Bản mô tả về sản phẩmTên sản phẩm: BÁNH BAO THIÊN NHIÊNThị trường mục tiêu: những người quan tâm đến ăn uống vì sức khỏe, sở thích, tầng lớp có thu nhập trung bình Người tiêu dùng: người
Trang 1SVTH: Trần Xuân Trúc Huỳnh Thị Mai Ly
Trang 2THƯƠNG HIỆU: THANKS !
Cám ơn thiên nhiên đã cho chúng ta những nguyên liệu quý giá để làm nên thức ăn
Cám ơn khí hậu nhiệt đới đã cho Việt Nam những thực phẩm mang nhiều giá trị sinh học
Khi các bạn mua sản phẩm của chúng tôi thì chính là các bạn đang quan tâm đến sức khỏe của chính bạn, sức khỏe của người thân và mọi người xungquanh bạn Và chúng tôi cảm ơn bạn vì điều đó vì các bạn khỏe mạnh chính
là cả thế giới khỏe mạnh
SLOGAN: we care your health – sức khỏe của bạn chính là điều chúng tôi quan tâm
Trang 31 Mục tiêu của dự án: một sản phẩm bánh bao mới đáp ứng được trình độ
văn hóa mức sống tăng lên cũng như sự quan tâm ngày càng nhiều đến vấn đề thực phẩm – sức khỏe của người tiêu dùng Bên cạnh đó càng phảithích nghi được trong thị trường cạnh tranh gay gắt khi Việt Nam đang từng bước gia nhập AFTA và WTO
2 Tìm kiếm ý tưởng mới cho sản phẩm:
Từ phần giới thiệu mở đầu đã có thể nhận ra ý tưởng sản phẩm xuất phát từ đâu: đó chính là mối quan tâm đến sức khỏe của mọi người, của cộng đồng
Những thay đổi tạo nên sản phẩm bánh bao thiên nhiên: thay đổi thành phần mùi vị nhờ sử dụng nước ép rau, củ để nhào bột, và sảnphẩm thay thế, ngoài ra còn sử dụng bao bì hút chân không để tăngthời gian bảo quản cho sản phẩm
3 Nghiên cứu thị trường
Thông qua việc tìm hiểu mức độ ưa thích của một hội đồng cảm quan gồm người bằng phép thử cho điểm thị hiếu ta có kết quả sau:
4 Đánh giá về ý tưởng sản phẩm mới
Trang 41 Bản mô tả về sản phẩm
Tên sản phẩm: BÁNH BAO THIÊN NHIÊNThị trường mục tiêu: những người quan tâm đến ăn uống vì sức khỏe, sở thích, tầng lớp có thu nhập trung bình
Người tiêu dùng: người tiêu dung chỉ cần mua sản phẩm về cho vào nồi hấp hoặc microwave làm nóng lên là có thể sử dụng được, sự tiếp nhận của người tiêu dùng có thể ban đầu sẽ còn thấp nhưng với những lợi ích mà sản phẩm mang lại chắc chắc có thể thu hút được người tiêu dùng
Các thuộc tính chính của sản phẩm: nguyên liệu hoàn toàn từ thiên nhiên, các thành phần có trong rau củ sẽ cung cấp thêm một lượng vitamin,
khoáng, cenllulo cho người tiêu dùng mà vẫn đảm bảo được chất lượng thực sự
Đối thủ cạnh tranh: bánh bao Việt Quán, bánh bao Việt Nhật
Thị trường phân phối sản phẩm: siêu thị và các nhà hàng phong cáchtrung hoa trong và ngoài nước
Giá cả: giá cả dự tính bán cho người tiêu dùng: 20000đvn/ 1 hộp 9 cái; giá của sản phẩm cạnh tranh rất đa dạng: trung bình 1 hộp của các công ty là
từ 10000 – 25000 đvn/1 hộp
Các tính chất cảm quan của sản phẩm: vỏ bánh mềm, mịn, màu sắc
tự nhiên của rau ngọt vừa phải, nhân bánh dẻo, ngọt vừa, màu sắc tự nhiên của củ
và các lọai đậu
Giá dự tính của nguyên liệu: bột làm vỏ bánh: 25000 đvn; rau, củ:
20000 cho một mẻ bánh khoảng 40 cái
Điều kiện bảo quản: bảo quản nơi thoáng mát, có thể để trong ngăn mát của tủ lạnh để bảo quản lâu hơn
Thời hạn sử dụng dự kiến: 3 tháng kể từ ngày sản xuấtPhân phối cho các siêu thị, bán lẻ theo đơn đặt hàng của nhà hàng trong và ngoài nước, chi nhánh bán lẻ
Bao bì: màu sắc nổi bậc nhưng tao nhã Kiểu dáng sang trọng, bao bìđược thiết kế theo từng mùa cụ thể, biểu tượng: hình ảnh rau củ quả, thông tin trênnhãn mác: tất cả những thông tin cần thiết
Quy trình sản xuất và công nghệ bán tự động, cơ giới hóa 1 nữa
2 Phát triễn sản phẩm mẫu
Sản phẩm mẫu được làm tại nhà
3 Kiểm tra sản phẩm mẫu
Trang 5Kiểm tra sản phẩm mẫu bằng phương pháp cho điểm thị hiếu đối với hội đồng cảm quan gồm người
Tiếp theo sau nhà Hán, các triều đại phong kiến Trung Quốc khác thay nhau đô hộ Việt Nam Các triều đại này cố gắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán Tuy nhiên, sau 1000 năm Bắc thuộc, người Việt giành được độc lập vào năm 938
Trong hơn 1.000 năm bị Trung Hoa cai trị, người Việt chịu ảnh hưởng bởi thể chế chính trị, xã hội và văn hóa của các chế độ phương Bắc Trong đó ẩm thực cũng chịu ảnh hưởng một phần không nhỏ, và món bánh bao cũng là một món ăn ra đời tại Việt Nam như thế Trãi qua nhiều thời gian thăng trầm, người Việt đã quen thuộc và sang tạo thêm nhiều loại bánh bao mới đặc trưng cho dân tộc Việt Nam Ngoài bánh bao hấp nhân mặn, ngọt ra, người Việt Nam đã làm ra các lọai bánh bao nướng, bánh bao chiên hay bánh bao mít cũng hấp dẫn không kém
Trung Quốc
Bánh bao (chữ Hán: 包子; bính âm: bāozi) là một loại bánh làm bằng bột
mỳ có nhân và hấp trong ẩm thực Trung Hoa Nó giống với loại bánh màn thầu truyền thống của Trung Quốc Nhân bánh bao được làm bằng thịt và/hoặc rau Bánh bao thường được dùng bất cứ bữa ăn nào trong ngày trong văn hóa Trung Hoa, và thường được ngườiTrung Quốc dùng làm món ăn sáng Theo truyền thuyết, bánh bao do quân sư Zhu
Geliang tạo ra
Các loại bánh bao nổi tiếng của Trung Quốc
Trang 6 Cha siu baau hay Charsiu bau
(Giản thể: 叉烧包, Phồn thể: 叉燒包; Bính âm:
chāshāobāo) hay manapua, có nhân thịt heo xá
xíu
Goubuli baozi (chữ Hán: 狗不理
包子; bính âm: gǒubulǐ bāozi): bánh bao nhân
thịt ở Tianjin; tên nó có nghĩa là, "bánh bao cho
không thèm."
