1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx

32 433 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Tác giả Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Trung tâm Phân Tích và Dự báo (thuộc Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam), Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (CIEM), Đại học Kinh tế (thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội), Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Trung tâm Thông Tin và Dự báo Kinh Tế - Xã Hội Quốc Gia (thuộc Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư), Trung tâm Nghiên Cứu Chính Sách Và Phát Triển (DEPOCEN – Trung tâm Nghiên Cứu Độc Lập), Nhóm Tư Vấn Chính Sách Kinh Tế Vĩ Mô
Người hướng dẫn Nguyễn Văn Giàu - Chủ nhiệm Ủy Ban Kinh Tế Quốc Hội, Giám đốc - Nguyễn Văn Phúc, Chủ nhiệm Ủy Ban Giám Sát Tài Chính Quốc Gia, Phó Chủ nhiệm - Nguyễn Minh Sơn, Chủ trì biên soạn - Nguyễn Trọng Dũng
Trường học Hà Nội University of Social Sciences and Humanities
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Bản tin
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hỗ trợ thực hiện Dự án là mạng lưới các Viện, Trường, Trung tâm nghiên cứu kinhtế, bao gồm Viện Kinh tế Việt Nam, Trung tâm Phân tích và Dự báo thuộc ViệnKhoa học Xã hội Việt Nam, Viện N

Trang 1

l Kinh tế thế giới: Đang đối mặt với nhiều rủi ro lớn về mất cân đối vĩ mô và tài chính toàn cầu; nguy cơ khủng hoảng kép gắn với suy thoái kinh tế.

2011 đã xuất hiện một số dấu hiệu tích cực.

án tối ưu khắc phục khủng hoảng nợ công Dấu hiệu suy thoái kinh tế từ quý IV/2011.

đã hạn chế nỗ lực khôi phục lại đà tăng trưởng kinh tế.

nguy cơ khủng hoảng nợ do chính quyền các tỉnh vay quá nhiều, thị trường bất động sản đi vào chu kỳ suy thoái.

vững chắc nhưng tăng trưởng kinh tế đang trên đà suy giảm v.v

l Kinh tế tăng trưởng khá, cán cân thanh toán thặng dư và thâm hụt ngân sách

so với GDP giảm.

l Lạm phát thực tế và kỳ vọng lạm phát đã có xu hướng giảm tốc rõ nét.

l Tuy nhiên, lạm phát vẫn cao đi liền với lãi suất cho vay cao và đã xuất hiện những khó khăn trên thị trường lao động

l Cần tiếp tục kiên định thực hiện gói giải pháp kiềm chế lạm phát và bình ổn kinh tế vĩ mô, và thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế

KINH TẾ VIỆT NAM QUÝ IV VÀ CẢ NĂM 2011

TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2012 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

ỦY BAN KINH TẾ CỦA QUỐC HỘI

Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực 

tham mưu, thẩm tra và giám sát 

chính sách kinh tế vĩ mô” 

37 Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội

Trưởng Ban chỉ đạo:

Nguyễn Văn Giàu -Chủ nhiệm UBKT

Ban Quản lý Dự án:

Trang 2

Dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh

tế vĩ mô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật

của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Mục tiêu của Dự án là nângcao năng lực các cơ quan tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩmô thông qua các hoạt động: (i) tập huấn/đào tạo nâng cao năng lực; (ii) thực hiệnnghiên cứu, đối thoại chính sách về những vấn đề kinh tế vĩ mô; (iii) tăng cườngvà thể chế hóa cơ chế phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan thụ hưởng dự án, baogồm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chínhphủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia và Viện Khoahọc Xã hội Việt Nam

Hỗ trợ thực hiện Dự án là mạng lưới các Viện, Trường, Trung tâm nghiên cứu kinhtế, bao gồm Viện Kinh tế Việt Nam, Trung tâm Phân tích và Dự báo (thuộc ViệnKhoa học Xã hội Việt Nam), Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM),Đại học Kinh tế (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), Đại học Kinh tế quốc dân HàNội, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội quốc gia (thuộc Bộ Kế hoạchvà Đầu tư), Trung tâm Nghiên cứu chính sách và phát triển (DEPOCEN – Trungtâm nghiên cứu độc lập) và Nhóm tư vấn chính sách kinh tế vĩ mô (MAG).Bản tin Kinh tế vĩ mô là một trong những sản phẩm quan trọng của Dự án, đượcthực hiện trong khuôn khổ phối hợp giữa Dự án và Viện Khoa học Xã hội ViệtNam với mục đích cung cấp những phân tích, đánh giá tóm lược về xu hướng vànhững động thái chủ yếu của kinh tế thế giới cũng như cập nhật tình hình kinhtế vĩ mô Việt Nam. Đối tượng phục vụ chính của Bản tin Kinh tế vĩ mô là các cơquan  thụ  hưởng  Dự  án,  các  Đại  biểu  Quốc  hội,  nhà  nghiên  cứu,  hoạch  địnhchính sách kinh tế vĩ mô

GIỚI THIỆU

Trang 3

TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI QUÝ IV VÀ NĂM 2011

TỔNG QUAN Trong năm 2011, nền kinh tế thế giới đã gặp rất nhiều khó khăn và thách

thức với một số vấn đề kinh tế nổi bật chủ yếu sau đây:

Hệ thống tiền tệ vận hành trục trặc, khủng hoảng nợ công châu Âu làm rung chuyển hệ thống kinh tế toàn cầu Chỉ số tín nhiệm của

nhiều nước bị hạ cấp, nhất là các nước châu Âu Nhật Bản ngay từ tháng1/2011 đã bị Standard & Poor's hạ cấp tín dụng từ “AA” xuống “AA-“ vàđến tháng 4/2011 lại chịu đánh giá tiêu cực về nợ công Mỹ - nền kinh tếlớn nhất thế giới - cũng bị hạ cấp tín nhiệm vào tháng 8 với cuộc biểu tình

“Chiếm phố Wall” Tại châu Âu, hầu hết ngân hàng các nước bị hạ cấp độtín nhiệm tín dụng do sa lầy vào khủng hoảng nợ công khiến khu vực đồngEuro gặp khó khăn nghiêm trọng;

