1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

giáo trình giáo dục pháp luật

142 761 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề cơ bản về nhà nước
Trường học Học Viện Chính Trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 582 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm cơ bản của cơ quan nhà nước làmang tính quyền lực nhà nước và tính chất quyền lực của nhà nước ấy thể hiện ở chỗ: chỉ có cơ quan nhà nước mới có quyền nhândanh cả nhà nước để th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

_

DÙNG CHO ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP CHUYÊN

NGHIỆP

Trang 2

BÀI 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC

I BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC

1 Bản chất của nhà nước

Nhà nước là vấn đề hết sức phức tạp được nhìn nhận và lí giảidưới nhiều góc độc khác nhau Chủ nghĩa Mác-Lênin với bản chấtcách mạng của mình đã giải thích về nguồn gốc, bản chất của nhànước một cách khoa học nhất Theo đó, xã hội loài người vốnkhông có nhà nước Con người ta sống với nhau trong các thị tộc,

bộ lạc Do lao động sản xuất phát triển và sự phân công lao độnglàm xuất hiện chế độ tư hữu và sự phân chia giai cấp trong xã hội

Đó là những tiền đề cơ bản, khách quan để nhà nước ra đời

a) Tính giai cấp của nhà nước

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một

bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chứcnăng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mụcđích, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội

Nghiên cứu nguồn gốc và sự ra đời của nhà nước, các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ: “Bất cứ ở đâu, hễ lúcnào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giaicấp không thể điều hòa được thì Nhà nước xuất hiện” Như vậy,nhà nước chỉ ra đời, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp vàchính vì thế nhà nước luôn luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc.Nhà nước xuất hiện từ sự cần thiết phải kiềm chế sự đối lập giữacác giai cấp và đồng thời cũng xuất hiện trong những cuộc xungđột giữa các giai cấp ấy cho nên theo quy luật chung, nó là nhànước của giai cấp mạnh nhất Sự thống trị của Nhà nước thể hiệnquyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng.Quyền lực chính trị của nhà nước là bạo lực có tổ chức bắt buộc xãhội phải tuân theo Quyền lực kinh tế biểu hiện ở việc nhà nướcdiều tiết nền kinh tế, nắm giữ các nguồn lực kinh tế cơ bản của đất

Trang 3

nước Quyền lực về tư tưởng biểu hiện ở việc nhà nước thông qua

bộ máy của mình để xây dựng hệ tư tưởng của xã hội Từ sự phântích trên cho thấy, tính giai cấp cùa Nhà nước được thể hiện ở chỗnhà nước là công cụ, là bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong taygiai cấp cầm quyền, để bảo vệ lợi ích kinh tế, để thực hiện sự thốngtrị về chính trị và thực hiện sự tác động về tư tưởng của nó đối vớitoàn xã hội

a) Tính xã hội của nhà nước

Tính giai cấp là mặt căn bản thể hiện bản chất của nhà nước.Tuy vậy, với tư cách là bộ máy thực thi quyền lực công cộng,nhằm duy trì trật tự và sự ổn định của xã hội, nhà nước còn thểhiện tính xã hội của nó, bởi lẽ nhà nước sinh ra không chỉ do nhucầu thống trị giai cấp mà còn do nhu cầu tổ chức, điều hành vàquản lý xã hội Với tư cách là một tồ chức quyền lực công, nhànước phải giải quyết nhiều vấn đề nảy sinhtrong xã hội vì lợi íchchung và sự phát triển của toàn xã hội Nếu chỉ tính đến lợi ích củagiai cấp thống trị hay lực lượng cầm quyền, nhà nước chắc chắn sẽgặp phải sự phản kháng mãnh liệt của các lực lượng xã hội khác và

sẽ khó tồn tại được lâu dài Trong chừng mực nhất định, nhà nướcphải đóng vai trò trọng tài nhằm dung hòa lợi ích giữa các giai cấp,tầng lớp, lực lượng xã hội nhằm bảo vệ lợi ích chung của cả cộngđồng Vì thế, trong bất cứ xã hội nào, bên cạnh việc bảo vệ lợi íchcủa giai cấp thống trị, nhà nước cũng buộc phải chú ý đến lợi íchchung của xã hội, giải quyết những vấn đề mà đời sống cộng đồng

xã hội đặt ra như phát triển giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng,các công trình phúc lợi xã hội: đường sá, cầu cống, trường học,bệnh viện, tổ chức điều hành và quản lý các dịnh vụ công, đấutranh phòng chống tội phạm…

Tính giai cấp và tính xã hội là thuộc tính chung của tất cả cácnhà nước song mức độ thể hiện của hai thuộc tính này và mốitương quan giữa chúng trong quá trình hoạt động của nhà nướckhông giống nhau ở các nước khác nhau Các nhà nước bóc lột đều

có bản chất chung là bộ máy để thực hiện nền chuyên chính củagiai cấp bóc lột Các nhà nước này đều có đặc điểm chung là duy

Trang 4

trì sự thống trị về chính trị, kinh tế và tư tưởng của một thiểu sốngười bóc lột để đàn áp và bóc lột đa số nhân dân lao động Tráilại, nhà nước xã hội chủ nghĩa, với bản chất chuyên chính vô sản,

là bộ máy để củng cố địa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động chiếm đa số trong xã hội Nhànước XHCN là nhà nước kiểu mới, do đó bản chất khác với bảnchất của các nhà nước bóc lột Sự khác biệt về bản chất giữa nhànước XHCN và các nhà nước bóc lột thể hiện trên cả phương diệnbản chất giai cấp, bản chất dân chủ và vai trò sáng tạo, xây dựng xãhội mới

Nhà nước XHCN là nhà nước mang bản chất giai cấp côngnhân, tức là nhà nước do Đảng tiên phong của giai cấp công nhânlãnh đạo, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng Đường lối, chính sách của Đảng chỉ đạo toàn bộ tổ chức vàhoạt động của nhà nước XHCN Bản chất dân chủ của nhà nướcXHCN thể hiện ở chỗ dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân la9động trực tiếp xây dựng nhà nước, tham gia quản lí nhà nước; nhànước là tổ chức chính trị của nhân dân và là công cụ để nhân dânlao động thực hiện quyền làm chủ của mình Nhân dân tham giaxây dựng nhà nước, tham gia quản lí nhà nước, thực hiện việc giámsát hoạt động của nhà nước

Bản chất của nhà nước XHCN còn được xem xét dưới góc độ

nó là công cụ tổ chức và xây dựng xã hội mới Khi đã trở thànhgiai cấp thống trị về chính trị, giai cấp công nhân không có mụcđích dùng nhà nước để duy trì địa vị thống trị của mình mà xâydựng nhà nước đó trở thành công cụ của chính nhân dân lao động

để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, xóa bỏ áp bức, bóc lột

và mọi bất công xã hội Như vậy, nhà nước XHCN không đơnthuần chỉ là bộ máy hành chính – cưỡng chế, mà nó còn là bộ máy

có vai trò tổ chức, quản lý kinh tế, văn hóa xã hội Ngay bộ máyhành chính – cưỡng chế của nhà nước XHCN cũng có đặc điểm vàbản chất khác với bộ máy nhà nước của các giai cấp bóc lột, vì đây

là bộ máy của đa số nhân dân lao động trấn áp thiểu số giai cấp bóclột đã bị đánh đổ nhưng đang âm mưu ngóc đầu dậy và trấn ápnhững phần tử chống đối CNXH để bảo vệ thành quả cách mạnh,

Trang 5

giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

2 Đặc trưng cơ bản của nhà nước

So với cơ cấu tổ chức, thực hiện quyền lực và quản lý của thịtộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc trong xã hội cộng sản nguyên thủycũng như so với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp, nhànước có các đặc trưng cơ bản sau đây:

a) Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, quyền lực chưa tách khỏi

xã hội mà gắn liền với xã hội, hòa nhập với xã hội chưa có giai cấpnên chưa có nhà nước Quyền lực đ1o do toàn xã hội tổ chức ra,chưa mang tính giai cấp, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng.Khi xuất hiện nhà nước, quyền lực công cộng đặc biệt được thiếtlập Chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị về kinh tế vàchính trị Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, nhànước có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý Họtham gai vào các cơ quan nhà nước và hình thành một bộ máycưỡng chế để duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị,bắt các giai cấp khác phải phục vụ theo ý chí của giai cấp thống trị.Như vậy, quyền lực công cộng đặc biệt này đã tách khỏi xã hội,mang tính giai cấp sâu sác và chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấpthống trị

b) Nhà nước có lãnh thổ và phân chia dân cư theo lãnh thổ

Lãnh thổ,dân cư là các yếu tố cấu thành quốc gia Quyền lựccủa nhà nước được thực hiện trên toàn bộ lãnh thổ, nhà nước thựchiện việc phân chia dân cư theo lãnh thổ thành các đơn vị hànhchính, không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệphoặc giới tính Việc phân chia này bảo đảm cho hoạt động quản lýcủa nhà nước tập trung, thống nhất Người dân có mối quan hệ vớiNhà nước bằng chế định quốc tịch, chế định này xác lập sự phụthuộc của công dân vào một nhà nước nhất định và ngược lại nhànước phải có những nghĩa vụ nhất định đối với công dân của mình

