiên cứu sâu hơn nữa nhằm ứng dụng, lồng ghép vào công tác quản lý, bảotồn ở một quy mô rộng lớn hơn
Trang 17Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Đơn vị: ha
Sơn
Nam Sơn
Ngổ Luông Tự do
Ngọc Lâu
Ngọc Sơn
Tân Mỹ
- Cây ăn quả 139,9 8,1 20,0 5,0 104,8 2,0
Trang 183.1.5.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy, đất nông nghiệp trong khu vực chỉ chiếm 8,8%
tổng diện tích tự nhiên Trong tổng số 1.674 ha đất nông nghiệp thì đất trồng câylương thực là 1.344,7 ha chiếm 80,3%, đất dành cho cây công nghiệp và chăn nuôi làkhông đáng kể Phần lớn các gia đình đều có vườn nhưng chủ yếu là vườn tạp, trồngnhiều loại cây phục vụ cho nhu cầu hàng ngày
Tìm hiểu sâu hơn về cuộc sống của người dân cho thấy, việc sử dụng đấtnông nghiệp ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông vẫn còn theo tập quán canh tác cổtruyền là tập trung nhiều vào khai thác tự nhiên mà ít chú trọng tới các biện pháp bảo
vệ và làm giàu đất [26] Vì vậy, độ màu mỡ đất ngày càng suy giảm dẫn đến năngsuất cây trồng cũng giảm theo
3.1.5.3 Tình hình sử dụng đất lâm nghiệp
a Phân chia đất lâm nghiệp theo chức năng
Theo qui hoạch phân chia 3 loại rừng trong tổng quan phát triển lâm nghiệptỉnh Hoà Bình (Bảng 3.1), chủ yếu diện tích đất lâm nghiệp trong khu vực nghiêncứu thuộc đối tượng là rừng đặc dụng Tuy nhiên, ranh giới các loại rừng vẫn chưađược cắm mốc ngoài thực địa
b Tình hình giao đất giao rừng
Toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp đã được giao, khoán cho các hộ gia đình, các
tổ chức quản lý, bảo vệ theo Nghị định 02 của Chính phủ, trong những năm gần đâydiện tích nương rẫy có xu thế giảm dần
Trang 19gỗ, củi, tre, nứa người dân còn khai thác các loại song, mây và dược liệu, động vậtrừng.
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Dân s ố lao động
Dân cư sống trong khu vực nghiên cứu có tổng số 11065 nhân khẩu, trong
2145 hộ, dân số với hơn 99% là người Mường, còn lại một bộ phận tương đối nhỏ làngười Thái và người Kinh chuyển từ nơi khác đến sinh sống, chủ yếu làm nghề kinhdoanh, buôn bán nhỏ và một bộ phận giáo viên đã định cư (Bảng 3.2)
Bảng 3 2 Thành phần dân tộc, lao động dân số trong vùng
hộ
Số khẩu
Số
1 Tân Lạc
2 Bắc Sơn 257 257 1223 572 618 605
3 Ngổ Luông 256 256 1210 620 623 587 4
5 = 0.23% 2145 11065 5172 5675 5750
Nguồn: Dự án khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, 2004 [19]
Mật độ dân số bình quân trong vùng là 58,3 người/km2 (Bảng 3.3) Phân bốkhông đồng đều, cao nhất là xã Bắc Sơn với 92 người/km2 và thấp nhất là NgổLuông 32 người/km2 (cả 2 xã đều thuộc huyện Tân Lạc)
Trang 20Bảng 3.3 : Diện tích, số thôn bản, mật độ dân số các xã thuộc Khu BTTN Ngọc Sơn Ngổ Luông
Diện tích
tự nhiên (ha)
Diện tích đât
NN (ha)
Diện tích đât LN (ha)
Diện tích rừng tự nhiên (ha)
Số thôn bản
Tỷ lệ tăng dân số
Mật độ (người / km 2 )
1 Tân Lạc
Nam Sơn 2.025,00 309,67 1.042,29 1.042,29 7 1.2% 75
2 Bắc Sơn 1.323,00 141,29 561,96 561,16 5 1% 92
3 Ngổ Luông 3.823,00 317,24 3.088.66 3.010,68 6 0.9% 32 4
Nguồn: Dự án khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, 2004 [19]