Xiaolongbao (Giản thể: 小笼包,
Phồn thể: 小籠包; Bính âm: xiǎolóngbāo): một
loại bánh bao nhỏ nhân thịt từ Shanghai chứa
nước trái cây
Shengjian mantou (Phồn thể: 生煎饅頭, Giản thể: 生煎馒头; Bính âm: shēngjiān mántóu): một loại bánh bao nhỏ chiên, nhân thịt từ Shanghai
Tangbao (Phồn thể: 湯包, Giản thể: 汤包; Bính âm: tāngbao): một loại bánh bao lớn, có xúp từ Yangzhou, chứa xúp trong nhân khi ăn phải uống nước nhân trước sau đó ăn vỏ
Doushabao (chữ Hán: 豆沙包; bính âm: dòushābāo; Hokkien hay
Tiếng Đài Loan: taosa bau) là một loại bánh bao có nhân đậu đỏ nhừ
LianRong bau (chữ Hán: 莲蓉包; bính âm: liánróngbāo): một loại
bánh bao có nhân hạt sen
Naihuangbao (chữ Hán: 奶黃包; bính âm: nǎihuángbāo): nhân sữa
trứng ngọt màu vàng
Zhima bao loại bánh bao nhân mè đen nhừ.
2 SỰ PHÁT TRIỄN CỦA BÁNH BAO TỪ XƯA ĐẾN NAY
Bánh bao truyền thống từ ngày xưa chủ yếu là các lọai bánh bao hấp, hoặc bánh màn thầu truyền thống của Trung Quốc được sản xuất hòan toàn bằng thủ công, ngay cả trang thiết bị để hấp bánh cũng chỉ là những xửng hấp bằng tre, gỗ,… Nhưng với sự phát triễn không ngừng xã hội ngày một hiện đại hóa thì bánh bao không còn sản xuất theo quy mô hộ gia đình nữa mà sản xuất với số lượng lớn, nồi hấp hiện đại Tất cả các gia đọan trong quá trình sản xuất hầu như được làm bằng máy Và trong tương lai chắc chắc sẽ hoàn toàn được cơ giới hóa, đảm bảo được vấn đề vệ sinh an toàn hơn cho người tiêu dùng cũng như bổ sung thêm các vi chất dinh dưỡng cho họ
Trang 7Xửng hấp bánh cổ truyền Dây chuyền sản xuất bánh bao hiện đại
3 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGUYÊN PHỤ LIỆU
Cây lúa mì
Lúa mì
Trang 8Phân loại khoa học
Lớp (class): Liliopsida
Họ (familia): Poaceae
Phân họ (subfamilia): Pooideae
Tông (tribus): Triticeae
Chi (genus): Triticum
Trang 9Lúa mì hay tiểu mạch (Triticum spp.) là một
nhóm các loài cỏ đã thuần dưỡng từ khu vực
Levant và được gieo trồng rộng khắp thế giới Về
tổng thể, lúa mì là thực phẩm quan trọng cho loài
người, sản lượng của nó chỉ đứng sau ngô và lúa
gạo trong số các loài cây lương thực[2] Hạt lúa mì
là một loại lương thực chung được sử dụng để làm
bột mì trong sản xuất các loại bánh mì; mì sợi,
bánh, kẹo v.v[3] cũng như được lên men để sản
xuấtbia [4]rượu[5] hay nhiên liệu sinh học Lúa mì[6]
cũng được gie trồng ở quy mô hạn hẹp làm cỏ khô
cho gia súc và rơm cũng có thể dùng làm cỏ khô cho gia súc hay vật liệu xây dựng
Việc trồng trọt lúa mì đã bắt đầu lan rộng ra ngoài khu vực Lưỡi liềm Màu mỡ trong thời đại đồ đá mới Vào khoảng năm 3000 TCN, lúa mì đã xuất hiện tại Ethiopia, Ấn Độ, Ireland và Tây Ban Nha Khoảng 1 thiên niên kỷ sau nó tới Trung Quốc[11] Khoảng năm 1000 TCN việc trồng trọt nông nghiệp với sử dụng sức ngựa, trâu, bò cày bừa đã làm gia tăng sản lượng lúa mì, giống như việc sử dụng các máy gieo hạt thay thế cho việc gieo hạt bằng cách rải hạt trong thế kỷ 18.Sản lượng lúa mì tiếp tục tăng lên, do các vùng đất mới được đưa vào khai thác, cũng như do kỹ thuật canh tác của nghề nông tiếp tục được cải tiến với việc sử dụng các loại phân bón, máy gặt, máy đập lúa (máy gặt đập), các loại máy cày đất,máy xới đất, máy trồng cây dùng sức kéo của máy kéo, công tác thủy lợi và phòngtrừ sâu bệnh dịch hại hoàn thiện hơn cũng như việc tạo ra các giống mới tốt hơn (xem thêm Cách mạng xanh và Lúa mì Norin 10) Với tỷ lệ gia tăng dân số trong khu vực sử dụng lúa mì như là loại lương thực chính đang suy giảm, trong khi năng suất vẫn tiếp tục tăng, nên diện tích gieo trồng lúa mì hiện tại đã bắt đầu xu
Lúa mì
Lúa mì
Trang 10hướng giảm và nó là lần đầu tiên diễn ra xu hướng này trong lịch sử loài ngườihiện đại[12] Vào năm 2007, sản lượng lúa mì đã giảm tới mức thấp nhất kể từ năm
1981, và năm 2006 là lần đầu tiên lượng tiêu thụ lúa mì trên toàn thế giới nhiều hơn là sản lượng – một khoảng trống sẽ được tiếp tục dãn rộng do nhu cầu tiêu dùng lúa mì hiện nay đã tăng nhanh hơn mức tăng của sản xuất
Di truyền
Di truyền của lúa mì là phức tạp hơn so với phần lớn các loài thực vật đã thuần dưỡng khác Một số loài lúa mì là dạng lưỡng bội, với 2 bộ nhiễm sắc thể, nhưng nhiều loài là các dạng đa bội ổn định, với 4 hay 6 bộ nhiễm sắc thể (tứ bội hay lục bội).[13]
Lúa mì Einkorn (T monococcum) là dạng lưỡng bội.[1]
Phần lớn các loài lúa mì tứ bội (như lúa mì Emmer (T dicoccon) và lúa mì cứng
(T durum)) có nguồn gốc từ lúa mì Emmer hoang (T dicoccoides) Lúa mì
Emmer hoang (T dicoccoides) là kết quả lai ghép giữa 2 loài cỏ lưỡng bội hoang dại là T urartu và các loài cỏ dê hoang dại như Aegilops searsii hay Ae
speltoides Quá trình lai ghép để tạo ra lúa mì Emmer hoang dại diễn ra trong tự