Khó khăn kinh tế đã góp phần gây ra khủng hoảng chính trị tại nhiều quốc gia. Nhật Bản liên tục thay hai Thủ tướng chỉ trong vòng một

năm, còn châu Âu trong 6 tháng cuối năm 2011 đã có tới 6 nước tiến hànhthay đổi lãnh đạo;

Triển vọng tăng trưởng toàn cầu liên tục bị hạ thấp. Báo cáo “Triển

vọng kinh tế thế giới” ngày 20/11/2011 của IMF đã hạ thấp tăng trưởngthế giới còn 4% năm 2012, và vào giữa tháng 1/2012 thì WB cho rằng tăngtrưởng toàn cầu sẽ giảm chỉ còn 2,5% năm 2012

Hình 1 Thực trạng diễn biến kinh tế thế giới năm 2011 và triển vọng năm 2012

Nguồn: Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới

(WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Trang 4

Mặc dù vào những tháng cuối năm kinh tế Mỹ có một số tín hiệu tích cực,song bức tranh kinh tế tổng thể của cả năm 2011 nhìn chung là ảm đạm,tình trạng suy thoái kép được cho là đã và đang bắt đầu với những biểu hiệncụ thể sau đây:

Tăng trưởng nhưng không tạo ra việc làm: tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 11

đã giảm xuống 8,6%, so với 9,0% trong tháng 10 và 9,6% của năm 2010nhưng tỷ lệ người lao động có việc làm trên tổng dân số hầu như khôngtăng;

Chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng giảm vào quý III /2011 nhưng vẫn ở mức cao với tỷ lệ lạm phát hàng năm trong tháng 11 đã giảm xuống còn 3,4%; Thị trường nhà ở cuối năm có dấu hiệu tích cực hơn: số dự án về nhà ở của

tư nhân tháng 11 đã tăng 9,3% so với tháng 10 và đạt mức cao nhất kể từtháng 4/2010, trong đó số căn hộ mới khởi công tháng 11/2011 cũng tăng32,2%, sau khi giảm 20,2% vào tháng 10/2011 Số lượng giấy phép xây dựngcũng tăng 20,7% so với năm 2010;

Thâm hụt ngân sách và nợ công vẫn là vấn đề nan giải Bên cạnh đó, với

dự báo của Fitch về việc nợ liên bang của Mỹ sẽ có thể tăng lên tới 90%GDP khiến Hoa Kỳ đứng trước nguy cơ bị hạ bậc tín nhiệm Trong khi tổchức Fitch Ratings cho tới cuối tháng 11/2011 vẫn quyết định giữ nguyênmức xếp hạng đối với nợ dài hạn của Mỹ thì tổ chức Standard & Poor’s vàongày 29/11/2011 đã đưa ra quyết định hạ bậc tín dụng đối với nhiều ngânhàng lớn ở Mỹ như Citigroup, Goldman Sach, JPMorgan Chase v.v

Tình hình tài chính căng thẳng ở châu Âu sẽ gây áp lực đối với nền kinh tế Mỹ: Khủng hoảng nợ công ở châu Âu có thể khiến kinh tế Mỹ thiệt

hại nặng nề bởi hiện nay Mỹ vẫn là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại châuÂu, nhiều công ty đa quốc gia Mỹ sẽ phải đối mặt với những khó khăn thựcsự do khủng hoảng nợ công ở châu Âu gây ra

Kinh tế Mỹ

Hình 2 Diễn biến kinh tế vĩ mô của Mỹ năm 2011 và triển vọng 2012

Nguồn: Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) dựa theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế

giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (FED).

Trang 5

Cơ quan giám sát ngân hàng châu Âu (EBA) vào đầu tháng 12 đã đề nghịcác ngân hàng châu Âu phải bổ sung vốn thêm 114,7 tỷ Euro (152 tỷ USD)để đứng vững trong cuộc khủng hoảng nợ công và giúp khôi phục niềm tincủa thị trường. Trong những đợt sát hạch ngân hàng mới mà EBA dự kiếntiến hành, có thể có tới 68 trong tổng số 91 ngân hàng không thể vượt quavà sẽ phải tăng thêm vốn.

Tuy nhiên, các biện pháp đối phó trên vẫn chưa cho thấy kết quả nào thực sựtích cực Nhìn chung, cả khu vực EU trong năm 2011 đều đã gặp khó khănkinh tế nghiêm trọng, trong đó nguy cơ lớn nhất rơi vào khu vực đồng Euro.Các vướng mắc trong giải quyết cuộc khủng hoảng nợ công cho thấy sự bấtđồng nội bộ nghiêm trọng giữa các nước thành viên khu vực EU khiến chotương lai phát triển của EU, đặc biệt là tương lai của đồng Euro trở nên bấtđịnh Các chỉ báo cho thấy cuộc khủng hoảng nợ châu Âu sẽ tiếp tục kéo dàitrong năm 2012 và có nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát

Khu vực EU năm 2011 đã gặp nhiều khó khăn về kinh tế, đặc biệt là khủnghoảng nợ công và sự thiếu đồng thuận giữa các thành viên Đến hết năm

2011, khủng hoảng nợ công châu Âu đã khiến 5 chính phủ thành viên bị

áp dụng nhiều biện pháp mạnh mẽ để ứng phó:

Ngày 3/11/2011, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hạ lãi suất cơ bảnđồng Euro xuống mức 1,25%; khi khủng hoảng nợ của châu Âu trở nêncăng thẳng hơn, ECB hạ lãi suất áp dụng với tiền gửi xuống 0,5% và lãisuất cho vay xuống 2%;

Ngày 20/11, khu vực EU đã nhất trí tăng ngân sách năm 2012 khoảng2%, tương đương 174 tỷ USD, thấp hơn nhiều so với đề nghị của Nghịviện châu Âu là 5%;

Ngày 15/11, khu vực EU công bố đề xuất chấn chỉnh hoạt động của cáccông ty xếp hạng tín dụng (CRA) nhằm giảm sự phụ thuộc quá mức vàocác công ty này cũng như cải thiện chất lượng của quy trình xếp hạng;Nhiều quốc gia châu Âu tiếp tục những biện pháp cắt giảm thâm hụt ngân

Kinh tế khu vực EU

Hình 3 Diễn biến kinh tế vĩ mô của khu vực EU năm 2011 và triển vọng 2012

Nguồn: Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới

(WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

1 Chính phủ Hy Lạp, Italia và Tây Ban Nha đều sụp đổ trong tháng 11/2011 và trước đó không lâu là Chính phủ Ireland và Bồ Đào Nha đã phải ra đi sau khi nhận giải cứu.