Tỷ lệ tăng dân số cơ học ở khu vực điều tra là không đáng kể, tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên trung bình là 1,1%
Công tác định canh định cư
Đại đa số dân cư trong vùng hiện nay đã ổn định cuộc sống, định canh, định
cư Tuy nhiên, do những lý do khách quan vẫn còn một số hộ phải di chuyển tự dovào Nam để làm ăn hoặc chuyển ra gần đường để giao lưu, buôn bán
Đồng bào dân tộc Mường có tập quán canh tác lúa nước Ruộng lúa có độmàu mỡ cao, có hệ thống thuỷ lợi dẫn nước từ các khe suối Ngoài lúa tẻ, lúa nếp,còn có hoa màu và cây củ các loại Cùng với nông nghiệp, chăn nuôi cũng đang trênđường phát triển tại khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông [8,12]
3.2.2 Văn hóa, xã hội và y tế
Mỗi xã đều có trạm y tế đặt ở trung tâm xã, riêng Ngọc Sơn có phòng khámbệnh đa khoa cụm xã vùng cao Ngoài ra, có các cơ sở y tế lưu động ở một số thôn
Trang 21trong khu vực nghiên cứu Các cơ sở y tế này thường là của gia đình cán bộ trạm y tế
xã ở trong thôn đó Tuy nhiên, trên bình diện chung việc chăm sóc sức khoẻ chocộng đồng trong khu vực vẫn còn gặp nhiều khó khăn [12]
Các bệnh thường gặp trong vùng là sốt rét, viêm gan, các bệnh về đường hôhấp và đường ruột Trong đó, dễ mắc và có tỉ lệ tử vong cao nhất là bệnh sốt rét
Bệnh này tập trung cao vào các tháng chuyển mùa hàng năm
3.2.3 Giáo d ục
Toàn bộ các xã trong khu vực có trường tiểu học với 209 lớp học và 3969 họcsinh Trung học cơ sở có 105 lớp với 3258 học sinh Hiện tại trong vùng chưa xã nào
có trường Phổ thông Trung học [12]
Mặc dù tỉ lệ trẻ em tới trường cao song hiện tượng bỏ học cũng khá phổ biếntập trung chủ yếu vào giai đoạn chuyển cấp Nguyên nhân bỏ học là do không đủđiều kiện kinh tế cho con em tiếp tục tới trường và thiếu sự thúc dục của bố mẹ
3.2.4 Cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Giao thông trong vùng đã và đang được nâng cấp Hiện tại, xeôtô vào được tất cả các thôn bản vào mùa khô
- Thủy lợi: Các xã trong vùng đều có hệ thống thủy lợi phục hoạt động sản
xuất Các kênh mương chưa được kiên cố hoá, một số công trình thủy nông khác trênđịa bàn do địa phương quản lý Một số đập thủy lợi hiện nay đã xuống cấp nghiêmtrọng, thường bị hư hỏng do không được tu sửa, bảo dưỡng thường xuyên
- Điện: Hầu hết các xã trong vùng đã có hệ thống lưới điện Quốc gia
- Nước sạch: Nước sạch chưa đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng địa phương
Nguồn nước sử dụng phổ biến cho sinh hoạt là nước tự chảy và sông suối Đặc biệt,không hộ nào trong khu vực nghiên cứu đào giếng Hệ thống nước tự chảy hiện naychỉ đủ cung cấp khoảng 65% nhu cầu sử dụng trong vùng
Trang 22- Thông tin liên lạc: Phần lớn UBND các xã đã có điện thoại, là thuận lợikhông nhỏ để trao đổi thông tin với cấp huyện, tỉnh Các xã đều có điểm bưu điệnvăn hoá xã [19]
3.2.5 Th ực trạng sản xuất kinh tế ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Các xã trong khu vực có nền kinh tế kém phát triển, tất cả đều thuộc các xã đặcbiệt khó khăn Thu nhập của người dân chủ yếu từ nông nghiệp trong đó sản phẩmlương thực là chủ đạo, chăn nuôi và các ngành nghề khác chưa phát triển (Bảng 3.4)