nhiên, từ rất lâu trước khi có quá trình thuần dưỡng.[13]
Các loài lúa mì lục bội đã tiến hóa trên các cánh đồng của người nông dân Lúa mìEmmer thuần dưỡng hoặc là lúa mì cứng thuần dưỡng lại lai ghép tiếp với một loài
cỏ hoang dã lưỡng bội (Aegilops tauschii) để sinh ra các loài lúa mì lục bội, như
lúa mì spenta và lúa mì thông thường.[13]
Trong các hệ thống nông nghiệp truyền thống thì các quần thể lúa mì thông
thường bao gồm các giống tạp chủng, các quần thể được những người nông dân duy trì một cách tùy tiện và thông thường có sự đa dạng về hình thái và đặc tính rất cao Mặc dù các giống lúa mì này đã không còn được gieo trồng tại châu Âu vàBắc Mỹ, nhưng chúng có thể vẫn còn tầm quan trọng ở những nơi khác Nguồn gốc của các giống lúa mì thuần chủng chính thức có từ thế kỷ 19, khi người ta tạo
ra một dòng giống mới thông qua phương pháp chọn lọc các hạt từ cây có các đặc tính mong muốn Các giống lúa mì hiện đại đã được phát triển trong những năm đầu của thế kỷ 20 và có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của di truyền học Mendel Phương pháp tiêu chuẩn trong gây giống cùng dòng các giống cây trồng của lúa mì là lai ghép chéo giữa 2 dòng bằng cách sử dụng cách ngắt bỏ hoa đực
để tránh hiện tượng tự thụ phấn, sau đó cho chúng tự lai ghép hay lai cùng dòng
các thế hệ sau Các lựa chọn được đồng nhất (để có các gen chịu trách nhiệm cho
các khác biệt về giống) trong 10 hay nhiều hơn các thế hệ trước khi đưa ra như là các giống hay giống cây trồng.[14]
Các giống lai F1 của lúa mì không nên nhầm lẫn với các giống lúa mì thu được từ gây giống thực vật tiêu chuẩn Ưu thế giống lai (như trong các cây lai F1 quen thuộc của ngô) diễn ra trong lúa mì thông thường (lục bội), nhưng rất khó để sản xuất hạt của các giống cây lai ghép ở quy mô thương mại như đã được thực hiện với ngô do hoa lúa mì là hoàn hảo và thông thường nó tự thụ phấn.[14] Hạt giống
Trang 11lúa mì lai ghép ở quy mô thương mại được sản xuất bằng cách dùng các tác nhân lai ghép hóa học, các thuốc điều chỉnh tăng trưởng lúa mì có tác động chọn lọc với
sự phát triển của phấn hoa, hay các hệ thống triệt tiêu khả năng sinh sản hoa đực một cách tự nhiên diễn ra tế bào chất Lúa mì lai ghép chỉ có thành công thương mại hạn chế, ở châu Âu (cụ thể là Pháp), Hoa Kỳ và Nam Phi.[15]
Mục đích chính trong gây gióng lúa mì là năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng kháng bệnh tật và sâu bọ cũng như khả năng chịu các ứng suất vô sinh như chịu
ẩm, chịu nóng hay chịu các chất vô cơ v.v Các bệnh tật chính trong môi trường ônđới là tàn rụi đầu Fusarium, bệnh gỉ sắt ở lá và thân cây, trong khi ở khu vực nhiệt đới là tàn rụi lá Helminthosporium
Bốn loài lúa mì hoang dại cùng với các giống, thứ của lúa mì Einkorn đã thuần dưỡng,[16]lúa mì Emmer[17] và lúa mì spenta,[18] có vỏ bao hạt Đặc trưng hình thái nguyên thủy này bao gồm các mày dai bao bọc chặt lấy hạt, và (ở lúa mì đã thuần dưỡng) là cuống khá giòn dễ dàng gẫy khi đập Kết quả là khi người ta đập các bó lúa mì thì bông lúa gẫy ra thành các bông con Để thu được hạt nhằm có thể xử lý tiếp, như xay hay nghiền, người ta cần loại bỏ các vỏ bao này (trấu) Ngược lại, ở các dạng trần (tự do khi đập) như lúa mì cứng hay lúa mì thông thường, các mày
dễ vỡ còn cuống thì dai Khi đập, lớp trấu tách ra, giải phóng hạt Lúa mì có vỏ bao thường được lưu giữ dưới dạng các bông con do lớp mày dai là sự bảo vệ tốt chống lại các loại sau bọ khi lưu trữ hạt.[16]
hổ phách)
Các loài lúa mì chính được gieo trồng
Lúa mì thông thường — (T aestivum): Loài lục bội được gieo
trồng nhiều nhất trên thế giới
Lúa mì cứng — (T durum): Dạng tứ bội duy nhất được sử
dụng rộng rãi ngày nay và là loài lúa ì được gieo trồng nhiều thứ hai
Lúa mì Einkorn — (T monococcum): Loài lưỡng bội với các
thứ hoang dại và gieo trồng Dạng gieo trồng được thuần dưỡng cùng thời với lúa
mì Emmer, nhưng chưa bao giờ có được tầm quan trọng ngang loài kia
Lúa mì Emmer — (T dicoccon): Dạng tứ bội, được gieo
trồng trong thời kỳ cổ đại nhưng ngày nay không còn được sử dụng rộng rãi
Lúa mì spenta — (T spelta): Một loài lục bội được gieo trồng
với số lượng hạn chế
Kinh tế
Trang 12Lúa mì trong thương mại được phân loại theo các tính chất của hạt đối vớicác mục đích của các thị trường hàng hóa Các nhà buôn lúa mì sử dụng phân loại này để xác định là họ cần mua bán loại lúa mì nào do mỗi loại đều có các công dụng riêng Còn các nhà sản xuất cũng dùng hệ thống phân loại này để xác định họcần sản xuất loại lúa mì nào đem lại nhiều lợi nhuận nhất.