2

Tiếp theo sau Ireland, Hy Lạp, Bồ ÐĐào Nha, Italy, và Tây Ban Nha, đến lượt Pháp cũng chủ động tiến hành cắt giảm thâm hụt ngân sách và tái cơ cấu nền kinh tế.

Trang 6

Kinh tế Trung Quốc trong năm 2011 có một số động thái đáng chú ý sau đây:

Lạm phát tháng 11 tiếp tục giảm mạnh Chỉ số giá tiêu dùng CPI trong tháng

11 đạt 4,2% so với cùng kỳ, tức là giảm đến 1,3 điểm phần trăm so với tháng

10 Như vậy kể từ khi đạt mức kỷ lục 6,5% trong tháng 7, chỉ số giá tiêu dùngCPI đã liên tục suy giảm và mức độ suy giảm ngày càng lớn: chỉ số CPI tháng

8 là 6,2%, tháng 9 là 6,1%, tháng 10 là 5,5% và tháng 11 là 4,2% Mặc dùvậy, tính chung cho cả 11 tháng đầu năm, chỉ số CPI vẫn tăng 5,5% so vớicùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mục tiêu đề ra là 4%

Lạm phát liên tục hạ nhiệt tháng thứ 4 liên tiếp, cộng với thực trạng dòngvốn nước ngoài chảy vào Trung Quốc đã chậm lại trong những tháng gần đây

đã khiến Trung Quốc điều chỉnh, nới lỏng chính sách tiền tệ sau khi liên

tiếp thắt chặt trong nửa đầu năm nay Ngày 30/11/2011, Ngân hàng Nhândân Trung Quốc tuyên bố kể từ ngày 5/12/2011 giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộcxuống 0,5 điểm phần trăm Sau điều chỉnh, tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở các ngânhàng lớn là 21% và ở các ngân hàng vừa và nhỏ là 17,5%

Thị trường bất động sản trầm lắng và đi vào chu kỳ suy thoái Giá nhà đất

giảm nhưng vẫn cao, thanh khoản rất kém và các khoản nợ đến hạn phảithanh toán đang tăng

Khủng hoảng nợ do chính quyền các tỉnh vay nợ quá nhiều Đến cuối tháng

6/2011, nợ đã lên tới 10.700 tỷ Nhân dân tệ, tương đương với 27% GDP năm

2010 của Trung Quốc

Động đất và sóng thần là vấn đề nghiêm trọng nhất của Nhật Bản trongnăm 2011 Tuy nhiên, kinh tế Nhật Bản đã phục hồi chỉ vài tháng sauthảm họa, chủ yếu do sự khôi phục mạnh mẽ của hoạt động sản xuất vàxuất khẩu, đặc biệt là sự cải thiện của ngành công nghiệp xe hơi, nhưngvẫn thấp hơn so với năm 2010 Thêm vào đó là tác động tiêu cực của lũ lụt

ở Thái Lan tháng 10 và khủng hoảng nợ công châu Âu khiến cho triển vọng

Kinh tế Nhật Bản

Hình 4 Diễn biến kinh tế vĩ mô của Trung Quốc năm 2011 và triển vọng 2012

Nguồn: Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) dựa theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế

giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng TW Trung Quốc.

Kinh tế Trung Quốc

Trang 7

kinh tế cuối năm không mấy sáng sủa Đó là sự sụt giảm mạnh của thặng

dư tài khoản vãng lai, nợ công vượt 1 triệu tỷ Yên, chứng khoán giảmmạnh, thị trường tiếp tục khó khăn Nhật Bản đã phải thực hiện chínhsách tài khóa hướng tới thúc đẩy tăng trưởng với các nội dung:

Nới lỏng chính sách tiền tệ, lãi suất cơ bản được duy trì ở mức 0-0,1% và

duy trì chính sách tiền tệ “siêu lỏng” để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;

Quốc hội thông qua dự luật tăng thuế khẩn cấp trong tháng 11, cho phép

tăng các loại thuế thu nhập trong 25 năm tới, nhằm đảm bảo nguồn vốncho tái thiết các khu vực bị tàn phá bởi thảm họa động đất, sóng thần Giữatháng 11/2011, Quốc hội Nhật Bản đã thông qua dự thảo ngân sách bổ sunglần thứ 3 tài khóa 2011 có tổng trị giá lên tới 12.000 tỷ Yên (hơn 154,5 tỷUSD) để tài trợ cho các hoạt động tái thiết toàn diện các khu vực thảm họavà hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đối phó với tình trạng đồng Yêntăng giá

Mặc dù tăng trưởng kinh tế của khu vực NICs châu Á (NIAEs) gồm các nềnkinh tế như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan (Trung Quốc), và Hồng Kông(Trung Quốc) đã suy giảm rất mạnh trong năm 2011 nhưng tỷ lệ thấtnghiệp của khu vực này lại có xu hướng giảm dần (hệ số co giãn của laođộng với tăng trưởng là kém co giãn) Điều này có thể được lý giải mộtphần bởi sự phổ biến đặc điểm thâm dụng công nghệ trong các ngành củakhu vực NICs châu Á, khiến cho khi kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái thìmột phần không nhỏ luồng vốn đầu tư ra nước ngoài của khu vực NICs cóthêm điều kiện thuận lợi quay trở lại đầu tư vào thị trường nội địa, giúptăng thêm việc làm cho nền kinh tế Bên cạnh đó, cán cân vãng lai củakhu vực NICs châu Á luôn ở trạng thái thặng dự lớn đi kèm với thặng dưngân sách và tỷ lệ lạm phát thấp cũng như tỷ lệ nợ công quốc gia so vớiGDP thấp Chính môi trường kinh tế vĩ mô tương đối ổn định và vững chắccủa khu vực NICs châu Á trong năm 2011 là điều kiện cần cho sự phục hồiđà tăng trưởng kinh tế trong năm 2012

Kinh tế khu vực NICs châu Á

Hình 5 Diễn biến kinh tế vĩ mô của Nhật Bản năm 2011 và triển vọng 2012

Nguồn: Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) dựa theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế

giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng TW Nhật Bản (BOJ).

Trang 8

Nguồn: Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) dựa theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế

giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng TW các nước khu vực MENA.