Trang 6

c) Nhà nước có chủ quyền quốc gia

Chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của nhà nước về đối nội

và độc lập về đối ngoại Tất cả mọi cá nhân, tổ chức sống trên lãnhthổ của nước sở tại đều phải tuân thủ pháp luật của nhà nước Nhànước là người đại diện chính thức, đại diện về mặt pháp lý cho toàn

xã hội về đối nội và đối ngoại Chủ quyền quốc gia thể hiện quyềnđộc lập tự quyết của nhà nước về những chính sách đối nội và đốingoại, không phụ thuộc vào lực lượng bên ngoài Chủ quyền quốcgia là thuộc tính gắn với nhà nước

d) Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật

và quản lý xã hội bằng pháp luật

Với tư cách là đại diện chính thức cho toàn xã hội, là ngườithực thi quyền lực công cộng, duy trì trật tự xã hội, nhà nước là tổchức duy nhất có quyền ban hành pháp luật và áp dụng pháp luật

để quản lý xã hội Pháp luật do nhà nước ban hành có tính bắt buộcchung và được nhà nước đảm bảo thực hiện với các biện pháp tổchức, cưỡng chế, thuyết phục

e) Nhà nước có quyền quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước

Nhà nước đặt ra các loại thuế vì nhu cầu nuôi dưỡng bộ máynhà nước-lớp người đặc biệt, tách ra khỏi lao động, sản xuất đểthực hiện chức năng quản lý Chỉ có nhà nước mới được độc quyềnquy định các loại thuế và thu thuế vì nhà nước là tổ chức duy nhất

có tư cách đại biểu chính thức của toàn xã hội để thực hiện sự quản

lý xả hội

3 Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ra đời từ Cách mạng tháng Tám 1945, ngay từ những ngàyđầu, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa-nay là nước Cộng Hòa

Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã thể hiện bản chất của một nhànước gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc

Trang 7

dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Bản chất của nhànước CHXHCN Việt Nam được xác định trong Hiến pháp năm

1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) “ Nhà nước CHXHCNViệt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân mà nềntảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân vàđội ngũ trí thức” ( Điều 2)

Bản chất của nhà nước CHXHCN Việt Nam được thể hiện ởnhững đặc trưng cơ bản sau đây:

a) Nhân dân là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước

Nhà nước của nhân dân, do nhân dân mà nòng cốt là liên minhcông nông và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sảnViệt Nam Chủ thể cao nhất có quyền định đoạt quyền lực là nhândân Với tư cách là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, nhândân thực hiện quyền lực dưới những hình thức khác nhau, trong đóhình thức cơ bản nhất là nhân dân thông qua bầu cử để lập ra các

cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình

b) Nhà nước là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết các dân tộc anh em cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam

Nhà nước ta là một nhà nước nhiều dân tộc, là tổ chức quyềnlực chính trị đại diện cho ý chí và bảo vệ lợi ích của tất cả các dântộc trên dất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bìnhđẳng, đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc Tất cả các dân tộc đều

có quyền bầu người đại diện cho mình trong các cơ quan quyền lựcnhà nước

c) Nhà nước thể hiện tính xã hội rộng lớn

Với quan điểm coi lợi ích của giai cấp công nhân thống nhấtvới lợi ích của toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộcgắn với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủvăn minh Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết cácvấn đề của toàn xã hội như: việc làm, thất nghiệp, xóa đói giảmnghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân…Nhà nước coi việc giải quyết

Trang 8

các vấn đề xã hội là một trong những phương hướng hoạt động cơbản của nhà nước.

d) Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN

Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổchức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế…đều phải đặt trong khuônkhổ pháp luật Nhà nước đã và đang xây dựng một hệ thống phápluật đầy đủ, đồng bộ và ngày càng hoàn thiện nhằm điều chỉnh cóhiệu quả các quan hệ xã hội Quyền lực nhà nước là thống nhấtnhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

e) Nhà nước thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị với các nước trên thế giới

Nhà nước ta thực hiện một cách nhất quán đường lối đối ngoạiđộc lấp, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệquốc tế với phương châm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả cácnước trên thế giới

II CHỨC NĂNG VÀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

1 Chức năng của nhà nước

a) Khái niệm

Chức năng của nhà nước được xác định xuất phát từ bản chấtnhà nước, do cơ sở kinh tế và cơ cấu giai cấp của xã hội quyếtđịnh Các nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tưhữu về tư liệu sản xuất và bóc lột nhân dân lao động Cho nên,chúng có những chức năng cơ bản như bảo vệ chế độ tư hữu, đàn

áp sự phản kháng và phong trào cách mạng của nhân dân lao động,

tổ chức tiến hành chiến tranh xâm lược để mở rộng ảnh hưởng và

nô dịch các dân tộc khác…Nhà nước XHCN dựa trên cơ sở kinh tế

là chế độ sở hữu XHCN và bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúnglao động, vì vậy chức năng của nhà nước XHCN khác với chức

Trang 9

năng của các nhà nước bóc lột về cả nội dung và phương thức thựchiện.

Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước, phản ánh bản chất nhà nước, được xác định tùy thuộc vào đặc điểm, tình hình trong nước và quốc tế, nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước trong từng giai đoạn.

b) Phân loại

Trong khoa học lí luận chung về nhà nước và pháp luật, thôngthường, chức năng cơ bản của nhà nước được xác định căn cứ vàophạm vi hoạt động của nhà nước Theo tiêu chí này, các chức năngcủa nhà nước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đốingoại

* Chức năng đối nội

Là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trongnội bộ đất nước như: đảm bảo trật tự xả hội, trấn áp những phần tửchống đối chế độ, bảo vệ và phát triển chế độ kinh tế, văn hóa…

* Chức năng đối ngoại

Thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước

và dân tộc khác như: phòng thủ đất nước, chống sự xâm lược từbên ngoài, thiết lập mối quan hệ với các quốc gia khác

Các chức năng đối nội và đối ngoại có quan hệ mật thiết vớinhau,tác động, ảnh hưởng lẫn nhau Việc thực hiện tốt các chứcnăng đối nội tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiệncác chức năng đối ngoại và ngược lại, việc thực hiện các chức năngđối ngoại phải phục vụ cho việc thực hiện các chức năng đối nội

Để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước sử dụngnhiều hình thức, phương pháp hoạt động khác nhau, trong đó có bahình thức hoạt động chính là: xây dựng pháp luật, tổ chức thựchiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Trong mỗi nhà nước, việc sửdụng ba hình thức hoạt động này cũng có những đặc điểm khácnhau Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước, các phương

Trang 10

pháp hoạt động thể hiện các chức năng của nhà nước cũng rất đadạng, nhưng nhìn chung có hai phương pháp chính là giáo dụcthuyết phục và cưỡng chế Trong các nhà nước bóc lột, cưỡng chếđược sử dụng rộng rãi và là phương pháp chủ yếu để thực hiệnchức năng nhà nước Ngược lại, trong nhà nước XHCN, giáo dụcthyết phục là phương pháp chủ yếu, còn cưỡng chế được sử dụngkết hợp ở mức độ nhất định và lấy giáo dục thuyết phục làm nềntảng Mỗi kiểu nhà nhước có bản chất riêng, nên chức năng của cácnhà nước và việc tổ chức bộ máy để thực hiện các chức năng đó cónhững đặc điểm riêng.