Lúa mì được gieo trồng rộng rãi như là một loại cây trồng thu hoa lợi do
nó có sản lượng lớn trên mỗi đơn vị diện tích, phát triển
tốt trong khu vực có khí hậu
ôn đới ngay cả khi mùa vụ làtương đối ngắn, với bột mì có chất lượng cao và đa dụng, được sử dụng rộng rãi trong sản xuất bánh mì Phần lớn các dạng bánh mì được làm từ bột mì, bao gồm cả nhiều loại bánh được gọi theo tên của các loại ngũ cốc khác có trong các loại bánh đó, như hắc mạch
và yến mạch Sự phổ biến của thực phẩm làm từ bột
mì tạo ra nhu cầu lớn về hạt, thậm chí ngay cả trong các nền kinh tế với thặng dư thực phẩm đáng kể
Năm 2007 đã diễn ra sự tăng giá đáng kể của lúa mì do thời tiết giá lạnh
và ngập lụt ở Bắc bán cầu, khô hạn ở Australia Giá trong tháng 9 năm 2007 để giao lúa mì từ tháng 12 tới tháng 3 năm sau đã tăng khoảng 9 USD,00 mỗi giạ(khoảng 36 lít).[19] Cũng đã diễn ra một số vụ phàn nàn tại Italia về vấn đề giá mì ống tăng cao.[20]
Hạt lúa mì có thể nghiền thành bột, gọi là bột mì hay cho nảy mầm và sấykhô để sản xuất mạch nha, nghiền và loại bỏ cám thành lúa mì vỡ hạt hay bulgur, luộc sơ (hay sấy hơi nước), sấy khô hay chế biến thành bột trân châu, mì ống hay bột đảo bơ (roux) Chúng là thành phần chính trong các loại thức ăn như bánh mì, cháo lúa mì, bánh quy giòn, bánh quy, bánh nướng, bánh ngọt và boza (một loại
đồ uống lên men phổ biến ở Đông Nam Âu)
Dinh dưỡng
100 gam hạt lúa mì đỏ cứng mùa đông chứa
khoảng 12,6 gam protein, 1,5 gam chất béo tổng
cộng, 71 gam cacbohydrat, 12,2 gam xơ tiêu hóa
và 3,2 mg sắt (17% nhu cầu hàng ngày); trong khi
100 gam lúa mì đỏ cứng mùa xuân chứa khoảng
15,4 gam protein, 1,9 gam chất béo tổng cộng, 68
gam cacbohydrat, 12,2 gam xơ tiêu hóa và 3,6 mg
sắt (20% nhu cầu hàng ngày).[23]
Gluten, một loại protein có trong lúa mì (và các
loài khác của Triticeae), là chất gây ra một số tác
Bao lúa mì
Hạt lúa mì vỡ
Trang 13dụng phụ ở những người mắc bệnh tạng phủ (rối loạn tự miễn dịch ở khoảng 1% dân số gốc Ấn-Âu).
3.2 Bột mì
Về mặt năng lượng, bột mì cũng như gạo cung cấp phần lớn năng lượngcho cơ thể hoạt động Do giá thành của tinh bột là rẻ so với chất đạm, chất béo nênđối với các nước nghèo đang phát triển cũng như các vùng dân cư nghèo thì gạo
và bột mì là thực phẩm chủ yếu hàng ngày và nhờ thế mà người dân nghèo có thể đảm bảo được nhu cầu năng lượng hàng ngày của mình Tuy nhiên đối với các nước giàu cũng như người dân thành thị, nơi mà lượng thực phẩm khá đầy đủ thì việc ăn quá nhiều chất tinh bột lại dễ gây béo phì Trong tháp dinh dưỡng, tầng thực phẩm tinh bột được đặt ở đáy với khối lượng lớn nhất Ngày nay cơ cấu này trong tháp dinh dưỡng đã bắt đầu được sửa đổi, phần chất bột được thu nhỏ lại, đặc biệt đôi với các nước mà tỷ lệ béo phì đang tăng cao
Về mặt dinh dưỡng, bột mì cũng được xem xét kỹ lưỡng dưới nhiều góccạnh Bản thân hạt lúa mì rất giàu dinh dưỡng, bao gồm cả chất xơ, các loại
vitamin và khoáng chất Các chất dinh dưỡng này tập trung nhiều ở phần vỏ của hạt lúa mì và vì vậy quá trình xay xát chế biến đã làm tổn thất phần lớn các vi chấtdinh dưỡng này (vitamin và khoáng chất) Hạt lúa mì và bột mì được xay càng kỹ, càng trắng thì càng bị mất nhiều chất dinh dưỡng Nói khác đi, bột mì trắng ít bổ dưỡng hơn bột mì đen
Giá trị dinh dưỡng của bột mì tùy thuộc vào cách chế biến Bột mì sản
xuất từ hạt toàn phần có giá trị dinh dưỡng giống như nguyên liệu Còn loại bột mìtrắng bị mất đi lớp vỏ aloron và mầm nên cũng mất theo nhiều chất dinh dưỡngquan trọng
Protein: Protein bột mì ngoài albumin và globulin còn có prolamin và
glutelin làm cho bột mì có thể dùng làm bánh, yếu tố hạn chế là lysin Các thànhphần dinh dưỡng khác như: glucid, lipid, vitamin và khoáng trong bột mì cũngtương tự như hạt gạo
Về phương diện vệ sinh cần chú ý, bột mì rất dễ hút ẩm và bị mốc Bột
đã bị mốc nói chung không nên dùng để chế biến các loại bánh, bánh mì và mì sợi
%
Chất béo
%
Gluten, % Ướt khô Protein
Hạt 100 1,74 1,51 5,42 62,99 2,06 42,74 15,16 12,51
Trang 14thượng
39,16
16,17
Quá trình chín của bột mì
Trong khi bảo quản bột mì, thường thấy chất lượng của gluten vàchất lượng của bánh thay đổi rất rõ rệt chất lượng gluten và chất lượng bánh của bột mì thượng hạng và hạng nhất bảo quản trong vòng 2-4 tuần đầu ngay sau khi nghiền tăng lên khá rõ Gluten trở nên đàn hồi hơn, ít nhão hơn, dẻo hơn và do đó chất lượng bánh tốt hơn, thể tích của bánh lớn hơn và bánh xốp hơn Quá trình tăng chất lượng gluten và chất lượng bánh khi bảo quản gọi là sự chín của bột mì