Hình 7 Diễn biến kinh tế vĩ mô của khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA) trong

năm 2011 và triển vọng 2012

Biến động chính trị, xã hội tại Bắc Phi - Trung Đông năm 2011 đã và đangthách thức nền kinh tế thế giới cũng như kinh tế khu vực Mặc dù vậy, vẫncó những quốc gia trở thành điểm sáng của khu vực Điển hình là Thổ NhĩKỳ tuy phải trải qua trận động đất lớn hồi tháng 10 nhưng vẫn nỗ lực khắcphục khó khăn và hướng tới vị trí dẫn đầu khu vực với chính sách cải cách

cơ cấu trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tiếp tục đẩy nhanh quá trình

tư nhân hoá v.v… dẫn tới kết quả tăng trưởng đạt trên 10% trong năm 2011.Bên cạnh đó, vấn đề khủng hoảng của Syria, Iran v.v… đã và đang ảnhhưởng xấu đến kinh tế khu vực và thế giới Về tổng thể, tăng trưởng kinhtế của toàn châu Phi vẫn đạt mức 5%, cao hơn nhiều so với mức 4,7% củanăm 2010 là do những nguyên nhân chủ yếu sau: (i) tiến trình nhất thểhóa kinh tế toàn châu Phi đã có bước tiến to lớn; (ii) nhân tài ở nước ngoàitrở về châu Phi làm việc ngày càng nhiều hơn; và (iii) đầu tư nước ngoàivào châu Phi nhiều

Hình 6 Diễn biến kinh tế vĩ mô của NICs châu Á năm 2011 và triển vọng 2012

Nguồn: Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới

(WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng TW của các nền kinh tế NICs.

Kinh tế châu Phi, Trung Đông

Trang 9

Trong quý IV/2011, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định Cả bốn chỉ số vĩ mô

tổng hợp thường được dùng để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế vĩ mô: (i) tăng trưởng kinh tế; (ii) lạm phát; (iii) cán cân thanh toán; và (iv) lao động và việc làm, đều được cải thiện trong quý IV/2011 Tuy lạm phát thực tế vẫn còn ở mức cao song kỳ vọng lạm phát đã giảm đáng kể Tuy nhiên các kết quả đạt được còn chưa vững chắc và vẫn còn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn.

Điểm sáng nổi bật nhất của nền kinh tế trong năm 2011 là thâm hụt thươngmại đã giảm đáng kể, góp phần tạo nên thặng dư trong cán cân thanh toán,và qua đó giúp cải thiện dự trữ ngoại hối quốc gia, ổn định thị trường ngoạihối Việc duy trì và củng cố tăng trưởng trong nông nghiệp cũng là điểmsáng quan trọng giúp ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội.Song dấu ấn lớn nhất của năm 2011 là những điều chỉnh chính sách vĩ môquan trọng, đặc biệt là gói giải pháp giảm tổng cầu và bình ổn kinh tế vĩmô (Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011), cũng như các định hướng lớn vềtái cơ cấu nền kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả, và qua đó tác động lên tổngcung trong trung và dài hạn (đã được Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hànhTrung ương Đảng khoá 11, tháng 10/2011 thông qua), trên cơ sở đó Quốchội khóa XIII, tại Kỳ họp thứ 2 đã thể chế hóa thành nhiệm vụ trọng tâmcủa Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội 2011-2015 và năm 2012 Nghịquyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội năm 2012 đặt

ra mục tiêu tổng quát cho năm 2012 là ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn địnhkinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hìnhtăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sứccạnh tranh Cụ thể, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6-6,5%,kim ngạch xuất khẩu tăng 13%, nhập siêu khoảng 11-12% trên tổng kimngạch xuất khẩu, bội chi ngân sách phấn đấu dưới 4,8% GDP, tổng nguồnvốn đầu tư phát triển xã hội khoảng 33,5% GDP và chỉ số giá tiêu dùng tăngdưới 10%

Sang năm 2012, Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức, nổibật nhất là lãi suất cho vay phổ biến vẫn còn ở mức cao trong bối cảnhthanh khoản của hệ thống ngân hàng còn căng thẳng và nợ xấu có xu hướnggia tăng, dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệpgặp khó khăn trầm trọng Những dấu hiệu khó khăn của thị trường lao độngcũng có xu hướng ngày càng rõ nét, đặc biệt là số người đăng ký thất nghiệpcó xu hướng gia tăng

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang dần hồi phục, một phần nhờ vào sự hồi phục mạnh của tăng trưởng xuất khẩu và tiêu dùng cuối cùng của dân cư Tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong quý IV và cả năm 2011 tiếp tục được ghi nhận đóng vai trò giảm sốc khá hiệu quả cho nền kinh tế trong thời kỳ kinh tế khó khăn.

DIEãN BIẾN CÁC

CHỉ SỐ KINH TẾ

VĨ MÔ CHÍNH

Tăng trưởng kinh tế

KINH TẾ VIỆT NAM QUÝ IV VÀ CẢ NĂM 2011

TỔNG QUAN

Trang 10

Sau khi cán mức đáy trong quý II, nền kinh tế Việt Nam đã dần khôi phụcđà tăng trưởng và đạt mức tăng trưởng khá cao 6,07% trong quý IV/2011,trong đó phải kể đến sự đóng góp đáng kể của tăng trưởng khu vực nôngnghiệp và khu vực dịch vụ Kết quả khả quan về tăng trưởng kinh tế quýIV/2011 được đánh giá là nhờ tác động cộng hưởng tích cực với độ trễ củaviệc thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ

Trong năm 2011, mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức5,89% (chỉ cao hơn tăng trưởng năm 2009 trong giai đoạn 2008-2011) songđây là mức rất đáng ghi nhận trong so sánh với nhiều nước khác ở châu Ávà trên thế giới Mức tăng trưởng này cần được nhìn nhận tích cực trong bốicảnh tổng đầu tư bị cắt giảm mạnh từ mức cao 41,9% GDP trong năm 2010xuống chỉ còn 34,6% GDP trong năm 2011 do Chính phủ tập trung ưu tiêncho nhiệm vụ kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Như vậy là hiệuquả sử dụng vốn cũng được cải thiện, với sự giảm đáng kể của chỉ số ICORtừ mức 6,2 năm 2010 xuống 5,9 trong năm 2011