2 Chức năng của nhà nước XHCN

Cũng giống như các kiểu nhà nước nói chung, căn cứ vàophạm vi hoạt động của nhà nước, có thể chia chức năng của nhànước XHCN thàng các chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.Tuy nhiên, nội dung và tính chất của các chức năng này của nhànước XHCN có những đặc thù nhất định:

a) Các chức năng đối nội

- Bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xảhội

- Thực hiện và phát huy quyền tự do, dân chủ của nhân dân, xâydựng nền dân chủ XHCN

- Tổ chức và quản lý kinh tế

- Tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ

- Xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội

- Bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, tăng cường pháp chế XHCN

b) Các chức năng đối ngoại

- Bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo đảm khả năng quốc phòng, đánhthắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược

- Củng cố tăng cường tình hữu nghị, hợp tác truyền thống với cácnước XHCN, các nước láng giềng; đồng thời mở rộng quan hệ hợptác, hữu nghị với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giớitheo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của

Trang 11

nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và của nhau

và cùng có lợi

- Ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng,phong trào tiến bộ thế giới; chống chủ nghĩa đế quốc, chống chiếntranh, chống chạy đua vũ trang, chống vũ khí tiêu diệt hàng loạt,chống phân biệt chủng tộc, chống…, tích cực góp phần đấu tranh

vì một thế giới hòa bình ,hữu nghị, hợp tác, bình đẳng và pháttriển

Trong xã hội có giai cấp, bộ máy nhà nước là công cụ chủ yếunhất và có hiệu lực nhất để duy trì, bảo vệ, phát huy sự thống trịcủa giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng

Từ khi xã hội loài người bị phân hóa thành các giai cấp và cónhà nước cho tới nay, có bốn kiểu nhà nước: nhà nước chiếm hữu

nô lệ, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước XHCN.Điều đó cũng có nghĩa là có bốn kiểu bộ máy nhà nước: bộ máynhà nước chiếm hữu nô lệ, bộ máy nhà nước phong kiến, bộ máynhà nước tư sản và bộ máy nhà nước XHCN

Mỗi kiểu nhà nước có một cách thức riêng về tổ chức bộ máynhà nước, tùy thuộc vào bản chất, nhiệm vụ, chức năng, mục tiêuhoạt động của nhà nước ấy, cũng như điều kiện, hoàn cảnh lịch sử,văn hóa, truyền thống dân tộc, mức độ đấu tranh giai cấp và tươngquan lực lượng chính trị…Tuy vậy, tất cả các kiểu bộ máy nhànước đều có những đặc điểm chung là: đều là những công cụ chủyếu nhất và có hiệu lực nhất để thực hiện nền chuyên chính củagiai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tư tưởng trong xã hội; bảo vệlợi ích của giai cấp thống trị; nắm giữ đồng thời ba quyền lực –

Trang 12

quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực tư tưởng; sử dụngpháp luật để quản lý xã hội bằng ba hình thức hoạt động là xâydựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật; ápdụng hai phương pháp chung, cơ bản để quản lí xã hội là giáo dụcthuyết phục và cưỡng chế.

b) Các bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước

Bộ máy nhà nước thực hiện những nhiệm vụ và chức năngchung của cả nhà nước, còn mỗi cơ quan nhà nước lại thực hiệncác nhiệm vụ, chức năng riêng nhằm tham gia thực hiện nhiệm vụ,chức năng chung của nhà nước Cơ quan nhà nước là bộ phận cấuthành bộ máy nhà nước, được thành lập và có thẩm quyền theo quyđịnh của pháp luật Đặc điểm cơ bản của cơ quan nhà nước làmang tính quyền lực nhà nước và tính chất quyền lực của nhà nước

ấy thể hiện ở chỗ: chỉ có cơ quan nhà nước mới có quyền nhândanh cả nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước; trong phạm vithẩm quyền của mình, cơ quan nhà nước có quyền ban hành vănbản quy phạm pháp luật hoặc văn bản áp dụng quy phạm pháp luật

có tính bắt buộc phải thi hành đối với cá nhân, tổ chức, cơ quannhà nước có liên quan; có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiệncác văn bản mà mình đã ban hành; có quyền áp dụng các biện phápcưỡng chế khi cần thiết đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan

đã không tự giác và nghiêm chỉnh thực hiện văn bản do cơ quannhà nước ban hành đã có hiệu lực pháp luật gây ra thiệt hại cho nhànước, xã hội và cá nhân công dân…

Thông thường bộ máy nhà nước được cấu tạo bởi các cơ quansau đây:

- Cơ quan quyền lực nhà nước

- Các cơ quan hành chính nhà nước

- Các cơ quan tư pháp

Ngoài ra, còn có chức vị đứng đầu bộ máy nhà nước (chứcdanh nguyên thủ quốc gia) Chức vị nguyên thủ quốc gia lệ thuộcvào hình thức chính thể của nhà nước Trong nhà nước quân chủ,người đứng đầu nhà nước là vua (Hoàng đế, Quân vương, Quốcvương…) và chức danh này được thiết lập thông qua việc áp dụng

Trang 13

nguyên tắc thừa kế quyền lực theo lối “cha truyền con nối” Ở nhànước cộng hòa, nguyên thủ quốc gia được gọi là tổng thống (hoặcchủ tịch nước).

Bộ máy nhà nước cũng được hoàn thiện dần qua các thời đại,

kể từ khi có nhà nước cho tới nay

- Bộ máy nhà nước chiếm hữu nô lệ: cấu tạo đơn giản, theo môhình quân sự - hành chính và chưa có sự phân định rõ, cụ thể chứcnăng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà nước

- Bộ máy nhà nước phong kiến: cấu tạo phức tạp hơn bộ máy nhànước chiếm hữu nô lệ do sự xuất hiện những cơ quan quản lý mới

và giữa các cơ quan nhà nước đã có sự phân định rõ chức năng,nhiệm vụ

- Bộ máy nhà nước tư sản: phát triển ở trình độ khá cao và được tổchức theo nguyên tắc phân chia quyền lực để tạo nên cơ chế kiềmchế và đối trọng nhau giữa các cơ quan nắm giữa ba loại quyền lực

là quyền lực lập pháp (Nghị viện), quyền lực hành pháp (Chínhphủ) và quyền lự tư pháp (Tòa án)

- Bộ máy nhà nước XHCN: không ngừng được cải cách, hoàn thiệntheo hướng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và cónhững đặc điểm sau:

+ Được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước thốngnhất nhưng giữa các cơ quan nhà nước có sự phân công và phốihợp chặt chẽ để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

+ Đội nhũ công chức nhà nước không ngừng được đào tạo,bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trình độ quản lý

+ Chế độ trách nhiệm và kỉ luật được quy định cụ thể, rõ ràng.+ Luôn áp dụng có hiệu quả những thành tựu mới của khoahọc, công nghệ vào tổ chức và hoạt động quản lý…

c) Nhà nước pháp quyền

Hiện nay, trong lí luận có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khácnhau về khái niệm và các yếu tố cơ bản của nhà nước pháp quyền

Cụ thể các quan điểm thường nhấn mạnh đến một trong những yếu

tố cơ bản sau đây của nhà nước pháp quyền: tính tối cao của luật,nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của nhà nước; cơ chế phân chia quyền

Trang 14

lực, kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực: lập pháp,hành pháp và tư pháp; dân chủ, xã hội công dân; quyền conngười…

Là một khái niệm có nội hàm rộng lớn, nhà nước pháp quyềnbao gồm nhiều thành tố cấu thành trong mối quan hệ biện chứng:nhà nước pháp luật, nhà nước và xã hội công dân, dân chủ Nhànước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước

Theo cách hiểu phổ biến nhất, nhà nước pháp quyền được thểhiện ở những điểm cơ bản như sau:

- Thứ nhất, tổ chức nhà nước được thiết kế, hoạt động trên cơ sở

pháp luật, bản thân nhà nước cũng phải đặt mình trong khuôn khổpháp luật

Hình thức tổ chức nhà nước được xây dựng trên cơ sở của sựphân công lao động hợp lý giữa các loại cơ quan trong bộ máy nhànước: lập pháp, hành pháp và tư pháp Một hình thức tổ chức nhànước mà nền tư pháp được tổ chức khoa học, có hiệu quả và độclập chỉ tuân theo pháp luật Trong nhà nước pháp quyền phải hiệnhữu một nền hành chính trong sạch, hiệu quả, phục vụ tốt nhữngnhu cầu đa dạng, chính đáng của các cá nhân, tổ chức

- Thứ hai, một hình thức tổ chức nhà nước mà pháp luật có vị trí,

vai trò xã hội to lớn, là phương tiện điều chỉnh quna trọng hàng đầuđối với các quan hệ xã hội, là công cụ của nhà nước và toàn xã hội

- Thứ ba, pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải thực sự vì con

người

Theo đó, pháp luật là công cụ ghi nhận các quyền con người,quy định cơ chế bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích chínhđáng của công dân Tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ của nhà nước,

cá nhân và tổ chức, không có ngoại lệ nào

Từ phương diện xã hội, nhà nước pháp quyền chính là sự thểhiện một xã hội được tổ chức thành nhà nước, có sự phát triển lànhmạnh của xã hội dân sự, nơi nhà nước thực sự là một tổ chức côngquyền, mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân là mối quan hệ bìnhđẳng pháp lý và đồng trách nhiệm Các đặc điểm, tiêu chí trên củanhà nước pháp quyền lại có những mức độ thể hiện khác nhau ở

Trang 15

các quốc gia cả trên bình diện lý luận, nền văn hóa và tổ chức nhànước, hệ thống pháp luật.

