• Sản xuất là sáng tạo ra sản phẩm vật chất hữu hình.• Hệ thống chỉ tiêu tính toán theo quan điểm này được gọi là hệ thống sản xuất vật chất MPS: Material Product System, là cơ sở để tí
Trang 1CHƯƠNG 2
CÁCH TÍNH SẢN LƯỢNG QUỐC GIA
Trang 2THÀNH VIÊN Lê Thị Diệu
Nguyễn Thị Kim Anh Nguyễn Xuân Bảo Trần Doanh Doanh Nguyễn Thị Mỹ Duyên Trần Ngọc Trúc Duyên Trịnh Ngọc Trường Giang
Hồ Huỳnh Hồng Giao Cao Chung Hân
Trần Ngọc Hân Yap Hong Hao
NHÓM 1
Trang 3• Sản xuất là tạo ra “sản lượng thuần tăng”
⇨ Sản lượng tăng thêm so với lượng nguyên liệu ban đầu
• Nông nghiệp là ngành sản xuất ,các ngành khác không có khả năng sản xuất.
• Sản lượng quốc gia là phần sản lượng thuần tăng của nông nghiệp.
I Một số vấn đề cơ
bản
1 Các quan điểm về sản xuất
Thế kỷ 16, F.Quesnay (Phái trọng nông)
Ví dụ: Trong sản xuất lúa, một hạt lúa gieo trồng có thể thu hoạch được
nhiều hạt lúa từ cây lúa mọc lên từ hạt lúa đó
Trang 4• Sản xuất là sáng tạo ra sản phẩm vật chất hữu hình.
• Hệ thống chỉ tiêu tính toán theo quan điểm này được gọi là hệ thống sản xuất vật chất (MPS: Material Product System),
là cơ sở để tính sản lượng quốc gia ở các nước XHCN trước đây.
Trang 5• Theo ông, sản xuất là tạo ra những sản phẩm vật chất và dịch
vụ có ích cho xã hội (hữu hình và
vô hình)
• Cách tính này được Liên Hiệp Quốc chính thức công nhận như một hệ thống đo lường quốc tế
được gọi là hệ thống tài khoản
quốc gia (SNA: System of
Trang 62 Hệ thống tài khoản quốc gia
2.1 Các chỉ tiêu trong SNA
Các chỉ tiêu trong SNA được phân thành 2 nhóm:
• Các chỉ tiêu theo lãnh thổ hay các chỉ tiêu quốc nội bao gồm:
Thu nhập quốc gia (NI)
Thu nhập cá nhân (PI)
Thu nhập khả dụng (DI)
Trang 72 Hệ thống tài khoản quốc gia
2.2 Giá cả trong SNA
Đơn vị tính của các chỉ tiêu trong SNA là tiền , do đó vấn đề giá cả được đặt ra Giá cả sử dụng trong SNA được quy định :
• Giá thị trường (– còn gọi là giá tiêu thụ - là giá cả mà người mua phải trả nó bao gồm cả thuế gián thu thì chỉ tiêu tính được gọi là chỉ tiêu theo giá thị
trường.
VÍ DỤ: GDP theo giá thị trường
• Giá sản xuất hay còn gọi là chi phí của các yếu tố sản xuất ( – giá mà người bán thực nhận – thì chỉ tiêu tính được gọi là chỉ tiêu theo giá sản xuất hay chỉ tiêu theo chi phí yếu tố.
VÍ DỤ :-Ti
Trang 82 Hệ thống tài khoản quốc gia
2.2 Giá cả trong SNA
• Giá hiện hành – giá của năm sản xuất thì chỉ tiêu tính được gọi là chỉ tiêu danh nghĩa
Trang 9Chỉ tiêu theo chi yếu tố có
thể được tính từ việc trừ
các khoản thuế gián thu
(Ti) ra khỏi chỉ tiêu theo
giá thị trường.
VÍ DỤ: GDP-Ti = GNP-Ti
2 Hệ thống tài khoản quốc gia
Chỉ tiêu thực của một năm nào đó, có thể được tính bằng cách lấy chỉ tiêu danh
nghĩa chia cho chỉ số giá của năm đó Chỉ tiêu thực được dùng để tính tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm Mối quan hệ giữa GDP thực và GDP danh nghĩa được thể hiện qua chỉ số điều chỉnh lạm phát (hay chỉ số giảm phát) theo GDP (Id) như sau:
Chỉ số giá là chỉ tiêu phản ảnh tỷ lệ thay đổi của giá cả ở một năm nào đó so với
năm góc
Chỉ tiêu quốc gia có thể được tính bằng cách cộng thêm thu nhập yếu tố ròng
từ nước ngoài (NFFI) vào chỉ tiêu quốc nội tương ứng.