Xét từ góc độ tổng cầu, kết quả tăng trưởng kinh tế khả quan năm 2011 củaViệt Nam được dẫn dắt chủ yếu bởi động lực tăng trưởng của yếu tố xuấtkhẩu (trong đó, xuất khẩu nông nghiệp đạt kết quả hết sức ấn tượng) và yếutố tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng (đặc biệt là của khu vực dân cư) Nhìn từgóc độ cơ cấu ngành, mặc dù tăng trưởng ở khu vực công nghiệp và xây dựng(đóng góp 2,32 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) cũng như khu vựcdịch vụ (đóng góp 2,91 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung) đều giảmtốc trong năm 2011 song khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản với mứctăng trưởng khoảng 4% (mức cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây và đónggóp tới 0,66 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế) được coi là một điểmsáng, đóng vai trò giảm sốc khá hiệu quả cho nền kinh tế, do đóng góp vàotăng trưởng, kiềm chế lạm phát (thông qua kiềm chế sự gia tăng giá của cácmặt hàng lương thực – thực phẩm) và bảo đảm thu nhập cho người dân ởkhu vực nông thôn Kết quả này có nguyên nhân quan trọng là sự điều hànhkịp thời và quyết liệt của Chính phủ trong nỗ lực tập trung phân bổ và sửdụng hiệu quả hơn nguồn lực quốc gia để hỗ trợ khu vực này, cũng như nhờvào giá cả xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp trên thị trường thế giới tăngmạnh trong năm 2011

Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) dựa trên dữ liệu

của Tổng cục Thống kê, 2011.

Hình 8 Biến động tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2011

Trang 11

Trong năm 2011, không chỉ lạm phát chung mà còn cả lạm phát cơ bản của nền kinh tế Việt Nam cũng ở mức rất cao, với nguyên nhân liên quan từ tổng cầu do thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá nới lỏng trong nhiều năm, cũng như từ tổng cung do những yếu kém nội tại bắt nguồn từ bản thân cơ cấu nền kinh tế và mô hình tăng trưởng

Mặc dù trong quý IV/2011, tỷ lệ lạm phát theo tháng và lạm phát theo nămcủa nền kinh tế Việt Nam đều tiếp tục biến động tích cực theo xu hướnggiảm tốc nhưng cho đến thời điểm cuối của năm 2011 thì tỷ lệ lạm phátchung vẫn được ghi nhận ở mức tương đối cao 18,13% so với tháng 12 nămtrước (và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2011 tăng 18,58% so với bìnhquân năm 2010) Mức tăng 18,13% được quy chủ yếu cho sự gia tăng của chỉsố giá nhóm thực phẩm, tiếp đến là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, kếtiếp là nhóm ăn uống ngoài gia đình, nhóm giao thông, nhóm lương thực vànhóm giáo dục Lạm phát cao không chỉ khiến cho Việt Nam rơi vào nhóm

4 nước có tỷ lệ lạm phát cao nhất thế giới (sau Kenya: 18,93%; Tanzania:19,8%; và Venezuela: 26%) mà còn làm gia tăng đáng kể áp lực về bất ổnkinh tế vĩ mô ở Việt Nam trong năm 2011

Những nguyên nhân chủ yếu khiến lạm phát của Việt Nam tăng cao trongnăm 2011 bao gồm cả nhóm nguyên nhân nội tại của nền kinh tế (mangtính quyết định) và nhóm nguyên nhân bên ngoài Do lạm phát cơ bản củaViệt Nam năm 2011 ở mức cao hai con số nên một trong những nguyênnhân chính trong ngắn hạn có nguồn gốc từ chính sách tiền tệ và chính sáchtài khóa mở rộng kéo dài trong trong nhiều năm qua, dẫn đến sự mở rộngnhanh của tổng cầu Trong khi đó tổng cung lại không theo kịp do nhữngyếu kém nội tại của nền kinh tế, với tăng trưởng chủ yếu dựa vào sự gia tăng

Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) theo Tổng cục Thống kê, 2011.

Hình 9 Biến động của chỉ số giá tiêu dùng CPI theo tháng ở Việt Nam năm 2011Lạm phát

Trang 12

của các nguồn lực đầu vào Các nguyên nhân quan trọng khác mang tính cơcấu và dài hạn được tích tụ trong nhiều năm và có độ trễ trong ảnh hưởngnhư thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại ở mức cao và kéo dài daidẳng, hiệu quả đầu tư (đặc biệt là đầu tư công) cũng như năng lực cạnh tranhquốc gia và năng suất lao động thấp, và những hạn chế trong việc tăng sảnxuất lương thực - thực phẩm khi giá cả các sản phẩm này tăng cao Kỳ vọngbất lợi về lạm phát do ký ức sâu về lạm phát cao trong những năm gần đâycũng được xem là một nhân tố quan trọng dẫn tới lạm phát cao năm 2011.

Trong năm 2011, cán cân thanh toán tổng thể của nền kinh tế đã có bướccải thiện rất tích cực và chuyển sang thặng dư (khoảng 3,1 tỷ USD) Đâycũng là điểm sáng của năm 2011 vì cán cân thanh toán tổng thể trong mộtvài năm gần đây bị thâm hụt đáng kể (năm 2009 cán cân thanh toán tổngthể đã thâm hụt tới 8,8 tỷ USD và năm 2010 cũng thâm hụt 3,07 tỷ USD).Đạt được kết quả này là nhờ sự cải thiện đáng kể của cả cán cân vãng laicùng với cán cân vốn và tài chính trong năm 2011

Cán cân vãng lai đã được cải thiện đáng kể và đã chuyển từ thâm hụt

năm 2010 sang thặng dư năm 2011 Kết quả tích cực này đạt được chủ yếulà do sự cải thiện đáng kể của cán cân thương mại hàng hóa (thâm hụtkhoảng 9,5 tỷ USD, mức thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, và chỉbằng 9,9% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, so với chỉ tiêu 16% được Quốchội đặt ra), và cán cân thương mại dịch vụ (thâm hụt khoảng 2,98 tỷ USD,tăng 21,1% so với năm 2010)