Nhà nước pháp quyền là hiện tượng chính trị - pháp lí phứctạp, rộng hơn lớn được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau

Do vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa bao quát hết nội hàmkhái niệm nhà nước pháp quyền

Hiện nay, trong luật học đã có sự thừa nhận chung về kháiniệm nhà nước pháp quyền, tức là một khái niệm cho phép thể hiệnđược những đặc điểm (nguyên tắc) cơ bản nhất, tiêu biểu nhấ củanhà nước pháp quyền

Căn cứ vào những đặc trưng tiêu biểu nhất của nhà nước phápquyền, có thể nêu một định nghĩa như sau về nhà nước pháp quyền:

Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước với

sự phân công lao động khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý

xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người.

Trang 16

BÀI 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

I BẢN CHẤT, ĐẶC TRƯNG VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT

1 Bản chất của pháp luật

Pháp luật ra đời cùng với chế độ tư hữu và sự xuất hiện nhànước; pháp luật là công cụ thực hiện quyền lực nhà nước, duy trìđịa vị thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Có nhiềuquan điểm khác nhau về bản chất của pháp luật nhưng chỉ có họcthuyết Mác- Lênin về nhà nước và pháp luật mới lý giải một cáchđúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan

hệ của nó với nhà nước, với các hiện tượng khác trong xã hội cógiai cấp Pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội

có giai cấp Vì vậy, cũng như nhà nước, pháp luật luôn luôn mangbản chất giai cấp

a) Tính giai cấp của pháp luật

Bản chất giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ, phápluật luôn luôn phản ánh ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị Trongtuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõbản chất của pháp luật chính là ý chí của giai cấp thống trị mà nộidung của ý chí do điều kiện sinh hoạt vật chất quyết định Nắmtrong tay bộ máy nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhànước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thốngnhất thành ý chí của nhà nước và được thể chế hóa thành các vănbản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyềnban hành và bảo đảm thực hiện

Bản chất giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điềuchỉnh các quan hệ xã hội nhằm định hướng các quan hệ xã hội pháttriển theo một trật tự, phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo

vệ lợi ích và củng cố địa vị của giai cấp thống trị Như vậy, phápluật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp.Pháp luậtchủ nô công khai quy định quyền lực vô hạn của chủ nô và tìnhtrạng vô quyền của nô lệ Pháp luật phong kiến công khai quy địnhcác đặc quyền, đặc lợi của vua, chúa, địa chủ phong kiến, cũng như

Trang 17

quy định các chế tài hà khắc dã man để đàn áp những người laođộng Pháp luật tư sản mặc dù được thể hiện bằng những mỹ từ về

tự do, dân chủ, nhân quyền nhưng thực chất là thể hiện ý chí giaicấp tư sản và bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản Pháp luật XHCNthể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công

cụ để xây dựng xã hội mới không còn bóc lột, mọi người đều đượcsống tự do, bình đẳng đảm bảo thực sự dân chủ và công bằng xãhội

b) Tính giai xã hội của pháp luật

Bên cạnh thuộc tính giai cấp, pháp luật còn có thuộc tính xãhội Thuộc tính xã hội là một thuộc tính khách quan, tất yếu và phổbiến của pháp luật Điều đó có nghĩa, pháp luật vừa là sự thể hiện ýchí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội, vừa là công cụghi nhận, bảo vệ lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác

Để duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội, nhà nước phải quantâm đến ý chí và lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp khác trong

xã hội, phải giải quyết các vấn đề phát sinh trong xã hội như: tộiphạm, thất nghiệp, người có hoàn cảnh khó khăn, môi trường, tệnạn xã hội…

Như vậy, pháp luật là một hiện tượng vừa có thuộc tính giaicấp vừa có thuộc tính xã hội Hai thuộc tính này có quan hệ mậtthiết với nhau, tác động lẫn nhau Do những điều kiện khách quan

và chủ quan, sự thể hiện tính giai cấp và tính xã hội của pháp luật

có khác nhau trong các kiểu nhà nước

Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm về pháp luật nhưsau:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và nhu cầu tồn tại của xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho sự phát triển của

xã hội

Trang 18

2 Đặc trưng cơ bản của pháp luật và pháp luật XHCN

a) Đặc trưng cơ bản của pháp luật

* Tính quy phạm phổ biến

Pháp luật là một bộ phận của quy phạm xã hội, vì vậy cũng cótính quy phạm Tính quy phạm của pháp luật nói lên giới hạn cầnthiết mà nhà nước quy định để tất cả các cá nhân, tổ chức có thể xử

sự một cách tự do trong khuôn khổ cho phép Tuy nhiên, khác vớiđạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo…tính quy phạm của pháp luậtmang tính phổ biến, là khuôn mẫu chung cho tất cả mọi người vàđược áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian rộng lớn

* Tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiện bằng bộ máy nhà nước

Pháp luật do nhà nước ban hành, là phương tiện thể hiện vàthực hiện quyền lực nhà nước Vì vậy, khi pháp luật được nhà nướcban hành, pháp luật có sức mạnh của quyền lực nhà nước, có tínhbắt buộc chung đối với mọi chủ thể trong xã hội và được nhà nướcđảm bảo thực hiện bằng các công cụ, biện pháp của nhà nước Đặctrưng này chỉ có ở pháp luật, quy phạm đạo đức và một số quyphạm xã hội khác thường chỉ có thể tác động trong một phạm vihẹp và được đảm bảo thi hành bằng sự tự giác của mỗi cá nhân và

sự tác động của dư luận xã hội

b) Đặc trưng cơ bản của pháp luật XHCN

Pháp luật XHCN là hệ thống quy phạm pháp luật do cơquan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thể chế hóa đườnglối, chính sách của Đảng, thể hiện ý chí và lợi ích của nhân dân laođộng, được bảo đảm thực hiện bằng bộ máy nhà nước trên cơ sởgiáo dực, thuyết phục kết hợp với cưỡng chế thi hành lhi cần thiết

Trang 19

Pháp luật XHCN có những đặc trưng mang tính phổ biến củapháp luật nói chung, song có những đặc trưng riêng, thể hiện bảnchất khác với pháp luật của các nhà nước khác:

* Pháp luật XHCN thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Sở dĩ có sự thống nhất ý chí giữa giai cấp công nhân và nhândân lao động thể hiện trong pháp luật XHCN bởi vì giai cấp côngnhân không có mục đích tự thân và không có lợi ích riêng Sứmệnh lịch sử của nó là lãnh đạo nhân dân xây dựng một xã hội mớigiàu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh, cá nhân có quyền tự

do, có cơ hội phát triển toàn diện Giữa giai cấp công nhân, các giaicấp, tầng lớp xã hội khác đều có chung những lợi ích cơ bản, lâudài, có sự đồng thuận về tinh thần, tư tưởng và mục tiêu phát triển.Đây chính là cơ sở chính trị, kinh tế - xã hội bảo đảm cho tínhthống nhất ý chí trong pháp luật XHCN ngày càng trở nên bềnvững Trong quá trình xây dựng pháp luật, nhà nước luôn luôn xuấtphát từ ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, tổ chức cho nhândân tham gia xây dựng pháp luật

* Pháp luật XHCN có tính quy phạm tiên tiến

Tính chất tiên tiến của pháp luật XHCN được thể hiện ở chỗ:pháp luật thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng- lực lượnglãnh đạo nhà nước và xã hội, bảo đảm cho xã hội phát triển giàumạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, bảo đảm tất cả vì hạnh phúccủa con người; pháp luật ghi nhận và phát huy những giá trị vănhóa, đạo đức truyền thống, xác lập những giá trị văn hóa mới, conngười mới XHCN, bài trừ những tập quán lạc hậu, lối sống laicăng, chủ nghĩa cá nhân…, giáo dục nhân sinh quan, thế giới quanđúng đắn, giáo dục ý thức tổ chức kỉ luật, trách nhiệm công dân…

* Pháp luật XHCN được đảm bảo thực hiện chủ yếu trên cơ sở giáo dục, thuyết phục

Muốn cho pháp luật được thực hiện thì trong bất cứ nhà nướcnào cũng phải sử dụng những biện pháp cưỡng chế thi hành khi cácchủ thể không tự giác thực hiện Tuy vậy, trong tổ chức thực hiệnpháp lật, nhà nước XHCN không tuyệt đối hóa các biện phápcưỡng chế, chỉ sử dụng các biện pháp cưỡng chế khi thật sự cần

Trang 20

thiết Mặt khác, chủ yếu hơn, nhà nước tiến hành nhiều biện pháptuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao trình độ vănhóa, ý thức pháp luật cho nhân dân để học tự giác thực hiện phápluật.