Bảng 3.4 : Diện tích, sản lượng một số loại cây trồng tại KBT Ngọc Sơn-Ngổ Luông
Xã
loại Diện
tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Bắc Sơn 58.26 159.5 120 240 50 265 30 300 Ngổ Luông 57 171 220 550 23 50 30 230 6 4
Tự Do 119.4 679.9 163.3 408.2 42 252 14 40 20 18 Ngọc Lâu 95.6 317.5 367 982 56 336 6.9 20.7 32.5 27.3 Ngọc Sơn 80 240 182 546 60 360 15 45 13 11 Tân Mỹ 25 750 215 860 15 60 0 0 0 0
Nguồn: Dự án khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, 2004 [19]
Trang 233.2.5.2 Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
Chăn nuôi trên địa bàn chưa phát triển do những hạn chế như địa hình dốc;
không có khu vực chăn thả, thiếu đồng cỏ; thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật Các loạigia súc, gia cầm chính trong vùng là trâu, bò, lợn, dê, gà …
3.2.6 Đánh giá tình hình đói nghèo của khu vực nghiên cứu
Tình hình đói nghèo tại khu vực nghiên cứu đang là vấn đề trở ngại lớn nhấtcho các nhà chức trách của tỉnh Hoà Bình Tỉ lệ hộ đói nghèo cao nhất ở xã Tự Do là22,2%, thấp nhất ở xã Nam Sơn 11,9 % (Bảng 3.5)
Bảng 3.5: Số hộ nghèo trong khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Phân loại hộ Các xã
Tổng số hộ
Tổng cộng 2145 695 1038 412
Nguồn: Điều tra kinh tế xã hội khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông [12]
3.3 Các dự án đã và đang thực hiện tại khu vực nghiên cứu.
Hiện nay, có rất nhiều dự án đang triển khai các hoạt động tại khu BTTN NgọcSơn - Ngổ Luông, các dự án này đã và đang góp phần xóa đói giảm nghèo tại các xãtrong khu vực nghiên cứu, dưới đây là các dự án đang triển khải tại các xã trong khuBTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông (Bảng 3.6)
Trang 24Bảng 3.6 : Các dự án đang thực hiện tại khu vực nghiên cứu tỉnh Hoà Bình
Định canh định cư
327 (661) JVC
Xúc tiến
du lịch sinh thái
FFI
Giảm nghèo các tỉnh phía bắc
đá vôi Pù Luông- Cúc Phương”
Xúc tiến du lịch sinh thái: Dự án của tổ chức hợp tác phát triển Tây Ban Nha
Trang 25CHƯƠNG 4:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm và giá trị ĐDSH của khu bảo tồn Ngọc Sơn - Ngổ Luông
4.1.1 Tính đa dạng khu hệ thực vật
4.1.1.1 Đa dạng thành phần loài, chi và họ Thực vật
Điều tra trên tuyến điển hình đã phát hiện và định loại, lập danh lục được 995loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 618 chi của 180 họ, trong 5 ngành thực vật [9]
Điều đáng chú ý là trong thành phần thực vật KBT có tới 50 loài cây có nguồn gốctrồng dẫn giống từ nơi khác đến đã ổn định, đó là cây ăn quả, cây cảnh và một số cây
Nguồn: Dự án khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, 2004 [19]
Đem kết quả trên so sánh với một số Vườn quốc gia và Khu bảo tồn Thiênnhiên trên núi đá vôi phía Bắc cho thấy (Bảng 4.2)
Trang 26Bảng 4.2 So sánh về thực vật của khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông với các khu rừng đặc dụng ở Bắc Bộ
Tên đơn vị Diện tích
(ha)