2.3 Mối liên hệ giữa các chi tiết
Trang 10II Cách tính mức hoạt động của một nền kinh tế
Trang 11CÁC HỘ GIA ĐÌNH CÁC DOANH NGHIỆP
Sở hữu các yếu tố sản suất lao động, vốn, đất
đai, kỹ năng quản lý) và cung cấp cho các
doanh nghiệp
Sử dụng các yếu tố sản xuất do các hộ gia đình cung cấp để sản ra hàng hóa & dịch vụ
Nhận các khoản thu nhập (tiền lương-w, tiến
cho thuê-R, tiền lãi-i, lợi nhuận-π) vì đã cung ) vì đã cung
cấp các yếu tố sản xuất
Trả tiền cho các hộ gia đình để
sử dụng các yếu tố sản xuất
Chi tiền mua các hàng hóa và dịch vụ do các
doanh nghiệp sản xuất ra Bán hàng & dịch vụ cho nhau & cho các hộ gia đình
1 Dòng chu chuyển kinh tế
Các giao dịch của các doanh nghiệp & hộ gia đình
Trang 121 Dòng chu chuyển kinh tế
Dòng chu chuyển kinh tế trong mô hình đơn giản
• Vòng trong: dòng hiện vật (các nguổn lực thực sự)
• Vòng ngoài: dòng tiền tệ (các khoản thanh toán tương ứng)
1 Tất cả thu nhập đều được chi tiêu, nghĩa là các hộ gia đình không có tích lũy (hay tiết kiệm) thì tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất sẽ bằng tống chi tiêu vào hàng hóa và dịch vụ.
2 Tất cả hàng hóa đểu được bán hết, nghĩa là không có
dự trữ hay tồn kho thì tổng giá trị sản xuất hay giá trị sản lượng sẽ bằng tổng chi tiêu vào hàng hóa và dịch vụ.
3 Việc quản lý hay sở hữu một doanh nghiệp cũng là một yếu tố sản xuất thì tổng giá trị sản xuất hay giá trị sản lượng sẽ bằng tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất.
Từ ba kết luận trên cho thấy trong một nền kinh tế tổng
giá trị sản xuất, tổng thu nhập và tổng chi tiêu có giá trị bằng nhau.
Trang 132 Giá trị gia tăng
Chúng ta sẽ bắt đầu bằng một ví dụ như sau: Các
nông trại bán 100 triệu đồng tiền rau củ, hoa quả
cho công ty V, sau đó công ty này chế biến rau củ,
hoa quả tươi thành các loại thực phẩm sấy khô như:
dâu tây sấy, mít sấy,khoai lang sấy, để bán cho
các hộ gia đình và thu được 500 triệu đồng Như
vậy giá trị hàng hóa thực sự đươc sản xuất ra có
phải là tổng cộng giá trị sản lượng của hai đơn vị
sản xuất trên và là 600 triệu đồng?
Câu trả lời là không, vì chúng ta dễ dàng nhận ra rằng tính
như vậy là vô tình đã tính giá trị của rau củ, hoa quả 2 lần.
Cách tính đúng giá trị hàng hóa được sản xuất chỉ là:
100 + (500 - 100) = 500 triệu đồng, nghĩa là để tránh tính
trùng phải trừ giá trị 100 triệu đồng tiền rau củ, hoa quả
đã tính cho nông trại ra khỏi giá trị thực phẩm chế biến.
Có thể kết luận là tổng giá trị sản xuất là tổng cộng các
giá trị gia tăng (VA)
• Giá trị gia tăng là lượng gia tăng trong giá trị hàng hóa
do kết quả của quá trình sản xuất, nó là phần chênh lệch giữa giá trị sản lượng và giá trị sản phẩm trung gian.
• Sản phẩm trung gian là sản phẩm đóng vai trò là yếu tố
đầu vào của một quá trình sản xuất và được sử dụng hết trong quá trình sản xuất đó.
• Còn sản phẩm cuối cùng là những sản phẩm mà người
sử dụng cuối cùng mua, gồm hàng hoá hộ gia đình mua
để tiêu dùng, hàng hoá doanh nghiệp mua để đầu tư sản xuất và hàng hoá dành cho xuất khẩu.