3 Vai trò của pháp luật ở nước ta

a) Vai trò của pháp luật đối với sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, pháp luật trở thành công

cụ, phương tiện hữu hiệu nhất để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảngđối với nhà nước và xã hội Vai trò đó được thể hiện trên nhữngđiểm sau đây:

- Pháp luật là phương tiện thể chế hóa đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng thành những quy định cụ thể trong nội dung phápluật

- Thông qua cơ chế điều chỉnh pháp luật bảo đảm cho pháp luậtđược thực hiện, có nghĩa là bảo đảm cho đường lối, chủ trươngchính sách của Đảng được hiện, trở thành hiện thực trong cuộcsống Như vậy, pháp luật là công cụ chuyển tải đường lối, chínhsách của Đảng vào cuộc sống

- Thông qua việc thực hiện pháp luật Đảng kiểm nghiệm đường lối,chính sách của mình trong thực tiễn

- Pháp luật là phương tiện phân định vai trò lãnh đạo của Đảng đốivới vai trò tổ chức, quản lý, điều hành của nhà nước

b) Vai trò của pháp luật đối với nhà nước

Đối với nhà nước, pháp luật là công cụ, phương tiện để xâydựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước và tổ chức quản lý các lĩnh vựccủa đời sống xã hội Xây dựng, hoàn thiện tổ chức, hoạt động củanhà nước cũng như tổ chức, quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội

có thể sử dụng nhiều phương tiện, công cụ, biện pháp nhưng phápluật là phương tiện có nhiều ưu thế vượt trội Nó có khả năng tácđộng nhanh nhất, có hiệu lực, hiệu quả cao nhất trên quy mô rộnglớn nhất vì nó có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội

Trang 21

c) Vai trò của pháp luật đối với quyền làm chủ của nhân dân

Pháp luật là công cụ, phương tiện để thực hiện và bảo vệquyền làm chủ của nhân dân Vai trò này thể hiện ở chỗ: pháp luậtghi nhận, thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân; quy địnhquyền, nghĩa vụ trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội, nhất làcác cơ quan,cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện, bảo

vệ quyền làm chủ của nhân dân; quy định bảo đảm thực hiện quyềntham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của nhân dân; quy địnhđảm bảo thực hiện quyền kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội đốivới hoạt động của Đảng, nhà nước, quy định về tổ chức, hoạt độngcủa các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội đại diện cho cácgiai cấp, tầng lớp nhân dân; quy định xử lý đối với những vi phạmquyền làm chủ của nhân dân…

d) Vai trò của pháp luật đối với kinh tế

Vai trò của pháp luật đối với kinh tế thể hiện ở những điểmsau đây:

- Pháp luật tạo cơ sở pháp lý để nhà nước thực hiện chức năngquản lý nhà nước về kinh tế bảo đảm phát triển kinh tế nhiều thànhphần, hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Đểthực hiện được vai trò đó, pháp luật có những quy định bảo đảmphát triển kinh tế thị trường nhưng phải giữ vững được độc lập, chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững mục tiêu và con đường đi lênCNXH; bảo đảm lợi ích của tổ quốc, của nhân dân… Đề nền kinh

tế phát triển bền vững, pháp luật phải có các quy định bảo đảmphát triển kinh tế trên cơ sở nội lực, tăng trưởng trên cơ sở pháttriển khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, sử dụng có hiệu quảtài nguyên thiên nhiên; bảo đảm hiệu quả sản xuất kinh doanh; giữgìn di tích lịch sử văn hóa…

- Pháp luật tạo môi trường pháp lý thuận lợi nhằm huy động mọitiềm năng của các thành phần kinh tế, tăng nhanh quy mô và trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất để xây dựng cơ sở vật chất củaCNXH Để thực hiện được vai trò này pháp luật khẳng định quyền

tự do kinh doanh, tạo thuận lợi để các nhà đầu tư trong nước vànước ngoài thực hiện quyền tự do kinh doanh theo quy định của

Trang 22

pháp luật; quy định quyền và nghĩa vụ, bảo vệ lợi ích chính đángcủa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp; bảo đảm giai quyết các tranhchấp phát sinh trong kinh doanh…

e) Vai trò của pháp luật đối với văn hóa, tư tưởng

Pháp luật có vai trò bảo tồn, phát huy các giá trị tốt đẹp củanền văn hóa truyền thống, xây dựng nền văn hóa mới XHCN bảođảm phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Đềthực hiện được vai trò đó, pháp luật có các quy định khuyến khíchgiữ gìn phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống,tiếp thu các giá trị văn hóa nhân loại, xây dụng nền văn hóa mới…Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc định hình hệ tư tưởngcủa xã hội Nó xác lập thế giới quan khoa học, các tư tưởng và giátrị của loài người tiến bộ, tác động mạnh mẽ đối với sự hình thành,phát triển và biến đổi của tư tưởng

f) Vai trò của pháp luật đối với đạo đức

Pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ, tác động ảnh hưởng lẫnnhau đối với đạo đức vì pháp luật và đao đức đều có chức năngđiều chỉnh quan hệ xã hội.Thực hiện pháp luật một cách hoàn toàn

tự giác sẽ trở thành giá trị đạo đức trong xã hội văn minh và nếunhư các quy phạm đạo đức không được tôn trọng thì phải chuyểnhóa thành quy phạm pháp luật, nhờ cơ chế điều chỉnh pháp luật đểbảo đảm cho giá trị đạo đức đó được thực hiện Mặt khác, phápluật c1o các quy định nhằm bảo vệ và phát triển đạo đức mới; ngănchặn, lên án và xử lý những hành vi vi phạm đạo đức, sự thoái hóabiến chất về đạo đức

g) Vai trò của pháp luật trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòi hỏi phảo bảo đảm

an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Pháp luật là công cụ sắcbén đủ hiệu lực và sức mạnh để đấu tranh phòng, chống có hiệuquả đối với tội phạm, vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh chính trị,

Trang 23

trật tự an toàn xã hội Thực hiện vai trò đó pháp luật xác địnhnhững hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội, phân địnhhành vi nguy hiểm phải bị xử lý hành chính và hành vi nguy hiểmnào là tội phạm phải bị xử lý bằng hình phạt quy định trong bộ luậthình sự Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính và hình phạp xử

lý những hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm đủ mức nghiêmkhắc tương thích với hiệu quả gây ra cho xã hội đối với nhưngngười vi phạm, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa xã hội

II HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1 Khái niệm hệ thống pháp luật

a) Khái niệm

Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được sắp xếp thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục

và hình thức nhất định.