Ba Bể (Bắc Cạn) 23.340 602 Nghiến - Lát-Ô rô Cát Bà (Hải Phòng) 15.000 745 Kim giao - Và nước Hữu Liên ( Lạng Sơn) 10.647 795 Nghiến - Hoàng đàn - Mạy tèo Khe rỗ(Bắc Giang) 7.153 786 Lim xanh, Táu mật, Trầu tiên, Ba kích Phong Thổ(Lai Châu) 15.000 568 Vối thuốc,Tô hạp, Giổi găng
Tà Xùa(Sơn La) 20.200 613 Pơ mu, Xoan nhừ, Chò chỉ, Táo mèo Khu Côpia(Sơn La) 7.000 639 Pơ mu, Giổi, Dẻ, Mận rừng
Pù Luông (Thanh Hoá) 16.983 552 Trai, Nghiến, Sến, Đinh, Chò đãi
Trường mật Ngọc Sơn - Ngổ Luông 19.254 995 Nghiến, Trai, Chò nhai, Đăng
Nguồn: Dự án khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, 2004 [19]
Hệ thực vật ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông phong phú về loài nhấttrong tất cả các khu bảo tồn được so sánh Đặc biệt có nhiều loài và họ của thực vậthạt trần, rất điển hình cho vùng núi cao đá vôi bắc Trường Sơn Các loài cây gỗ điểnhình cho khu nghiên cứu như: Nghiến, Trai, Chò nhai, Đăng, Giổi, Trường mật, Gộigác, Chè lông (chè đuôi lươn…luôn đi với nhau trong khu phân bố)
Nhiều loài cây có ở Ngọc Sơn - Ngổ Luông nhưng có nguồn gốc trồng để lấyquả hạt, rau đã làm tăng số loài, chi và họ của thực vật KBT Tuy nhiều loài câynông nghiệp ngắn ngày như lúa, ngô, Sắn, lạc v v cũng chưa được giới thiệu
S ự đa dạng loài và chi thực vật.
Kết quả nghiên cứu sự đa dạng về loài và chi thực vật được thể hiện ở bảng 4.3
Trang 27Bảng 4.3 Các chi có số loài lớn nhất của khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Khi nghiên cứu ĐDSH về loài, Tolmachop A.L (1974) đã kết luận “ở vùngnhiệt đới, thành phần thực vật khá đa dạng thể hiện ở chỗ là rất ít họ chiếm tới 10%
tổng số loài của hệ thực vật và tổng tỷ lệ % của 10 họ giàu loài nhất chỉ đạt 40 - 50%
tổng số loài của cả hệ thực vật” Cũng theo Tolmachop thì khu hệ thực vật có 10 họ
có số loài nhiều nhất chiếm tỷ lệ ít hơn 50% được đánh giá là đa dạng, còn trên 50%
là không đa dạng về loài [33]
Trang 28nêu ra, điều này một lần nữa khẳng định khu rừng nghiên cứu rất đa dạng về loài vàchi thực vật [25].
Trong khu vực nghiên cứu có 180 họ thực vật với tổng số loài là 995 loài, mỗi
họ có số trung bình là 5 loài Tuy nhiên, chỉ có 50 họ có số loài từ 6 trở lên, chiếm27% Số họ có số loài dưới mức trung bình là 130, chiếm 73%
Trong tất cả các chi chỉ có 1-2 chi chiếm 93 họ tức 51% so với tổng số họ
Nếu đem kết quả này so sánh với kết quả nghiên cứu một số tác giả như: Lê MộngChân, Vũ Văn Dũng (1992) các Khu BTTN ở Việt Nam thì chúng ta có thể đưa rakết luận là thực vật ở đây rất đa dạng về họ thực vật
4.1.1.2 Đa dạng về công dụng.
Kết quả điều tra cho thấy ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông các loài thựcvật được xếp vào 18 nhóm công dụng chính, kết quả thể hiện ở bảng 4.4
Trang 29Bảng 4.4 Các nhóm công dụng của Thực vật khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Trang 30tre, Đơn buốt, Ba đậu, Trầu không, Lá lốt, Rau răng, Dạ cẩm, Lá khôi, Sâm nam,Dây máu người, Hoàng nàn, Hoàng đằng, Hồng Hoa, Cẩu tích, Xấu hổ, Bình vôi, Củdòm, Đậu khấu, Lô hội, Dứa dại, Móc câu đằng, Thiên niên kiện, Ráy dại, Kê huyếtđằng.