Vì sự chín chỉ xảy ra trong giai đoạn đầu bảo quản bột mì, nhất là 2-4 tuần đầu saukhi nghiền hạt thành bột, nên bột mì xuất xưởng bao giờ cũng cần có thời gian tàng trữ nhất định
Sự tăng chất lượng gluten và chất lượng bánh của bột mì trong giai đoạn chín có thể giải thích rằng sau khi nghiền trong bột bắt đầu xảy ra quá trình thủy phân chất béo nhờ tác dụng của enzyme lipaza Các acid béo chưa no tạo thành do kết quả thủy phân( acid oleic, acid linoleic…) có tác dụng mạnh mẽ đến protein gluten, làm gluten chặt hơn, và do đó mà gluten trở nên dẻo và đàn hồihơn trước
Ngoài ra sau mấy tuần lễ bảo quản đầu tiên bột mì trở nên trắng hơn so với lúc xuất xưởng Thành phần sắc tố trong hạt chủ yếu là gồm carotene
và xantofin Carotene rất dễ bị oxy hóa để trở thành sản phẩm không màu ( tạo thành các dẫn xuất của carotene) Bột sẽ trở nên trắng hơn nếu như trong đó đủ lượng oxy cần thiết thực nghiệm cho thấy rằng càng nhiều không khí xâm nhập vào khối bột thì bột càng mau chóng trở nên trắng hơn
Thử độ tươi mới của bột mì
Bột mì để lâu, do tác dụng của oxy, nước, vi sinh vật trong không khí, có thể sinh
ra hiện tượng bị chua, hư hỏng Muốn biết bột mì có còn tươi mới hay không, có thể dùng chất thử hoá học để kiển định đơn giản, như sau:
1 Lấy một bình thuỷ tinh hình nón, dung tích 150ml Cho vào bình 40ml nước cất,
Trang 15rồi cho 5 gam bột mì biết chắc là tươi, mới vào bình, khuấy trộn đều, cho tới khi không còn cục bột nào ở trong nước Tiếp đó nhỏ vào 5 giọt dung dịch chất thử phenolphatalêin, lắc đều Lúc này dung dịch trong bình thủy tinh hình nón là không màu.
Pha loãng dung dịch natri hydroxyt (NaOH) 0,02% dùng ống nhỏ giọt pipet (có khắc vạch trên ống) để hút dung dịch natri hydroxyt 0,02%, nhỏ giọt vào bình hìnhnón Vừa nhỏ, vừa lắc đều bình hình nón cho tới khi dung dịch trong bình chuyển sang màu đỏ nhạt, trong 1 - 2 phút cũng không bị mất màu đó thì dừng lại, ghi số lượng dung dịch natri hydroxyt đã dùng chuẩn độ
2 Sau đó lấy 5g bột mì cần thử độ tươi, mới Cho bột đó vào bình hình nón cùng với 40ml nước cất, 5 giọt phenolphtalêin, khuấy đều, và cũng dùng dung dịch natrihydroxyt 0,02% để chuẩn độ như với bột mì tươi, mới Ghi lại số lượng dung dịch natrihydroxyt khi dung dịch bột trở nên có màu đỏ nhạt, không mất màu trong vòng 1 - 2 phút
Nếu lượng dùng dung dịch natri hydroxyt khi chuẩn độ bột mì cần thử mà tương
tự như lần chuẩn độ bột mì tươi, mới (lần chuẩn độ trên) thì tin chắc bột mì cần thử là tươi, mới; còn nếu dung dịch NaOH nhiều hơn 2,5 lần so với lần chuẩn độ bột mì tươi, mới thì bột mì đã tồn trữ quá lâu, không thể dùng ăn được nữa
Thành phần chủ yếu của bột mì là tinh bột (C6H10O5)n Tinh bột giữ lâu thì dần dần phân giải thành glucose; glucose trong điều kiện thích hợp, lại phân giải thànhcác loại axit hữu cơ Phenolphtalêin không có màu trong dung dịch axit có màu đỏtrong dung dịch kiềm Do hàm lượng axit hữu cơ cao trong bột mì biến chất nên không thể dùng nó để ăn
Vi sinh vật trong bột
Vi sinh vật trong bột do hai nguồn nhiễm: từ hạt( chủ yếu ) và rơi vào từ không khí, từ nước dùng khi xay theo phương pháp ướt hoặc từ các dụng
cụ, máy móc, các đồ chứa đựng…
Hạt dùng để xay bột bao giờ cũng chứa một lượng vi sinh vật nào
đó Trong quá trình nghiền phần lớn các vi sinh vật ở trên bề mặt hạt được chuyển trực tiếp vào bột Số lượng vi sinh vật chuyển vào bột này có liên quan mật thiết với hiệu suất bột Vi sinh vật thường nhiều hơn cả là ở cám, và ở bột có chất lượngcao thì ít vi sinh vật
Trong bột thường có vi khuẩn và nấm mốc Trong số các vi khuẩn
có thể thấy tế bào sinh dưỡng hoặc bào tửi của trực khuẩn khoai tây ( Bacillus Mesentericus) và trực khuẩn cỏ khô (Bacillus Subtilis) Những trực khuẩn này có
lẫn trong bột và sau này gây ra bệnh “khoai tây” ở bánh Ngoài ra, có thể gặp E.coli, nếu dùng nước rửa hạt trong quá trình xay nghiền hạt theo phương pháp ướt không đủ tiêu chuẩn vệ sinh
Trang 16Ảnh hưởng của vi sinh vật đến phẩm chất của bột trong bảo quản
Bột tương đối đủ các chất dinh dưỡng và các vi sinh vật dễ sử dụng các chất dinh dưỡng này để phát triển hơn nữa bột không có tính chất bảo vệ như các hạt nguyên vẹn Vì vậy, chỉ cần nâng độ ẩm và nhiệt độ lên một ít trong bột cũng đủ tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển mạnh mẽ và gây hư hỏng bột