Như vậy, hệ thống pháp luật là khái niệm vừa phản ánh cơ cấubên trong (hệ thống cấu trúc của pháp luật); vừa phản ánh hìnhthức biểu hiện bên ngoài của pháp luật (hệ thống văn bản quyphạm pháp luật); vừa thể hiện sự thống nhất hữu cơ của các quyphạm pháp luật cấu thành hệ thống đó, vừa thể hiện sự phân chiacác quy phạm ấy thành các chế định pháp luật và các ngành luậtcùng với sự biểu hiện của chúng trong các văn bản quy phạm phápluật Nói cách khác, quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và cácngành luật là các thành tố của hệ thống pháp luật

b) Tiêu chuẩn xác định mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Có bốn tiêu chuẩn cơ bản để xác định mức độ hoàn thiện củamột hệ thống pháp luật đó chính là: tính toàn diện, tính đồng bộ,tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật

Trang 24

* Tính phù hợp

Thể hiện sự tương quan giữa trình độ của hệ thống pháp luậtvới trình độ phát triển của kinh tế xã hội

* Trình độ kỹ thuật pháp lý

Thể hiện ở cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý đảm bảo tính

cô đọng, lôgic, chính xác và một nghĩa

2 Hệ thống cấu trúc của pháp luật

Hệ thống cấu trúc của pháp luật là cơ cấu nội tại của hệ thống quyphạm pháp luật, thể hiện sự phân chia các quy phạm pháp luậtthành chế định pháp luật và ngành luật Như vậy, hệ thống cấu trúccủa pháp luật bao gồm ba thành tố đó là: quy phạm pháp luật, chếđịnh pháp luật và ngành luật

a) Quy phạm pháp luật

Là thành tố nhỏ nhất trong hệ thống cấu trúc bên trong củapháp luật Nó là đơn vị nhỏ nhất cấu thành chế định pháp luật, cácngành luật và cả hệ thống pháp luật Như vậy, quy phạm pháp luậtkhông tồn tại với tư cách như bộ phận độc lập trong hệ thống phápluật

b) Chế định pháp luật

Là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xãhội có những đặc điểm chung và có quan hệ mật thiết với nhauthuộc cùng một loại quan hệ xã hội do một ngành luật điều chỉnh

Trang 25

Nói cách khác, một ngành luật bao gồm nhiều chế định pháp luật

mà giữa chúng vừa có mối quan hệ hữu cơ như một chính thểthống nhất, vừa có tính độc lập tương đối

c) Ngành luật

Là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một loại quan

hệ xã hội có cùng tính chất thuộc một lĩnh vực nhất định của đờisống xã hội Để phân định các ngành luật, phải dựa trên hai căn cứ:đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh Đối tượng điềuchỉnh của một ngành luật là những quan hệ xã hội cuàng loại thuộcmột lĩnh vực của đời sống xã hội cần có sự điều chỉnh bằng phápluật Mỗi ngành luật có một đối tượng điều chỉnh với những tínhchất, đặc điểm riêng, khác với đối tượng điều chỉnh của ngành luậtkhác Bên cạnh đối tượng điều chỉnh, các ngành luật còn đượcphân biệt bởi phương pháp điều chỉnh Phương pháp điều chỉnh lànhững cách thức mà nhà nước tác động vào quan hệ xã hội thuộcphạm vi điều chỉnh của ngành luật đó

Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnhcủa pháp lật, Hệ thống pháp luật VN còn được phân định thành cácngành luật cơ bản sau: Luật nhà nước (hay còn gọi là Luật hiếnPháp); Luật hành chính; Luật tài chính; Luật đất đai; Luật dân sự;Luật hôn nhân và gia đình; Luật lao động; Luật kinh tế; Luậtthương mại; Luật môi trường; Luật tố tụng dân sự; Luật hình sự;Luật tố tụng hình sự

Bên cạnh hệ thống pháp luật quốc gia là luật quốc tế gồm hai

bộ phận: Công pháp quốc tế và Tư pháp quốc tế

- Công pháp quốc tế: Là tổng hợp những nguyên tắc, những chếđịnh, những quy phạm được các quốc gia và các chủ thể khác củaluật quốc tế xây dựng trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện và bìnhđẳng, nhằm điều chỉnh các quan hệ nhiều mặt giữa chúng

- Tư pháp quốc tế: bao gồm những nguyên tắc và những quy phạmpháp luật điều chỉnh những quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, laođộng và tố tụng dân sự nảy sinh giữa các công dân, các tổ chức củacác nước khác nhau

Trang 26

3 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật

a) Các loại văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện các quyếtđịnh pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hànhtheo thủ tục, trình tự và hình thức nhất định, có chứa đựng các quytắc xử sự chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điềuchỉnh các quan hệ xã hội nhất định

Theo Hiến pháp 1992 và Luật ban hành văn bản quy phạmpháp luật 2008 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2009), các văn bản quyphạm pháp luật ở nước ta gồm có:

- Văn bản do Quốc hội ban hành: gồm có Hiến pháp và luật

- Văn bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành: gồm có pháplệnh, nghị quyết

- Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trungương ban hành (để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốchội, Ủy ban thường vụ Quốc hội) gồm có:

+ Lệnh, quyết định do Chủ tịch nước ban hành

+ Nghị định do Chính phủ ban hành, quyết định do Thủ tướngChính phủ ban hành

+ Thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhândân tối cao ban hành

+ Quyết định do Tổng kiểm toán nhà nước ban hành

+ Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặcgiữa Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xãhội ban hành

+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối caovới Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tốicao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành

- Văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành để thihành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụQuốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản do ủy

Trang 27

ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của hội đồngnhân dân cùng cấp gồm có:

+ Nghị quyết do Hội đồng nhân dân ban hành

+ Quyết định do Ủy ban nhân dân ban hành

b) Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực về không gian, thờigian và đối tượng áp dụng Hiệu lực của văn bản có tính thứ bậctrong đó Hiếp pháp và Luật là văn bản có hiệc lực pháp lý caonhất theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luậtthì việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật phải thep các nguyêntắc sau:

- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu

có hiệu lực

- Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ratại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợpvăn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó

- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy địnhkhác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lựcpháp lý cao hơn

- Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một

cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đềthí áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau

- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quyđịnh trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm phá[p lý nhẹhơn đối vớ hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thí ápdụng văn bản mới

Trang 28

BÀI 3 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VI PHẠM PHÁP LUẬT, TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Lý luận về pháp luật có những nội dung liên quan đến phápluật ở dạng “ tĩnh” như khái niệm, bản chất, quy phạm pháp luật,

hệ thống pháp luật…và có những nội dung liên quan đến pháp luật

ở dạng “ động”, tức là pháp luật được biểu hiện cụ thể trong cuộcsống Nội dung bài này đề cập đến một số vấn đề pháp luật ở dạng

“động”.Đó là thực hiện pháp luật và vi phạm pháp luật – hai biểuhiện cơ bản của pháp luật trong thực tiễn

I THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

1 Khái niệm thực hiện pháp luật

Để điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật thì trước hết,nhà nước phải tổ chức xây dựng hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật Tuy nhiên, việc xây dựng văn bản không là mục đích tựthân của nhà nước điều nhà nước mong muốn là các quy địnhpháp luật phải đi vào cuộc sống, biến các quan hệ xã hội thànhquan hệ pháp luật phục vụ lợi ích của nhà nước và xã hội Điều đóchỉ có thể đạt được khi các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt rađược các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chínhxác, đầy đủ Do vậy, đi đôi với việc ban hành các văn bản phápluật, nhà nước phải tổ chức đưa pháp luật vào cuộc sống

Pháp luật XHCN là hệ thống pháp luật có tính thống nhất nộitại cao, vì nó phản ánh quyền lợi của đông đảo quần chúng nhândân lao động Do đó, pháp luật XHCN có cơ sở khách quan để cácchủ thể trong xã hội tự giác thực hiện Tuy nhiên, từ các quy địnhpháp luật đến các quan hệ pháp luật trên thực tế là một quá trìnhthông qua hành vi cụ thể của con người với những hoàn cảnh, điềukiện rất khác nhau Có những người không có sẵn các điều kiện đểthực hiện Lại có người cố tình không thực hiện hoặc không biết đểthực hiện Vì vậy, để pháp luật đi vào cuộc sống thì cần phải cóquá trình tổ chức một cách chủ động, nhiều khi phải có sự tham giatrực tiếp của nhà nước Thực hiện pháp luật là hành vi của con

Trang 29

người hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức phù hợp với những quyđịnh của pháp luật Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật làhành vi hợp pháp Hành vi đó không trái, không vượt quá, khôngthấp hơn phạm vi các quy định của pháp luật và có lơi cho xã hội,cho nhà nước và cho cá nhân.