2- Cây có thể làm thuốc, tới 424 loài chiếm tỷ lệ cao 31,92% so với tổng loài
Tỷ lệ này rất cao so với Tây nguyên 11% (Phan Kế Lộc, 1991), Miền bắc 16,1% (VõVăn Chi, 1990) Toàn quốc 22% (Dược thảo VN, 1999) Tỷ lệ này tương đương sovới Vườn quốc gia Cát Bà, Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên Lạng sơn, Khu bảo tồnKhe Rỗ Bắc Giang là ba nơi được biết là có nhiều cây thuốc nam của miền bắc ViệtNam
3- Nhóm cây cho gỗ là chính có 326 loài, chiếm 24,54% so với tổng số loàitrong rừng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế hiện tại và có ý nghĩa quyết địnhkiến tạo hoàn cảnh sinh thái của rừng, chi phối các loài cây khác
4- Nhóm loài cây có thể ăn được cho người, đặc biệt với bữa ăn của bà conngười dân tộc khá nhiều loài, tới 213 loài chiếm tỷ lệ khoảng 16,03% trong tổng cácloài (Gồm: 1 Cây làm rau ăn 90 loài; 2 Cây cho quả ăn được 64 loài; 3 Cây đểuống nước 30 loài; 4.Cây lấy củ 20 loài; 5 Cây lấy bột 9 loài ) Nhóm cây này đượcngười dân khai thác thường xuyên dưới nhiều hình thức, và cần có sự hướng dẫn củakiểm lâm để khai thác bền vững
5- Nhóm cây cho nguyên liệu công nghiệp và thủ công nghiệp 107 chiếm tỷ lệ10,7% so với tổng số loài (1 Cây lấy nhựa 25 loài;2 Cây cho dầu thơm 10 loài; 3
Cây cho chất chát 40 loài; 4 Cây lấy Màu 18 loài; 5 Cây cho tinh dầu 14 loài)
6- Cây làm vật liệu thông thường có 69 loài chiếm tỷ lệ 7% so với tổng sốloài (1 Cây vật liệu đan 29 loài; 2 Cây lấy sợi 25 loài; 3 Cây lấy lá lợp nhà 15 loàì),nhóm loài này nhỏ nhưng rất gần gũi với đời sống của vgười dân vì giá trị sử dụnghàng ngày
7- Các loài cây làm cảnh, bóng mát, phòng hộ có 166 loài chiếm tỷ lệ 16% sovới tổng loài
Trang 318- Cây chủ cánh kiến khá nhiều có tới 23 loài chiếm 2,3% Đây là tiềm năngphát triển nghề nuôi thả cánh kiến mang lại thu nhập cao cho người dân địa phương.
9- Hệ số sử dụng theo công dụng của thực vật Ngọc Sơn - Ngổ Luông cao đạttới hệ số 1,3
Ngoài 18 nhóm công dụng chính trên đây còn một số cây chưa rõ công dụng
và nhiều công dụng khác chưa được điều tra như cây diệt côn trùng, cây làm thức ăncho động vật, gia súc Cần có những đầu tư nghiên cứu sâu hơn vì nó không chỉ giúpphục hồi, duy trì, phát triển được hệ sinh thái rừng ở đây mà còn đóng góp vào bảo
vệ, phát triển được các loài cây đa tác dụng, một nguồn lợi kinh tế cao, một nguồngen quí của Việt nam
4.1.1.3 Số lượng loài quý hiếm
Trên thực tế có nhiều loài thực vật mà số lượng cá thể còn lại rất nhỏ Do môitrường sống khắc nghiệt hoặc do con người khai thác quá mức làm những loài nàylâm vào nguy cơ bị tiêu diệt [19] Trong phạm vi toàn quốc có 337 loài thực vật bậccao quý hiếm được xếp vào sách đỏ nhằm khuyến cáo rộng rãi để mọi người cùng cótrách nhiệm quản lý, bảo vệ và sử dụng nó một cách hợp lý Nhà nước cũng đã banhành nghị định số 32/2006/NĐCP quy định cấm khai thác và hạn chế khai thác một