Về cán cân thương mại hàng hóa, trong năm 2011, tốc độ tăng trưởng kim

ngạch xuất khẩu hàng hóa lớn hơn nhiều so với tăng trưởng kim ngạch nhậpkhẩu hàng hóa Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng giá trị kim ngạchxuất khẩu hàng hóa trong năm 2011 ước thực hiện đạt mức 96,257 tỷ USD,tăng khoảng 33,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tếtrong nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tươngứng đóng góp là 41,8 tỷ USD (tăng 26,1% so với năm trước) và 54,5 tỷ USD(tăng 39,3%) Sự tăng trưởng mạnh của kim ngạch xuất khẩu hàng hóa củaViệt Nam năm 2011 chủ yếu là do sự đóng góp của yếu tố tăng giá với đơngiá của nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới

yếu tố tăng giá thì tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Namtrong năm 2011 chỉ tăng 11,4% so với mức cùng kỳ năm trước Chính vìvậy, trong năm 2011 nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận thành tích đángkhích lệ của việc có tới 14 mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch xuất

Cán cân thanh toán quốc tế

3 Những mặt hàng xuất khẩu có mức tăng giá đáng kể là hạt tiêu tăng 65%, cà phê tăng 44%, hạt điều tăng 42%, dầu thô tăng 40,8%, xăng dầu tăng 36%, cao su tăng 29%; than đá tăng 15,6%, gạo tăng 9%, sắn tăng 9%.

4 Cụ thể, giá trị xuất khẩu của những mặt hàng “tỷ đô la” của Việt Nam là: dệt may (14 tỷ USD), dầu thô (7,2 tỷ USD), điện thoại các loại và linh kiện (6,9 tỷ USD), giày dép (6,5 tỷ USD), thủy sản (6,1 tỷ USD), điện tử máy tính (4,2 tỷ USD), máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng (4,1 tỷ USD), gỗ và sản phẩm gỗ (3,9 tỷ USD), gạo (3,6 tỷ USD), cao su (3,2 tỷ USD), cà phê (2,7 tỷ USD), đá quý, kim loại quý và sản phẩm (gần 2,7 tỷ USD), phương tiện vận tải và phụ tùng (2,4 tỷ USD), xăng dầu (2,1 tỷ USD).

Trang 13

5 Những nhóm hàng có giá trị tăng cao trong năm 2011 là máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng (15,2 tỷ USD); xăng, dầu đạt (9,9 tỷ USD), vải (6,8 tỷ USD), chất dẻo (4,7 tỷ USD), nguyên phụ liệu dệt may, giày dép (2,9 tỷ USD), hóa chất (2,7 tỷ USD), sản phẩm hóa chất (2,4 tỷ USD), thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu (2,3 tỷ USD).

6 Dịch vụ xuất khẩu là toàn bộ các dịch vụ do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước (đơn vị thường trú tại Việt Nam) cung cấp cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nước ngoài (đơn vị không thường trú) Dịch vụ nhập khẩu là toàn bộ các dịch vụ do doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước (đơn vị thường trú tại Việt Nam) tiêu dùng/nhận từ các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân nước ngoài (đơn vị không thường trú) Dịch vụ du lịch gồm các khoản chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ mà khách đi đến và ở lại trong thời gian nhất định (dưới 1 năm) ở một quốc gia khác.

Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong năm 2011 ước đạt 105,774 tỷUSD, tăng 26,9% so với cùng kỳ của năm trước, trong đó khu vực kinh tếtrong nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tương ứng đóng góp

58 tỷ USD và 47,7 tỷ USD Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhậpkhẩu hàng hóa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong năm

2011 vẫn diễn ra mạnh mẽ hơn nhiều so với khu vực kinh tế trong nước(tương ứng đã tăng 29,2% và 21,2% so với năm 2010) Tương tự như trườnghợp xuất khẩu, nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự tăng mạnh kim ngạchnhập khẩu hàng hóa trong năm 2011 là đơn giá nhiều mặt hàng trên thịtrường quốc tế tăng cao, điển hình là giá bông tăng 72%; giá xăng, dầu tăng46%; giá cao su tăng 22%; giá khí đốt hoá lỏng tăng 18% Nếu tiến hànhloại trừ yếu tố tăng giá thì tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu hàng hóa củanền kinh tế Việt Nam trong năm 2011 chỉ tăng khoảng 3,8% so với cùngkỳ năm trước Nguyên nhân khác là do sự tăng mạnh kim ngạch nhập khẩucủa một số nhóm hàng hóa5

Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam về cơ bản là không cónhững sự thay đổi lớn trong năm 2011

Về cán cân thương mại dịch vụ, tổng giá trị kim ngạch dịch vụ nhập khẩu

ước đạt 11,859 tỷ USD năm 2011 (tăng 19,5% so với năm 2010), trong đókim ngạch dịch vụ vận tải nhập khẩu ước đạt 8,226 tỷ USD (tăng 24,7%)và kim ngạch dịch vụ du lịch nhập khẩu ước đạt 1,710 tỷ USD (tăng 16,3%).Tổng giá trị kim ngạch dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 8,9 tỷ USDnăm 2011 (tăng 19% so với năm 2010), trong đó kim ngạch dịch vụ du lịchxuất khẩu ước đạt 5,62 tỷ USD (tăng 26,3%) và kim ngạch dịch vụ vận tải

Tổng hợp của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS) theo dữ liệu ước thực hiện trong năm 2011 từ

Tổng cục Thống kê (GSO).

Hình 10 Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2011

Trang 14

7 Kết quả này một mặt là do đóng góp chủ yếu từ tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong cả năm 2011 (tăng trưởng khoảng 4%, lớn hơn nhiều so với tăng trưởng khu vực này từ năm 2009 trở lại đây) và mặt khác là do sự hồi phục của tăng trưởng việc làm trong khu vực phi chính thức ở thành thị.