Trong điều kiện độ ẩm tương đối của không khí dưới 79% và nhiệt
độ dưới 200C, độ ẩm của bột dưới 15%, ở điều kiện bảo quản như vậy trong thời
gian dài vi sinh vật không tăng lên mà dần dần chết đi, trước hết là Pseudomonas Herbicola Nếu độ ẩm của bột chỉ cần tăng thêm quá 1-2% thì vi khuẩn và nấm
mốc ở trong sản pẩhm sẽ phát triển rất nhanh
Tùy thuộc vào mức độ và các nhóm vi sinh vật có trong bột phát triển, bột có thể bị những hư hỏng như sau: mốc, tự đốt nóng, chua, ôi
Bột mốc là hiện tượng hỏng của bột hay gặp hơn cả ở đây ta thấy
các mốc Aspergillus, Penicillium mọc ở bột trong điều kiện độ ẩm thấp hơn so với
vi khuẩn
Bột bắt đầu bị mốc ở độ ẩm tương đối cùa không khí từ 80% trở lên.Bột bị mốc trở thành kém phẩm chất, vì mốc sẽ làm cho bột bị hôi
không thể khử được mùi hôi chủ yếu là do mốc Penicillium gây ra Mốc làm tăng
độ acid của bột, do mốc phân hủy chất béo thành acid tự do, đồng thời làm giảm chất lượng của gluten, bị mất tính đàn hồi, khó rửa và thẩm màu
Mốc thường bắt đầu mọc ở lớp ngoài khối bột và dần dần di chuyển sâu vào các lớp trong, rồi gây ra hiện tượng tự đốt nóng
Mốc và tự đốt nóng làm cho bột giảm các chỉ tiêu phẩm chất theo cảm quan, mất tính linh động vì bị vón cục hoặc kết bánh
Bột chua thường bắt đầu từ những lớp bên trong, khác với bột mốc bắt từ những lớp bên ngoài Nguyên nhân gây ra bột chua là do sự phát triển các vikhuẩn lactic hoặc các loài khác, lên men đường có trong bột để tạo thành các acid khác nhau Kết quả là trong bột xuất hiện mùi vị chua đặc trung và độ acid tăng rõ rệt
Đường có trong bột là do enzyme amilaza của bản thân bột và vi khuẩn tác dụng vào tinh bột những vi khuẩn phân hủy tinh bột và tạo thành acid thường có trong bột
Bột ôi do sự oxy hóa chất béo trong bột bằng oxy của không khí cho acid tự do tạo thành và các sản phẩm phân ly chất béo
Các sản phẩm này gây ra cho bột mùi khó chịu và vị ôi
Ngoài ra, chất béo còn bị enzyme lipaza của vi sinh vật phát triển và tạo thành, phân ly chất béo thành các chất hợp phần Chính các sản phẩm của quá trình phân li này cũng làm cho bột có vị ôi
Để bảo quản bột được tốt cần phải bảo quản bột ở độ ẩm không khí dưới 79%, độ ẩm của bột không quá 14-15%, trong điều kiện nhiệt độ ổn định Ở
Trang 17điều kiện này có thể giữ bột được 3-5 tháng, còn ở độ ẩm của bột 10-12% giữ được 1năm.
3.3 Men bánh bao
Saccharomyces
Phân loại khoa học
Giới (regnum): Fungi
Ngành (phylum): AscomycotaPhân ngành
Trang 18vì vậy người ta phải thổi vào bồn lên men một lượng khí rất lớn.
Trong quá trình nuôi cấy nấm men người ta phải kiểm soát lượng mật rỉ nạp vào bồn lên men theo lượng cồn có trong môi trường lên men Nếu lượng mật nạp vào nhiều quá nấm men sẽ không sinh sản mà sẽ thực hiện quá trình lên men tạo ra cồn khiến nồng độ cồn tăng cao và năng suất men sẽ giảm, nhưng nếu lượngmật nạp vào quá ít nấm men sẽ thiếu chất dinh dưỡng cho sinh trưởng
Chất lượng của nấm men phụ thuộc vào công dụng của nó Nếu sản xuấtmen bánh mì thì năng lực sinh khí trong bột (hoạt tính) là thông số cần kiểm soát, nếu nấm men dùng cho công nghiệp cồn thì khả năng sản xuất cồn, khả năng chịu nồng độ cồn cao là quan trọng
Hiên nay nhờ vào tiến bộ của công nghệ gen nên người ta có thể tạo ra các chủng nấm men phù hợp với các công dụng của nó và cho năng suất cao (dựa trên 1 kg nguyên liệu chính) Tuy nhiên công nghệ kiểm soát quá trình lên men vẫn đóng vai trò quan trọng để sản xuất các mẻ men chất lượng và sản lượng cao
Quy trình sản xuất nấm men có thể tóm tắt như sau:
Trang 19Nuôi cấy trong phòng thí nghiệm > Nuôi cấy men giống trong nhà máy > Ly tâm men giống > Nuôi cấy men thương mại > Ly tâm men thương mại > Lọc men > Đóng gói sản phẩm men tươi hoặc sấy khô để có sản phẩm men khô.
Sản phẩm men tươi có thời hạn sử dụng ngắn chỉ vài tuần và phải trữ lạnh, sản phẩm men khô có thời hạn sử dụng dài hơn, thường trên 1 năm nếu đượchút chân không và được trữ trong điều kiện thường
Quá trình sản xuất men sẽ tiêu tốn rất nhiều nước và thải ra môi trường một lượng lớn nước thải với hàm lượng COD và BOD cao đòi hỏi các nhà máy phải trang bị một hệ thống xử lý nước thải
Phân loại men
1 Men lạt: Men dùng cho sản xuất bánh mỳ lạt (Hàm lượng đường thấp) Những chủng men này chỉ sống và phát triển tốt trong môi trường có nồng
Rau ngót hay còn gọi là bồ ngót, bù
ngót, tên khoa học là Sauropus androgynus (L.)