số loài thực vật quý hiếm [7]
Dựa vào 5 cấp tiêu chuẩn đánh giá mức độ quý hiếm của các loài động thựcvật trong danh lục đỏ năm 2006 của IUCN chúng tôi đã điều tra và xác định được:
+ Có 76 loài cây trên tổng số 995 loài, chiếm 7,6% số loài cây của khu vực đãđược đề cập trong Sách Đỏ Việt Nam tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ
Điều này khẳng định vai trò bảo tồn của khu vực Ngọc Sơn - Ngổ Luông đối vớinguồn gen quý hiếm của Việt nam
+ Có một số loài thực vật không có tên trong Sách Đỏ Việt Nam nhưng trênphạm vi thế giới chúng vẫn thuộc nhóm có nguy cơ bị diệt vong nên vẫn được công
Trang 32Mức độ quý hiếm của nhóm được xếp các cấp có nguy cơ cao như sau:
Cấp E - Rất nguy cấp, có 9 loàiCấp V - Nguy cấp, có 18 loàiCấp R - Hiếm, có 14 loàiCấp T - Bị đe dọa, có 21 loàiCấp K - Chưa biết rõ, có 14 loàiNhững loài hiếm quý đặc trưng của khu vực là Nghiến, Trai, Đinh, Sến, Táumật, Lim xanh, Chò chỉ, Lát hoa, Hoàng đằng, Củ Bình vôi, Lõi tiền, Trường Sâng,Giổi mỡ Với tổng số 76 loài cây quí hiếm có tên trong Sách Đỏ sẽ làm tăng giá trịcủa hệ thực vật cũng như cần có sự quan tâm đặc biệt đối với khu BTTN Ngọc Sơn -Ngổ Luông
4.1.1.4 Phân bố các loài thực vật quí hiếm trong khu BTTN Ngọc Ngổ Luông
Sơn-Các loài thực vật quý hiếm trong khu vực có phân bố khá rõ theo độ cao khác nhau:
- Các loài Táu mặt quỷ, Táu mật, Lim xanh, Sến phân bố nhiều ở độ cao 400m phía Đông khu nghiên cứu thuộc địa phận xã Ngọc lâu, xã Tự Do
300 Các loài Nghiến, Trai, Trường sâng, Đăng, Re hương, Trầm hương, Lông cu
ly, Bình vôi, Củ dòm, Táu mặt quỷ, Hoàng đằng, là những loài khá phổ biến vàphân bố rộng trên toàn khu vực nhưng còn cây lớn các loài Nghiến, Trai, Đinh, Láthoa, Chò chỉ Sến mật phân bố khá tập trung tại khu vực núi cao ranh giới NgổLuông, Ngọc Lâu và khu vực Bò U, Máng nước xã Tự Do
- Các loài Lim xanh, Trường sâng, giổi mỡ ít gặp phân bố ở độ cao <500mtrong địa phận Ngọc Sơn, Ngổ Luông, Nam Sơn, Bắc Sơn
- Thông Pà cò, một loài thực vật lá kim hiếm ở Việt Nam có phân bố ở khuvực Ba Khú xã Ngọc Sơn nhưng số lượng rất ít Cây lớn đã bị chặt hạ, cây tái sinhkhông có, là loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng
4.1.1.5 Chiều hướng biến đổi tài nguyên thực vật
Hậu quả sự tàn phá rừng ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông có ảnh hưởngchút ít đến số lượng loài, nhưng xét về số lượng cá thể của một loài thì có sự giảm điđáng kể Nhiều loài trước đây có nhiều cá thể cao, to, nay chỉ còn cây nhỏ Nhiềuloài cây quý trước đây có nhiều thì nay chỉ còn sót lại một số cây ở vùng cao và xa
Trang 33Đặc biệt nhiều loài nay trở nên hiếm và rất ít khi gặp khi đi nghiên cứu, quan sáttrong rừng.