Lao động – việc làm

Cán cân vãng lai của Việt Nam trong năm 2011 cũng đã được cải thiện mộtphần nhờ sự đóng góp ngày càng tăng của lượng kiều hối, ước đạt gần 10 tỷUSD, tăng 1,6 tỷ USD so với năm 2010 Có một số nhận định cho rằng cómột lượng đáng kể kiều hối chảy vào kênh bất động sản Tuy nhiên nhữngdiễn biến trầm lắng của thị trường này, cũng như việc giá bất động sản ởViệt Nam nhìn chung được nhận định là vẫn còn rất cao, thậm chí kể cảkhi so sánh với giá bất động sản ở nhiều nước giàu có ở trên thế giới, chothấy nhận định này có thể không chính xác Một phỏng đoán khác có cơ sởhơn là theo nguyên lý “nước chảy chỗ trũng”, một lượng kiều hối đáng kể đãchảy vào để hưởng chênh lệch lãi suất giữa Việt Nam và thế giới do mứcchêch lệch này là rất cao vì cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ những thángcuối năm và Ngân hàng Nhà nước có những tuyên bố quyết tâm không đểđồng VND bị mất giá nhiều so với đồng USD đã góp phần thu hút lượngkiều hối gia tăng

Cán cân vốn và tài chính trong năm 2011 cũng có sự cải thiện đáng kể

nhờ sự ổn định tương đối của nguồn vốn vào Việt Nam Trong năm 2011,lượng vốn FDI cấp mới và tăng thêm vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam ước đạt 14,696 tỷ USD, bằng 74% so với mức cùng kỳ của năm

2010 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện giải ngân ước đạt 11 tỷUSD và bằng với mức cùng kỳ của năm 2010

Thị trường lao động Việt Nam có diễn biến khá tích cực với tỷ lệ thất nghiệp thấp trong năm 2011 Tuy nhiên Việt Nam vẫn phải đối mặt với những thách thức về mất cân đối cung cầu lao động liên quan tới hình thức phân bổ thị trường lao động theo trình độ, ngành nghề đặc thù, loại hình doanh nghiệp, hay cơ cấu vùng miền Những thách thức mới về duy trì việc làm cũng đã nảy sinh do bắt đầu xuất hiện tình trạng thiếu đơn hàng xuất khẩu và hủy đơn hàng đã ký bởi chính các đối tác nước ngoài do chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Âu đang lan rộng và nền kinh tế Mỹ vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn.

Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm thấp, đồng thời đang có dấu hiệu giảm tốc theo mùa vụ: một mặt, số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy

tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi đã có xu hướng giảm tương ứngtừ mức 2,88% năm 2010 xuống chỉ còn ở mức 2,27% năm 2011 Xu hướngnày diễn ra ở cả khu vực thành thị và khu vực nông thôn, theo đó tỷ lệ thấtnghiệp của lao động trong độ tuổi ở hai khu vực này đã có chiều hướng giảmdần, tương ứng từ mức 4,29% và 2,30% năm 2010 xuống chỉ còn ở các mức3,6% và 1,71% năm 2011 Số liệu thống kê cũng cho thấy tình trạng thiếuviệc làm của lao động trong độ tuổi (phổ biến hơn so với thất nghiệp) cũngcó xu hướng giảm dần trong năm 2011 Theo đó, tỷ lệ thiếu việc làm của laođộng trong độ tuổi trên phạm vi cả nước đã giảm xuống tới mức 3,34% trongnăm 2011 từ mức 3,57% trong năm 2010 Ở khu vực nông thôn, tỷ lệ thiếuviệc làm của lao động trong độ tuổi đã giảm từ mức 4,26% trong năm 2010

tình trạng thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thịmặc dù ít trầm trọng hơn nhưng lại đang dậm chân tại chỗ ở mức 1,82%trong cả giai đoạn 2010-2011 Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của

Trang 15

8 Cụ thể, ngành sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) có chỉ số sản xuất năm 2011 tăng 13,3% so với năm 2010, ngành sản xuất giày, dép tăng 8,3%; ngành sản xuất sợi và dệt vải tăng 11,6%; ngành chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 11,3%; ngành sản xuất mô tô, xe máy tăng 19,6%; ngành sản xuất bia tăng 16,4%; ngành sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 15,8%; ngành sản xuất đồ gốm, sứ không chịu lửa (trừ gốm sứ dùng trong xây dựng) tăng 139,3%; và ngành sản xuất đường tăng 33,7% v.v

lao động trong độ tuổi năm 2011 giảm tốc nhờ kết quả tăng trưởng tốt củakhu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, cũng như tăng trưởng khácủa khu vực dịch vụ như đã được nêu trong mục về tăng trưởng Cũng cầnphải kể đến sự đóng góp của các ngành công nghiệp chế tạo và chế biến cóđịnh hướng xuất khẩu và những ngành sử dụng nhiều lao động khác với chỉ

không nhỏ giúp giảm áp lực việc làm ở thị trường lao động trong nước năm

2011 là hoạt động xuất khẩu lao động trên phạm vi cả nước đã diễn ra tươngđối sôi động trong năm 2011, với khoảng 88,299 nghìn người đi xuất khẩulao động tính tới thời điểm cuối tháng 12/2011, vượt mức 1,5% so với chỉtiêu kế hoạch mà Chính phủ đã giao từ đầu năm

Tuy nhiên, thị trường lao động việc làm trong những tháng cuối năm 2011đang phải đối phó với những thách thức mới với dấu hiệu tiêu cực có nguy

cơ dẫn tới sự “đảo chiều” trên thị trường lao động trong năm 2012 Theo đó,số lượng đơn đăng ký thất nghiệp có chiều hướng gia tăng đột biến trên địabàn những thành phố lớn của cả nước Trong quý IV/2011 cũng xuất hiện xuhướng suy giảm đơn hàng ở một số ngành có định hướng xuất khẩu và thâmdụng lao động như dệt may và da giày do tác động của cuộc khủng hoảngnợ công châu Âu đang lan rộng và sự khó khăn kéo dài của kinh tế Mỹ Khókhăn vẫn còn tiếp diễn đối với nhiều ngành thâm dụng lao động khác trongnền kinh tế, đặc biệt là ngành xây dựng trong bối cảnh cắt giảm đầu tư côngvà sự đóng băng của thị trường bất động sản Lĩnh vực bán lẻ sử dụng nhiềulao động cũng đang có xu hướng thu hẹp dần đà tăng trưởng (tổng mức hànghóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng từ mức 14% năm 2010 (sau khiđã loại trừ yếu tố tăng giá) xuống chỉ còn 4,7% trong năm 2011) do ngườidân phải thực hiện cắt giảm chi tiêu Thị trường lao động còn có sự mất cânđối giữa các địa bàn (các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng nông thôn,vùng sâu vùng xa) và theo cơ cấu kỹ năng, tay nghề