Quy phạm pháp luật có rất nhiều loại khác nhau và với mỗiloại thì cách thức thực hiện chúng cũng khác nhau Có thể đó là xử

sự chủ động nhằm đạt được một cái gì đó như sử dụng quyền hoặclàm nghĩa vụ pháp lý Có thể đó là xử sự thụ động, kiềm chế khônglàm những điều mà pháp luật cấm Hành vi hợp pháp rất đa dạng,chúng có thể thực hiện phụ thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân, nhưngcũng có thể chỉ phụ thuộc vào ý chí của nhà nước Hành vi hợppháp có thể thực hiện trên cơ sở nhận thức sâu sắc của chủ thể vàcũng có thể được thực hiện do ảnh hưởng của những người xungquanh

Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.

1

2 Các hình thức thực hiện pháp luật

Căn cứ vào tính chất của các hoạt động thực hiện pháp luật,khoa học pháp lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luậtsau:

a) Tuân thủ pháp luật

Là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thểpháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luậtngăn cấm Hình thức này có cơ sở là các quy phạm pháp luật cấmđoán Vì vậy, để tuân thủ pháp luật, các chủ thể cần biết cái gìkhông được làm và kiềm chế không tiến hành những việc đó

b) Thi hành pháp luật

Là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thểpháp luật tiến hành những việc mà pháp luật bắt phải làm một cáchtích cực Hình thức này có cơ sở là những quy phạm pháp luật bắtbuộc Để chấp hành pháp luật, các chủ thể phải biết cái gì pháp luật

Trang 30

bắt mình phải làm và tiến hành nghĩa vụ pháp lý của mình bằnghành động tích cực.

c) Sử dụng pháp luật

Là một hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thểpháp lau65t thực hiện quyền chủ thể của mình Những quy phạmpháp luật cho phép được thực hiện dưới hình thức này Hình thứcnày khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thựchiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ýchí của mình, chứ không bị ép buộc phải thực hiện

d) Áp dụng pháp luật

Là một hình thức thục hiện pháp luật trong đó nhà nước thôngqua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổchức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của phápluật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để ra cácquyết định làm phát sinh, thay đổi đình chỉ hoặc chấm dứt nhữngquan hệ pháp luật cụ thể

Nếu như tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụngpháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thểthực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật chỉdành cho các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền

Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơquan nhà nước, nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa làcách thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật.Nếu các hình thức thực hiện pháp luật khác có thể có hoặc không

có vai trò trực tiếp của nhà nước thì áp dụng pháp luật luôn có sựhiện diện của nhà nước

2

Trang 31

- Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặcnhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp củanhà nước

- Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữacác bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không tự giải quyếtđược

- Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần thiết phảitham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên trong quan hệ

đó hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại một số sự việc, sự kiện thực

tế VD: việc xác nhận di chúc hợp pháp, chứng thực thế chấp…

b) Đặc điểm của áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước,

cụ thể là:

+ Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhànước hay nhà chức trách có thẩm quyền tiến hành Mỗi cơ quannhà nước hay nhà chức trách trong phạm vi thẩm quyền được giaothực hiện một số những hoạt động áp dụng pháp luật nhất định

+ Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ýchí đơn phương của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khôngphụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng pháp luật

+ Áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị

áp dụng và các chủ thể có liên quan Quyết định áp dụng pháp luậtđược bảo đảm bằng sự cưỡng chế nhà nước khi cần thiết

- Áp dụng pháp luật là hoạt động có hình thức thủ tục chặt chẽ dopháp luật quy định Do tính chất quan trọng và phức tạp của hoạtđộng áp dụng pháp luật, chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể được

Trang 32

hưởng những lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu nhữnghậu quả rất nghiêm trọng nên pháp luật xác định rõ ràng cơ sở,điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trongquá trình áp dụng pháp luật

- Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối vớicác quan hệ xã hội xác định Đối tượng của hoạt động áp dụngpháp luật là những quan hệ xã hội cần sự điều chỉnh cá biệt trên cơ

sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật Bằng hoạtđộng áo dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật nhất định được

cá biệt hóa một cách cụ thể trong cuộc sống

- Áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo Khi áp dụngpháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹlưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó đề từ đó lựachọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành.Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõthì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luậttương tự Để đạt tới điều đó, dòi hỏi các nhà chức trách phải có ýthức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phongphú, có đạo đức nghề nghiệp cao

Từ những phân tích trên có thể định nghĩa áp dụng pháp luậtnhư sau:

Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.

II VI PHẠM PHÁP LUẬT

1 Khái niệm

Trong xã hội XHCN, pháp luật thể hiện ý chí của đông đảocác tầng lớp nhân dân nên các quy định của pháp luật được đôngđảo nhân dân tôn trọng và tự giác thực hiện Tuy nhiên, do nhiềunguyên nhân khác nhau mà vẫn còn hiện tượng vi phạm pháp luật,xâm hại đến lợi ích vật chất và tinh thần của nhà nước, xã hội vàcủa nhân dân Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề vi phạm pháp luật

Trang 33

có ý nghĩa lớn trong việc góp phần đề ra những biện pháp hữu hiệu

để đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật trong xã hội

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể

có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

2 Các dấu hiệu vi phạm pháp luật

a) Vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi xác định của con người

Pháp luật đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người Phápluật có thể tác động đến suy nghĩ của các chủ thể song không thểbắt buộc các chủ thể nghĩ thế này hoặc nghĩ thế khác được Chonên vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi của con người hoặc

là hoạt động của các cơ quan, tổ chức gây nguy hiểm hoặc có khảnăng gây nguy hiểm cho xã hội Dấu hiệu hành vi là dấu hiệukhông thể thiếu được khi xác định một vi phạm pháp luật Nóicách khác, không có hành vi của con người thì không có vi phạmpháp luật Hành vi đó có thể biểu hiện bằng hành động hoặc khônghành động của các chủ thể pháp luật Pháp luật không điều chỉnhnhững suy nghĩ hoặc những đặc tính cá nhân khác của con ngườinếu như những đặc tính đó không biểu hiện thành các hành vi cụthể của họ Vì thế, suy nghĩ, tình cảm, những đặc tính cá nhân kháccủa con người cho dù có nguy hiểm cho xã hội cũng không bị coi

Trang 34

những quan hệ xã hội mà mỗi nhà nước xác lập và bảo vệ Vì vậy,những hành vi trái với các quy định của các tổ chức xã hội, trái vớiquy tắc tập quán đạo đức… mà không trái pháp luật thì không bịcoi là vi phạm pháp luật Nói một cách khái quát thì những gì màpháp luật không cấm, không xác lập và bảo vệ thì dù có làm trái,

có xâm hại cũng không bị coi là vi phạm pháp luật Như vậy, tínhtrái pháp luật là dấu hiệu không thể thiếu của hành vi bị coi là viphạm pháp luật

c) Dấu hiệu lỗi của chủ thể có hành vi trái pháp luật

Dấu hiệu trái pháp luật mới chỉ là biểu hiện bên ngoài củahành vi Để xác định vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt chủquan của hành vi nghĩa là, xác định lỗi của chủ thể khi thực hiệnhành vi trái pháp luật đó Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độcủa chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình Nếu một hành

vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện và hoàn cảnhkhách quan, chủ thể hành vi đó không cố ý và cũng không vô ýthực hiện hoặc không thể ý thức được, từ đó không thể lựa chọnđược cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể hành vi đókhông thể bị coi là có lỗi và hành vi đó không bị coi là vi phạmpháp luật Kể cả những hành vi trái pháp luật mà chủ thể bị buộcphải thực hiện trong điều kiện không có tự do ý chí cũng có thểkhông bị coi là vi phạm pháp luật Như vậy, những hành vi tráipháp luật mang tính khách quan, không có lỗi của chủ thể thựchiện hành vi đó thì không bị coi là vi phạm pháp luật Qua đó, cóthể khẳng định mọi vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi tráipháp luật, nhưng ngược lại, không phải tất cả hành vi trái pháp luậtđều bị coi là vi phạm pháp luật Chỉ những hành vi trái pháp luậtnào có lỗi mới có thể bị coi là vi phạm pháp luật

d) Dấu hiệu năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật

Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng phải chịu tráchnhiệm pháp lý của chủ thể do nhà nước quy định Năng lực tráchnhiệm pháp lý trong pháp luật XHCN chỉ quy định cho những