Kết quả điều tra chiều hướng biến đổi tài nguyên thực vật được tổng kết trongbảng 4.5
Bảng 4.5 Danh sách một số loài cây biến đổi mạnh về số lượng ở khu BTTN Ngọc
Sơn - Ngổ Luông trong 20 năm qua
1 Thông Pà Cò ít cây lớn, ở đỉnh núi Rất hiếm cây nhỏ, ở cao, xa
2 Lát hoa Mọc rải rác, cây to Hết cây to, khó gặp cây bé
3 Lim xẹt Nhiều, cây lớn Cây lớn còn ít, ở xa
4 Chò chỉ Nhiều, cây to, ở thấp Cây to nhưng ở rất xa và rất ít
5 Lim xanh Nhiều, cây nhỡ Không có cây to, cây bé ít gặp
6 Sến Mật Mọc rải rác, cây to Còn rất ít cây to ở cao và xa
7 Táu mật Mọc rải rác, nhiều cây to Rất ìt cây to, khó gặp
8 Dẻ gai Nhiều, cây lớn ở thấp Hết Cây lớn ở thấp
9 Giổi xanh Nhiều cây to, ở thấp,gần Còn rất ít cây to ở cao và xa
10 Trai Nhiều, cây lớn Cây lớn còn ít, ở xa
11 Nghiến Cây lớn phổ biến Cây lớn còn ít, ở rất xa
12 Các loài Re Nhiều cây to,ở thấp Còn rất ít cây to, khó gặp
13 Trường Sâng Mọc thành vùng , cây to Cò it, rải rác,cây bé
14 Màng tang ít và chỉ mọc ven đường Nhiều, mọc nhiều nơi
15 Chò nhai Nhiều, rải rác Nhiều, phân bố rộng
16 Hoàng đằng Khá nhiều, rải rác, gốc to Rất ít, ở rất cao, xa
17 Phong lan Nhiều, ở gần ít, ở rất xa,cao
18 Đăng Nhiều, cây to Nhiều cây nhỡ, nhỏ
Kết quả nghiên cứu ở bảng 4.5 cho ta thấy rằng:
+ Thảm thực vật rừng ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông đang suy giảm cả
về số và chất lượng Nhiều loài cây thân gỗ chỉ còn cây tái sinh, cây rỗng ruột, hoặcphân bố ở những nơi hẻo lánh, hiểm trở Nhiều loài cây tạp ưa sáng như Màng tang,
Trang 34+ Trước năm 1990, thảm thực vật tại khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông cònnhiều về diện tích Rừng được đánh giá là khá nguyên vẹn Chủ yếu là rừng nguyênsinh trên núi đá ở các trạng thái IIIA2 , IIIA3, IIIB và loại IV Do khai thác theo cơchế thị trường, đặc biệt do công tác quản lý bảo vệ một thời kỳ dài cuối những nămtám mươi (80) và những năm đầu của thập kỷ chín mươi (90) đã làm cho rừng giảmmạnh về số lượng và chất lượng Mặt khác, nạn đốt nương làm rẫy và lấn chiếm làmđất thổ cư, đất vườn, mở đường ô tô vào các xã đã đẩy tốc độ phá rừng ngày càngtăng, môi trường rừng ngày càng suy giảm.
Nghiên cứu thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu, chúng tôi xác định có 4kiểu thảm chính đó là: Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi (Rừng nguyên sinh;
Rừng thứ sinh); Trảng cây bụi; Trảng cỏ; Nương rẫy và đồng ruộng
Đặc điểm của thảm thực vật được mô tả như sau:
- Có 2 kiểu rừng chính và có 9 trạng thái rừng: IA, IB, IC, IIA, IIB, IIIA1,IIIA2, IIIA3, IIIB khác nhau
- Là khu hệ thực vật đa dạng về loài, chi và họ với 995 loài thực vật bậc caotrong 618 chi của 180 họ ở 5 ngành thực vật
- Các loài đặc trưng chính là Nghiến, Trai, Chò chỉ, Chò Nhai, Đăng, Trường,Gội, Táu mặt quỷ
- Có 76 loài thực vật quý hiếm của Việt Nam, trong đó có 17 loài có tên trongdanh lục đỏ của IUCN, 2006
- Có 18 nhóm công dụng khác nhau với 326 loài trong nhóm cho gỗ và 424loài cho thuốc nam là 2 nhóm công dụng quan trọng nhất
4.1.2 Tính đa dạng của khu hệ động vật.
Về khu hệ động vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, kếtquả nghiên cứu cho thấy sự phong phú về thành phần loài, phong phú về chi vàphong phú về họ
Trang 354.1.2.1 Thành phần loài.