Merr., thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae) Cây
nhỏ cao cỡ 1,5 m phân cành nhiều, mỗi cành
mang 10 - 12 lá hình trứng dài hoặc bầu dục, mọc
so le, xếp thành hai dãy Hoa đơn tính cùng gốc
mọc ở nách lá Quả nang hình cầu dẹp mang đài
hoa màu đỏ Hạt hình ba góc, có vân nhỏ
Phân bố và sinh thái: Rau ngót
có ở nhiều nước Ở Việt Nam, nó mọc hoang và
được trồng khắp nơi
Rau ngót là loại cây dễ trồng Trồng
vào mùa xuân; chọn đoạn thân bánh tẻ, không
giập, không sứt vỏ, còn ngọn, mỗi đoạn hom dài
khoảng 20 - 25 cm Trên lô đất trồng xẻ rãnh rộng 20 - 25 cm, sâu 10 - 15 cm; rãnh nọ cách rãnh kia 40 - 50 cm Trong rãnh đổ bùn ao và mùn rác Cắm hom nghiêng 60 - 700 hoặc cắm thẳng vào đất bùn Mỗi hom cách nhau 15 - 20 cm, rồi lấp đất kín rãnh Sau 10 - 15 ngày, bùn khô dần, hom ra rễ, luôn luôn giữ ẩm vừa phải cho đất không làm đất sũng nước Sau mỗi lần thu hái lá, cần tưới nước tiểu loãng Làm cỏ bằng tay, tránh làm đứt rễ, cây rau ngót sẽ bị xoăn lá Rau ngót ít cần ánh sáng nên có thể tận dụng trồng ở hai bên cạnh hàng rào, dưới tán cây lớn
Trang 20Hàng năm vào mùa xuân, nên đốn sát gốc cũ để cành mọc lại, cây trẻ lâu và cho năng suất cao.
Chế biến làm thực phẩm: rau ngót cũng giống như các loại rau
khác, nghĩa là đun nước cho thật sôi, cho tôm cá vào nồi Người ta thường dùng đọt rau ngót hoặc các lá bánh tẻ để nấu canh với tôm, tép hoặc cá lóc, cá rô, thịt heo nạc Canh rau ngót ăn mát và có vị ngọt rất đặc biệt Cách nấu canh, đun sôi chín rồi mới cho rau vào, đến khi rau chín thì nêm nếm lại bằng bột ngọt và nước mắm chưng (mắm cá lóc hoặc mắm sặc), hương vị nồi canh sẽ rất đậm đà Canh rau ngót được nhiều người ưa thích vì vị ngọt dịu
Người ta đã biết trong lá rau ngót có các thành phần tính theo g%: nước 86,4, protid 5,3, glucid 3,4, cellulose 2,5, khoáng toàn phần 2,4, theo mg%:
calcium 169, phosphor 64,5, sắt 2,7, natrium 25, kalium 457, ? - caroten 6.650, vitamin B1 0,07 và vitamin C 185 Các acid amin thường gặp ở rau ngót là: lysin (0,16), triptophan (1,8), phenilalanin (0,25), treonin (0,35), metionin (0,13), leucin (0,24), isoleucin (0,13), valin (0,17) Với 100 g rau ngót cung cấp cho cơ thể 36 calori
Sử dụng làm thuốc: Người ta thường dùng lá rau ngót chữa ban
sởi, ho, viêm phổi, sốt cao, bí tiểu và dùng tiêu độc Nhân dân quen dùng rau ngót tươi giã đắp lên hai gan bàn chân chữa sót nhau, và giã nát lấy nước cốt rơ vào miệng cho trẻ em chữa tưa lưỡi
- Chữa sót nhau: Lấy một nắm rau ngót, tước lấy lá giã nát đắp vào gan bàn chân hoặc dùng 40 g lá rau ngót, rửa sạch, giã nát, thêm ít nước sôi nguội, vắt lấy lưng bát chia đôi, uống cách nhau 10 phút
- Chữa tưa lưỡi: Dùng 10 - 15 g lá rau ngót tươi giã nát, vắt lấy nước, thấm vào bông đánh lên lưỡi, lợi và miệng trẻ em Sau 2 ngày sẽ bú được
TS VÕ VĂN CHI (nguyên giảng viên Trường đại học y dược
Trang 21Tên khoa học: Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng họ Bầu bí
Đã được ghi vào Dược điển Việt Nam
(1983) và Dược điển Trung Quốc (1963),
Trang 22kính 15-20 cm Vỏ gấc có gai rậm Bổ ra mỗi quả thường có sáu múi Thịt gấc màu đỏ cam Hạt gấc màu nâu thẫm, hình dẹp, có khía Gấc trổ hoa mùa hè sang mùa thu, đến mùa đông mới chín Mỗi năm gấc chỉ thu hoạch được một mùa Do
vụ thu hoạch tương đối ngắn (vào khoảng tháng 12 hay tháng 1), nên gấc ít phổ biến hơn các loại quả khác.Gấc mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước
ta Trồng bằng hạt hay giâm cành vàp các tháng 2 - 3, trồng một năm có thể thu hoạch hàng chục năm Ngay năm đầu đã có quả nhưng ít, càng về sau càng nhiều quả
Gấc giàu các chất carotenoit và lycopen
Thu hái chế biến:
Mua thu hái từ tháng 8 - 9 đến tháng 1 - 2 năm sau Quả chín hái về đem
bổ, vét hạt với cả màng đỏ Nếu để nấu xôi thì dùng tươi trộn với gạo (có thể thêm
ít rượu) Nếu để chế dầu gấc thì phải sấy hay phơi khô tới khi không còn dính tay,bóc lấy màng đỏ tươi rồi lại phơi hay sấy khô ở nhiệt độ thấp (60-70oC) Tán nhỏmàng rồi áp dụng một trong hai phương pháp sau:
1.Chiết bằng dung môi: Lấy kiệt bằng ete dầu hoả Sau đó thu hồi ete bằng đuncách thủy trong khí Nitơ hay khí carbonic Cặn còn lại là dầu gấc Để lâu dầu này
sẽ để lắng một lớp tinh thể caroten thô ở dưới, bên trên là lớp dầu no caroten Tỷ lệdầu trong màng đỏ là 8p100 Trung bình 100kg quả gấc cho độ 1,9l dầu gấc