Trang 35

người đã đạt được một độ tuổi nhất định theo quy định của phápluật, có khả năng lí trí và có tự do ý chí Trong pháp luật XHCN sựđộc lập phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình chỉ quy định đốivới những người có khả năng tự lựa chọn được cách xử sự và có tự

do ý chí, nói khác đi, người đó phải có khả năng nhận thức, điềukhiển được hành vi của mình, có điều kiện lựa chon và quyết địnhcác xử sự cho mình và chịu trách nhiệm độc lập về hành vi củamình Những người do mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điềukhiển hành vi của mình ở thời điểm khi thực hiện hành vi trái phápluật thì được xem là không có năng lực trách nhiệm pháp lý đối vớitrường hợp đó Đối với trẻ em ít tuổi có thể nhận thức và điềukhiển hành vi của mình, nhưng chúng chưa có khả năng nận thứcđược hết những hậu quả do hành vi của chúng gây ra cho xã hộinên nhà nước không bắt chúng phải chịu trách nhiệm về hành vitrái pháp luật của mình, không quy định năng lực phải chịu tráchnhiệm pháp lý đối với chúng Đối với mỗi lĩnh vực khác nhau thì

độ tuổi pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm pháp lý khácnhau Ở các nhà nước khác nhau, năng lực chịu trách nhiệm pháp

lý cũng được quy định khác nhau Như vậy, những hành vi tráipháp luật nhưng khi thực hiện chúng, các chủ thể không có hoặcchưa có năng lực trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luậtthì không bị coi là vi phạm pháp luật

tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản,các quyền, lợi ích hợp

Trang 36

pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật

tự pháp luật XHCN.

Chủ thể tội phạm chỉ là những cá nhân có năng lực tráchnhiệm hình sự

b) Vi phạm hành chính

Là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc

vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.

d) Vi phạm kỷ luật nhà nước

Là những hành vi có lỗi trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong cơ quan, xí nghiệp, trường học… do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Chủ thể vi phạm kỉ luật có thể là cá nhân và cũng có thể là tậpthể, họ là cán bộ, công nhân, công chức, học sinh…có quan hệ phụthuộc với cơ quan, xí nghiệp, trường học…nào đó Cần lưu ý phânbiệt vi phạm kỉ luật với tư cách là một loại vi phạm pháp luật với viphạm kỉ luật của tổ chức xã hội hoặc vi phạm nội quy của nội bộ

cơ quan, tổ chức

Trang 37

III TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

1 Khái niệm

Trong ngôn ngữ hàng ngày, thuật ngữ “trách nhiệm” đượcdùng theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực hoặcngữ cảnh cụ thể

Trong lĩnh vực chính trị, đạo đức “trách nhiệm” được hiểutheo nghĩa bổn phận, vai trò Nó luôn mang tính tích cực xuất phát

từ sự ý thức của con người về vị trí, vai trò của mình đối với xãhội, đối với những người thân thích, đối với thiên nhiên, môitrường…Trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ “trách nhiệm” cũngđược sử dụng theo hai nghĩa:

- Theo nghĩa tích cực: trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ

- Theo nghĩa thứ hai: trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà chủ thể viphạm pháp luật phải gánh chịu Đó là sự phản ứng của nhà nướcđối với những chủ thể vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xãhội

Như vậy, trách nhiệm pháp lý có thể đồng nghĩa với việc thựchiện pháp luật (hình thức chấp hành pháp luật) và cũng có thể làmột quan hệ đặc biệt giữa người vi phạm pháp luật đối với nhànước

Sở dĩ nhà nước áp dụng trách nhiệm đối với những chủ thể viphạm pháp luật là vì những chủ thể này đã vô tình hoặc cố ý khônglàm đúng các “mệnh lệnh” của nhà nước đã công bố trong các quyphạm pháp luật, dẫn đến (hoặc có nguy cơ dẫn đến) thiệt hại cho xãhội Nếu nhà nước không áp dụng trách nhiệm pháp lý thì hành vi

vi phạm có thể tiếp tục tái diễn (do chính chủ thể đó hoặc chủ thểkhác thực hiện) Trách nhiệm pháp lý là một hình thức thể hiệnquyền lực công khai của nhà nước đối vớ các chủ thể vi phạm phápluật Trách nhiệm này thường đã được dự liệu trước trong phần chếtài của các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành

Trách nhiệm pháp lý chỉ được áp dụng khi trong thực tế xảy

ra vi phạm pháp luật Nếu trong thực tế không có vi phạm phápluật thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lý Trách nhiệmpháp lý chỉ do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền(cơ quan quản lý nhà nước, tòa án…) tiến hành đối với các chủ thể

Trang 38

vi phạm pháp luật Nó thể hiện ở việc nhà nước (thông qua các cơquan hay nhà chức trách có thẩn quyền) theo trình tự thủ tục quyđịnh yêu cầu chủ thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý giải thích rõ

về hành vi của mình và phải chịu những thiệt hại nhất định (vềnhân thân, về tài sản, về tự do…) đã được quy định trong bộ phậnchế tài của các quy phạm pháp luật

Tuy nhiên, cũng cần chú ý là có một số biện pháp cưỡng chếđược nhà nước áp dụng không liên quan gì tới trách nhiệm pháp lý,nghĩa là nó được áp dụng cả khi không xảy ra vi phạm pháp luật

Ví dụ: nhà nước có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm cách lynhững người mắc một số bệnh truyền nhiễm Nhà nước có thể ápdụng biện pháp trưng thu, trưng dụng hay trưng mua một số tài sảnnào đó khi thấy cần thiết…

Như vậy, trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm của các chủ thể

vi phạm pháp luật trước nhà nước, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh.

2 Các đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của trách nhiệm pháp lý

- Trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi có sự việc vi phạm phápluật

Nếu tronng thực tế không có vi phạm pháp luật thì khôngđược truy cứu trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý chính làdạng trách nhiệm nghiêm khắc hơn cả so với bất kỳ dạng tráchnhiệm nào khác như trách nhiệm chính trị, trách nhiệm đạo đứchay trách nhiệm đối với hành vi vi phạm kỉ luật vủa tổ chức xãhội…

- Trách nhiệm pháp lý luôn được thực hiện trong phạm vi của quan

hệ pháp luật giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có quyền vànghĩa vụ nhất định Một bên là Nhà nước và bên kia là người đãthực hiện hành vi vi phạm pháp luật

- Trách nhiệm pháp lý được xác định bằng một trình tự đặc biệt bời

cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà trình tự đó phải do pháp luậtquy định

Trang 39

- Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với những biện pháp cưỡngchế nhà nước

Truy cứu trách nhiệm pháp lý về thực chất là áp dụng nhữngbiện pháp cưỡng chế nhà nước đã được quy định trong bộ phận chếtài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm phápluật Tuy nhiên, bản thân trách nhiệm pháp lý không phải là sựcưỡng chế nhà nước mà chỉ là nghĩa vụ phải gánh chịu những biệnpháp cưỡng chế nhà nước do pháp luật quy định Chủ thể vi phạmpháp luật bị nhà nước buộc phải thực hiện những biện pháp cưỡngchế được quy định ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật

3 Các loại trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý mà nhà nước áp dụng của nhiều loại.Thông thường chúng được chia thành: trách nhiệm hình sự, tráchnhiệm hành chính, trách nhiệm kỉ luật, trách nhiệm dân sự và tráchnhiệm vật chất

c) Trách nhiệm dân sự

Là loại trách nhiệm pháp lý tòa án áp dụng đối vớ các chủ thể

vi phạm Luật dân sự và có yêu cầu của đương sự.

d) Trách nhiệm kỷ luật

Là loại trách nhiệm pháp lý do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, trường học…áp dụng đối với cán bộ, công chức, nhân viên, người học…thuộc quyền quản lý của mình khi họ vi phạm kỷ luật.

Ngoài ra còn có:

Trang 40

Trách nhiệm vật chất: là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, xí nghiệp…áp dụng đối với cán bộ, công chức, công nhân… của cơ quan, xí nghiệp mình trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, xí nghiệp.

4 Truy cứu trách nhiệm pháp lý

Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một quá trình hoạt động phứctạp và rất khó khăn của các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách

có thẩm quyền trong việc xem xét, tìm hiểu sự việc bị coi là viphạm pháp luật, ra quyết định giải quyết vụ việc và tổ chức thựchiện quyết định đó Nhà nước thông qua các cơ quan hoặc nhàchức trách có thẩm quyền tiến hành xem xét và xử lý đối với chủthể vi phạm pháp luật bằng cách buộc chủ thể vi phạm pháp luậtphải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chếnhà nước được quy định ở bộ phận chế tài của các quy phạm phápluật

Ngày đăng: 29/06/2014, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w