Trang 142 Giá trị gia tăng
Một ví dụ nữa trong nền kinh tế đơn giản có 2 tác nhân là các doanh nghiệp và các hộ gia đình Trong khu vực
doanh nghiệp có 4 đơn vị tạm gọi là doanh nghiệp I, II, III và IV Giả sử khấu hao bằng không Cụ thể như sau:
• Doanh nghiệp I sản xuất một số lượng thép trị giá 4.000 USD, nó bán cho doanh nghiệp II sản xuất máy móc
1.000 USD và doanh nghiệp IV sản xuất ô tô 3.000 USD Tiền bán hàng dùng cho việc trả lương 2.500 USD, trả tiền thuê 300 USD, trả lãi 700 USD và lợi nhuận là 500 USD
• Doanh nghiệp II sản xuất một số tư liệu lao động (máy móc) dùng trong công nghiệp ô tô trị giá 2.000 USD và
bán toàn bộ cho doanh nghiệp IV sản xuất ô tô Tiền bán hàng dùng cho việc mua thép 1.000 USD, trả lương
500 USD, trả tiền thuê 100 USD, trả lãi 200 USD và lợi nhuận là 200 USD
• Doanh nghiệp III sản xuất một số lốp ô tô trị giá 500 USD và bán toàn bộ cho doanh nghiệp IV sản xuất ô tô
Tiến bán hàng dùng cho việc trả lương 300 USD, trả tiền thuê đất 40 USD, trả lãi 80 USD và lợi nhuận là 80 USD
• Doanh nghiệp IV sản xuất một số lượng ô tô trị giá 5.000 USD bán cho các hộ gia đình Tiền bán hàng dùng
cho việc mua thép 3.000 USD, mua lốp ô tô 500 USD, trả lương 800 USD, trả tiến thuê 130 USD, trả lãi 270 USD và lợi nhuận là 300 USD
Trang 152 Giá trị gia tăng
Mức hoạt động của nền kinh tế (Y) có thể được đo lường theo 3 cách, ta lần lượt tính:
Cách 1: tính theo dòng sản
xuất:
Cách 2: tính theo dòng thu nhập: Cách 3: tính theo dòng chi
tiêu:
Y = Giá trị sản xuất của nền kinh tế
Y = Tổng giá trị gia tăng của các
Y = Tổng thu nhập từ các yếu tố sản xuất
Y = Tiền lương (w) + Tiền thuê (R)+ Tiền lãi (i)+ Lợi nhuận (π) vì đã cung )
Y= 4.100 + 570 + 1.250 + 1.080 = 7.000 USD
Trong đó:
w = 2.500 + 500 +300 +800 = 4.100 USD
R = 300 + 100 + 40+ 130 = 570 USD
i = 1.000 + 300+ 120 + 400 = 1.250 USDπ) vì đã cung = 500 +200 +80 + 300 = 1.080 USD
Y = Tổng chi tiêu vào các sản phẩm cuối cùng
Trong ví dụ trên, chỉ có tư liệu lao động (máy móc) và ô tô là sản phẩm cuối cùng, do đó:
Y = 5.000 + 2.000 = 7.000 USD
Trang 163 Tiết kiệm và đầu tư
Qua ví dụ trên ta thấy hai vấn đề:
• Một là thu nhập của các hộ gia đình là 7000 USD, nhưng họ
chỉ mua ô tô 5.000 USD Phần còn lại 2.000 USD không được
chi dùng, nên được gọi là tiền tiết kiệm hay tích lũy (S-Saving),
vì theo định nghĩa tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập sau khi
chi dùng để mua hàng hóa và dịch vụ, nó còn được xem như
một khoản rò rỉ ̣̣̣(leakage)
Khoản rò rỉ khỏi dòng luân chuyển là lượng tiền mà các hộ
gia đình nhận dược, nhưng không trở lại các doanh nghiệp
• Hai là giá trị sản xuất của các doanh nghiệp là 7.000 USD, mà