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu cùng với kết quả khảo sát cập nhật chúng tôi
đã ghi nhận khoảng 300 loài động vật có xương sống ở cạn Trong đó lớp Thú có 66loài chiếm 24,9% so với số loài trong cả nước, lớp Chim có 182 loài bằng 21,8% sốloài trong cả nước, lớp bò Sát có 32 loài chiếm 17,2% số loài trong cả nước, lớp Ếchnhái có 20 loài chiếm 22,5% số loài trong cả nước [9] (Bảng 4.6)
Bảng 4.6 Thành phần loài động vật có xương sống ở cạn, Khu BTTN Ngọc Sơn-Ngổ Luông
So sánh so với các khu BTTN khác như Pù Luông, Xuân Liên và Pù Hu cũng
ở mức độ điều tra tương tự, thì khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông có số lượng loàiđộng vật có xương sống ở cạn tương đương Cấu trúc thành phần loài động vật ởNgọc Sơn-Ngổ Luông rất giống với khu BTTN Pù Luông, rất nhiều loài có ở khuBTTN Pù Luôngđều ghi nhận được ở khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông (Bảng 4.7)
Trang 36Bảng 4.7 So sánh thành phần loài động vật ở KBT Ngọc Sơn - Ngổ Luông với các KBT lân cận khác[14,15,16].
4.1.2.2 Phân bố của động vật có xương sống theo sinh cảnh.
Như đã mô tả, có hai dạng sinh cảnh có rừng Đó là sinh cảnh rừng núi đất,với diện tích nhỏ và rừng bị tàn phá mạnh, chỉ còn trạng thái cây bụi Giá trị đa dạngsinh học ở kiểu rừng này rất thấp Sinh cảnh núi đá còn rừng là nơi tập trung nhiềuloài động vật Trong số đó, đa số các loài động vật quý hiếm thuộc bộ Linh trưởng,Gặm nhấm, các loài Chim trong bộ Sẻ, các loài Gà tiền, Gà lôi trắng, Trăn và cácloài Bò Sát quý hiếm khác đều ở kiểu sinh cảnh này
4.1.2.3 Yếu tố đặc hữu của khu hệ động vật có xương sống.
Kết quả khảo sát cho thấy khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông nằm trong khuvực chuyển tiếp giữa hai khu hệ động vật Tây Bắc và Bắc Trường Sơn, nên yếu tốđặc hữu không cao [11] Tìm thấy một loài duy nhất, đó là loài Voọc mông trắng(Trachypithecus delacouri) Ngoài ra, Sóc bụng đỏ đuôi hoe (Callosciurus erythraeuscucphuongensis) cũng có thể xem như loài phụ đặc hữu cho khu BTTN này
4.1.2.4 Tình trạng các loài động vật rừng.
Trong 300 loài động vật có xương sống đã được ghi nhận ở khu BTTN NgọcSơn - Ngổ Luông có 40 loài được xếp vào loại quý hiếm theo Sách Đỏ Việt Nam(2000) và có 23 loài trong danh lục đỏ IUCN năm 2006 (Bảng 4.8)
Trang 37Bảng 4.8: Động vật quý hiếm trong khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông
Cấp độ Lớp
Rất nguy cấp (E)
Nguy cấp (V)
Hiếm (R)
Bị đe doạ (T)
4.1.3 Các ki ểu sinh cảnh
4.1.3.1 Thảm thực vật
Nguyên tắc phân loại thảm thực vật rừng là căn cứ vào điều kiện sinh tháiphát sinh theo hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của tiến sĩ Thái VănTrừng (2000) [25] Kết quả phân loại thảm thực vật khu BTTN Ngọc Sơn - NgổLuông bảng 4.9