2.Ép như dầu lạc: màng đỏ đã sấy khô, tán nhỏ, đem đồ lên rồi ép lấy dầu Để lâucũng sẽ phân làm 2 lớp như trên
Dùng cồn 95oC, loại acid tự do trong dầu chế theo 2 phương pháp trên thì đượcdầu chế trung tính
Dầu gấc: Dầu sánh, trong, màu đỏ tím đậm, mùi thơm vị ngọt, vị béo, không khé
cổ Tỉ lệ caroten trên 0,15p100 Nếu có cặn phải là cặn caroten tinh thể Dược điểnViệt Nam (1997) quy định dầu phải chứa ít nhất 0,1p100 b-caroten
Hạt gấc: Khô, già, vỏ ngoài cứng đen, chắc, nặng, mép có răng cưa tù và rộng,trong có nhân trắng ngà, có dầu, không bị thối đen Nguyên hạt, không vỡ nát,không thối nhân, không lẫn tạp chất là tốt
Hiện nay, ta chưa có tiêu chuẩn chất lượng về rễ gấc
Thành phần hoá học: Dầu gấc
1ml dầu gấc có 30mg caroten tương ứng với 50.000 đơn vị quốc tế vitamin A.Hạt gấc: Trong nhân hạt gấc có chất momordin (là một loại saponin), 6p100 nước,2,9p100 chất vô cơ, 55,3p100 chất béo, 16,6p100 chất protid, 2,9p100 đường toàn
bộ, 1,8p100 tanin, 2,8p100 cellulose và 11,7p100 chất không xác định được
Ngoài ra còn có các men phosphatase, invectase và peroxydase
Sử dụng
Trang 23Xôi gấc dùng trong lễ cướiTại Việt Nam, thịt gấc được sử dụng chủ yếu để nhuộm màu các loại xôi, gọi là xôi gấc Vì sắc đỏ nên xôi gấc được chuộng trong những việc khao vọng, đình đám trong các dịp lễ tết hay cưới hỏi Người ta dùng áo hạt (màng hạt) và hạt của
nó đánh với một ít rượu để trộn lẫn với gạo nếp sau đó đem thổi thành xôi, giúp cho món xôi có màu đỏ và thay đổi hương vị
Lá gấc non thái chỉ còn được dùng như một loại gia vị không thể thiếu trong món
củ niễng xào rươi, một món ăn đặc biệt ở miền Bắc
Gần đây, quả gấc đã bắt đầu được tiếp thị ra ngoài khu vực châu Á trong dạng nước ép trái cây bổ dưỡng, dầu gấc do nó có chứa hàm lượng tương đối cao các dinh dưỡng thực vật
Ngoài việc sử dụng trong ẩm thực, gấc còn được sử dụng trong y học tại Việt Nam Màng hạt được dùng để hỗ trợ điều trị bệnh khô mắt, giúp tăng cường thị lực do nó là nguồn khá tốt để bổ sung vitamin A dưới dạng carotenoit Tương tự, trong y học cổ truyền Trung Hoa người ta cũng dùng hạt gấc (mộc miết tử, 木鳖子) cả trong cơ thể lẫn ngoài da Phân tích hóa học của quả gấc cho thấy nó có hàm lượng cao của một số chất dinh dưỡng thực vật, điều này đã gây chú ý cho một số học giả Nhật Bản và phương Tây
Gấc đặc biệt giàu lycopen Theo tỷ lệ khối lượng, nó chứa nhiều lycopen gấp 70 lần cà chua[1] Người ta cũng phát hiện thấy nó chứa beta-caroten nhiều gấp 10 lần
cà rốt hoặc khoai lang[2] Ngoài ra, các carotenoit có mặt trong gấc liên kết với các axít béo mạch dài, tạo ra kết quả là nó có tính hoạt hóa sinh học cao hơn[3] Một nghiên cứu gần đây cho thấy gấc chứa các loại protein có thể ngăn cản sự phát triển của các tế bào ung thư[4]
Thành ngữ
Ở Việt Nam, xôi gấc được cho là xôi quý nên mới có câu: "Ăn mày mà đòi xôi gấc", chỉ những người đòi hỏi những thứ không xứng đáng với bản thân mình
Công dụng:
1 Màng gấc: Nhân dân ta dùng đồ xôi, ăn cả xôi và màng gấc
2 Dầu gấc: Dầu gấc có tác dụng như những thuốc có vitamin A, dùng bôi lêncác vết thương, vết loét, vết bỏng làm cho chóng lành, lên da Uống dầu gấc,người bệnh chóng lên cân, tăng sức chống đỡ bệnh tật của cơ thể, do chất caroten
Trang 24dưới tác dụng của men carotenase có nhiều trong gan sẽ tách b caroten thành haiphần tử vitamin A Dùng cho trẻ em chậm lớn, trong bệnh khô mắt, quáng gà Liều dùng: Dầu gấc: Mỗi ngày 2 lần, uống trước 2 bữa ăn chính mỗi lần ăn chínhmỗi lần 5 giọt, có thể tăng lên 25 giọt Trẻ em 5-10 giọt 1 ngày Dùng ngoài dướidạng thuốc mỡ 5-10p100 dầu gấc hay bôi bằng dầu nguyên chất (chữa bỏng).
3 Hạt gấc: Theo Đông y, hạt gấc vị đắng, hơi ngọt, tính ấm, có độc, dùngchữa các chứng bệnh ung thũng, mụn nhọt độc, tràng nhạt, eczema, viêm da thầnkinh,trĩ, phụ nữ sưng vú Có thể chế thuốc viên hay tán bột uống Liều uống từ0,8-1,2g Nhưng thường dùng đắp ngoài da đồ mụn nhọt Nhân dân ta còn dùng đểđắp chữa chai bàn chân
4 Rễ gấc: Sao vàng, tán mỏng, dùng uống chữa tê thấp sưng chân gọi làPhòng kỷ nam
5 Lá gấc: Viện Đông y dùng lá gấc với tầm gửi đắp ngoài ra làm thuốc tiêusưng tấy
Bài thuốc: Chữa sưng vú, giã nhân hạt gấc với ít rượu đắp chỗ sưng đau.
Lưu ý: Nhân hạt gấc còn gọi là Phiên mộc miết, theo Đông y có tính rất lạnh, ăn
phải thì cấm khẩu nguy hiểm.
3.6. Khoai lang
Khoai lang
Khoai lang nở hoa tại Hemingway, South Carolina
Phân loại khoa học
Giới (regnum): Plantae