các hộ gia đình chỉ mua ô tô là 5.000 USD Còn lại là tiền các
doanh nghiệp mua tư liệu lao động (máy móc) 2.000 USD
Theo định nghĩa tiền dùng mua sắm các tư liệu lao động mới,
tạo ra tài sản tư bàn dưới dạng hiên vật như máy móc, thiết bị,
nhà xưởng… được gọi là đầu tư (I- Invesrment) nó cũng được
xem như một khoản bơm vào (injection)
Khoản bơm vào dòng luân chuyển là lượng tiền các doanh
nghiệp nhận được, mà không bắt nguồn từ hộ gia đình
Như vậy, trong ví dụ trên chi tiêu vào hàng
hóa cuối cùng bao gồm tiêu dùng của các hộ gia đình (5.000 USD) và chi cho đầu tư (2.000 USD) Nếu ký hiệu C là chi tiêu của hộ gia
đình, I là chi tiêu cho đầu tư, ta có tổng chi tiêu trong mô hình đơn giản là: Y = C + I
• Trong ví dụ trên, tiết kiệm là 2.000 USD và đầu tư cũng bằng đúng 2.000 USD Câu hỏi đặt ra là tiết kiệm bằng đầu
tư có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Câu trả lời là không, chúng ta có thể phân tích điều này bằng cách dựa vào các định nghĩa:
• Khi Y biểu hiện cho tổng thu nhập, thì một phần thu nhập này được các hộ gia đình tiêu dùng (C) và phần còn lại sẽ là tiền tích lũy hay tiền tiết kiệm (S):
Y = C + S (1)
• Khi Y là tổng chi tiêu thì nó sẽ bao gồm chi tiêu của các hộ gia đình (C), và chi tiêu của các doanh nghiệp được thể hiện dưới dạng đầu tư (I) :
Y = C + I (2)
• Từ (1) và (2), suy ra:
S = I (3)
Trang 173 Tiết kiệm và đầu tư
Đồng nhất thức (3) có hai ý nghĩa:
•Thứ nhất, tổng các khoản rò rỉ phải bằng tổng các khoản bơm
vào trong một nền kinh tế; mà trong mô hình kinh tế đơn giản chỉ
có một khoản rò rỉ (S) và một khoản bơm vào (I)
•Thứ hai, tổng tiết kiệm bằng tổng đầu tư Vì ở mô hình này
chỉ có thành phần tư nhân, nên họ cẩn đầu tư bao nhiêu thì phải
tiết kiệm bấy nhiêu
Đồng nhất thức (3) có thể viết lại là:
S - I = 0 (4)
=> Trong mô hình kinh tế đơn giản chỉ có khu vực
tư nhân, với hai tác nhân là các hộ gia đình và các doanh nghiệp, thì cán cân này nhất thiết phải cân bằng, vì tích lũy của các hộ gia đình (trong trường hợp này cũng chính là tổng tiết kiệm) phải đủ tài trợ cho đầu tư của tư nhân (trong trường hợp này cũng là tổng đầu tư), đó là ý nghĩa của đồng nhất thức (3)
•Nếu lấy toàn bộ tích lũy của khu vực tư nhân (S) trừ đi toàn bộ
khoản đầu tư của khu vực này (I) ta có Cán cân tài chính của khu
vực tư nhân
•Cán cân tài chính của khu vực tư nhân có thể:
Cân bằng khi : s - I = 0Thặng dư khi : s - I > 0Thâm hụt khi: s - I < 0
Trang 184 Hàng tồn kho hay dự trữ
Với ví dụ trên, nếu các hộ
gia đình chỉ mua một lượng
ô tô có giá trị là 4.000 USD,
thì giá trị ô tô không bán
được trong kỳ này là 1.000
USD Lượng giá trị ô tô tồn
kho hay dự trữ này được
hạch toán như thế nào?
Theo qui ước trong tính toán
ở tầm vĩ mô, những sản phẩm hiện được giữ lại để sản xuất hay tiêu thụ sau này được xem như một dạng đầu tư
Nhà sản xuất có thể dự trữ thép để sản xuất ô tô, hay dự trữ ô tô thành phẩm, chờ để bán cho người tiêu thụ trong thời gian tới Như vậy, trong trường hợp này đầu tư sẽ có thêm 1.000 USD là giá trị của ô tô tồn kho
Bây giờ kết cấu trong tổng chi tiêu vào sản phẩm cuối cùng như sau:
Y = C + I = 4.000 + (2.000 + 1.000) =
7.000 USD
Trang 195 Khấu hao (De-
như lúc ban đầu cho dù được dùng hay không thì nó vẫn sẽ bị cũ, bị hỏng,… Đây được gọi là sự hao mòn Phần giá trị sản lượng của một nền kinh tế được sử dụng để thay thế phần thực thế sẽ hao mòn này hình thành nên quỹ khấu hao, và đầu tư lấy từ quỹ khấu hao nhằm mục đích thay thế các máy móc đã hư hỏng, được gọi là khấu hao (De)
Theo nguồn vốn đầu tư, đầu tư gồm có hai loại là:
•Đâu tư ròng: là đầu tư mới để mở rộng năng lực sản xuất (kí hiệu IN)
•Khấu hao: là đầu tư nhằm duy trì năng lực sản xuất hiện có (kí hiệu De)
=> I = De + IN
Trang 206 Chính phủ
Trong phân tích dòng chu chuyển kinh tế, nếu đưa thêm khu vực chính phủ vào, thì có những yếu tố sẽ làm mở rộng mức hoạt động của nền kinh tế (các khoảng bơm vào) Cùng với đó là những yếu tố làm hạn chế mức hoạt động của các tác nhân khác (các khoảng rò rỉ):
- Chính phủ thu thuế từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp (T):
•Thuế trực thu: là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của các thành phần như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thừa kế tài sản,… là các loại thuế mà người nộp thuế cũng là người chịu thuế (kí hiệu Td)
•Thuế gián thu (hay thuế chi tiêu): là thuế đánh vào thu nhập thông qua việc mua sắm hàng hoá và dịch vụ, gồm thuế giá trị tăng,thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế khai thác và sử dụng tài nguyên,… là
những loại thuế mà người nộp thuế không hoàn toàn là người chịu thuế (kí hiệu Ti)
- Chính phủ chi mua hàng hoá và dịch vụ do các doanh nghiệp sản xuất ra (G)
- Chính phủ chi chuyển nhượng (Tr)
Trang 216 Chính phủ
Thông qua phương pháp đo lường tổng sản phẩm trong
nước theo cách tiếp cận chỉ tiêu, chúng ta ký hiệu GDP = Y
và được phân thành bốn nhóm: tiêu dùng hộ gia đình, đầu
tư của doanh nghiệp, chỉ mua hàng của chính phủ và xuất
khẩu ròng
Để thấy được mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, chúng
ta sẽ biến đổi biểu thức lại như sau:
Y = C + I + G
Thu nhập khả dụng (kí hiệu Yd) là phàn còn lại của tổng thu
nhập sau khi trừ đi toàn bộ các khoảng chuyển nhượng:
Yd = Y – Ti – Td + Tr = Y – Tx + Tr = Y- (Tx – Tr)
Trong đó:
T là thuế ròng
TR: gồm các khoản trợ cấp của chính phủ
Do vậy, ta có thể viết đơn giản là: Yd = Y – T
Khi có chính phủ, thu nhập khả dụng mới là phần thu
nhập mà các hộ gia đình có thể sử dụng theo ý muốn, một phần trong thu nhập khả dụng trước hộ gia đình tiêu dùng (C) và phần còn lại được tiết kiệm (S):
Yd = C + S
Trong mô hình kinh tế đóng khi ngân sách chính phủ bị
thâm hụt, thì khu vực tư nhân phải thặng dư để bù đắp khoảng thâm hụt đó và ngược lại
Toàn bộ nguồn thu của chính phủ là thuế ròng (T) trừ
đi toàn bộ khoản chi mua hàng hoá va dịch vụ của chính phủ (G), thể hiện ngân sách của chính phủ (B):
• Ngân sách cân bằng khi B = T – G = 0
• Thặng dư khi B = T – G > 0
• Thặng dư hụt khi B = T – G < 0
Có thể tách phần chi tiêu của chính phủ (G) thành 2
khoản là: chi thường xuyên (Cg) và chi cho đầu tư của chính phủ (Ig)
S + T = I + Cg + Ig
• Sg: Tiết kiệm hay tích luỹ của chính phủ
Sg = T – Cg
Trang 227 Khu vực nước ngoài
Trong phân tích dòng chu chuyển kinh tế mở, ta
có mô hình kinh tế hoàn chỉnh với 4 tác nhân
chính là:
Các hộ gia đình
Các doanh nghiệp
Chính phủ
Khu vực nước ngoài
Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá
được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam
hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên
lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực
hải quan
riêng theo quy định của pháp luật (kí hiệu
là X)
Nhập khẩu là việc hàng hoá được đưa
vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Là giá trị của toàn bộ lượng hàng hoá và dịch vụ sản xuất ở nước ngoài được mua vào trong nước (kí hiệu là M)
Xuất khẩu ròng (NX): biểu thị phần
chi tiêu ròng của nước ngoài để mua hàng hoá và dịch vụ của chúng ta:
NX = X – M
Tổng các khoản rò rỉ bằng tổng các khoảng bơm vào Có khu vực nước ngoài có thêm một khoảng bơm vào (X) và một khoảng rò rỉ (M)