Trong quý IV/2011 cũng như cả năm 2011, Chính phủ đã thực hiện quyếtliệt các nhóm giải pháp của Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 nhằmgiảm lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội Một sựkiện hết sức quan trọng là tại Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ươngĐảng khoá 11 diễn ra trong tháng 10/2011, những định hướng lớn về tái cơcấu nền kinh tế đã được đưa ra, trong đó xác định 3 trọng tâm chính là táicấu trúc đầu tư (với trọng tâm là đầu tư công), tái cơ cấu thị trường tài chính(với trọng tâm là các ngân hàng thương mại) và tái cấu trúc doanh nghiệp(với trọng tâm là các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn và tổng công ty) Hộinghị Trung ương 3 cũng chỉ rõ cần phải khắc phục tư duy nhiệm kỳ và tránhsự ảnh hưởng của các nhóm lợi ích Nếu như Nghị quyết 11 là một gói bìnhổn vĩ mô quan trọng nhằm tác động lên tổng cầu giúp hạ nhiệt nền kinh tếthì chương trình tái cơ cấu nền kinh tế là gói giải pháp tác động lên tổngcung thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tạo tiền đề

Một số vấn đề chính sách nổi bật

Trang 16

giúp nền kinh tế chuyển sang một quỹ đạo mới của sự tăng trưởng nhanhvà bền vững Đây là những định hướng được giới chuyên gia và dư luận rộngrãi đánh giá là đã “bắt trúng mạch” các vấn đề nổi cộm của nền kinh tếtrong ngắn hạn cũng như trong trung và dài hạn.

Trong quý IV/2011, chính sách tiền tệ tiếp tục được thắt chặt theo tinh thầncủa Nghị quyết 11 và kết thúc năm 2011, tín dụng và tổng phương tiệnthanh toán tăng tương ứng là 12% và 10%, thấp hơn đáng kể so với các mứctrần đặt ra tương ứng là 20% và 15-16% Mức tăng trưởng tín dụng này cũngrất thấp so với mức bình quân của chỉ số này trong 5 và 10 năm trở lại đâytương ứng là 33% và 29,4%, và cũng là mức tăng trưởng tín dụng thấp chưatừng có trong lịch sử phát triển ngành ngân hàng

Những con số này cho thấy việc thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ đãdiễn ra nhanh và quyết liệt, đóng vai trò rất quan trọng trong việc giảm tốcđộ tăng giá và kỳ vọng lạm phát, tạo tiền đề quan trọng để giảm lãi suất.Chính sách tiền tệ thắt chặt như vậy cũng đã góp phần rất quan trọng trongviệc khuyến khích người dân nắm giữ tiền tiết kiệm bằng VND, qua đó giúpổn định được giá trị của đồng nội tệ trên thị trường vàng và ngoại hối Nócũng giúp giảm bớt chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư trong nước (do đónggóp vào việc giảm mạnh tổng đầu tư xuống chỉ còn 34,6% GDP như đượcnêu trong mục về tăng trưởng ở trên), qua đó tạo ra một điểm sáng kháccủa nền kinh tế trong năm 2011 là giảm mạnh tỷ lệ thâm hụt thương mạitính trên xuất khẩu, và cùng với đó giảm đáng kể sức ép trên thị trườngngoại hối

Nhóm giải pháp thứ nhất của Nghị quyết 11 còn có một nội dung quan trọngkhác là hướng tới giảm tốc độ và tỷ trọng cho vay vốn tín dụng của khu vựcphi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, với kết quả là làm xì hơi bongbóng bất động sản, đặc biệt tại các thị trường có hoạt động đầu cơ diễn ramạnh mẽ là Hà Nội và Đà Nẵng Điều này sẽ giảm bớt những méo mó dođầu cơ gây ra, và đưa thị trường bất động sản lại gần hơn với những ngườicó nhu cầu sử dụng thực sự Thực tế thực hiện cho thấy dòng vốn ngân hàngđã được định hướng tốt hơn, ít nhất là nếu xét về hiệu quả phân bổ: nếu nhưtốc độ tăng trưởng tín dụng nói chung trong cả năm 2011 chỉ đạt 12-13%,thì vốn cho sản xuất kinh doanh tăng 15%, vốn cho nông nghiệp nông thôntăng tới 24%, có thời điểm hơn 30%, tăng trưởng tín dụng xuất khẩu thậmchí tăng tới 58%, trong khi đó, vốn cho chứng khoán và bất động sản lạigiảm mạnh Cơ cấu của dòng vốn lành mạnh hơn đã giúp lý giải là tại saotrong năm 2011, nếu so với tốc độ tăng trưởng kinh tế (6-6,5%)

Tuy nhiên sự điều chỉnh chính sách tiền tệ mạnh cũng gây ra những tác

động phụ không nhỏ Thứ nhất, cho dù lãi suất huy động được khống chế ở

mức 14% song lãi suất cho vay vẫn duy trì ở mức cao trên dưới 20% ở trên

Chính sách tiền tệ và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng

Ngày đăng: 28/06/2014, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Thực trạng diễn biến kinh tế thế giới năm 2011 và triển vọng năm 2012 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 1. Thực trạng diễn biến kinh tế thế giới năm 2011 và triển vọng năm 2012 (Trang 3)
Hình 2. Diễn biến kinh tế vĩ mô của Mỹ năm 2011 và triển vọng 2012 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 2. Diễn biến kinh tế vĩ mô của Mỹ năm 2011 và triển vọng 2012 (Trang 4)
Hình 3. Diễn biến kinh tế vĩ mô của khu vực EU năm 2011 và triển vọng 2012 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 3. Diễn biến kinh tế vĩ mô của khu vực EU năm 2011 và triển vọng 2012 (Trang 5)
Hình 4. Diễn biến kinh tế vĩ mô của Trung Quốc năm 2011 và triển vọng 2012 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 4. Diễn biến kinh tế vĩ mô của Trung Quốc năm 2011 và triển vọng 2012 (Trang 6)
Hình 5. Diễn biến kinh tế vĩ mô của Nhật Bản năm 2011 và triển vọng 2012 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 5. Diễn biến kinh tế vĩ mô của Nhật Bản năm 2011 và triển vọng 2012 (Trang 7)
Hình 7. Diễn biến kinh tế vĩ mô của khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA) trong - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 7. Diễn biến kinh tế vĩ mô của khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA) trong (Trang 8)
Hình 6. Diễn biến kinh tế vĩ mô của NICs châu Á năm 2011 và triển vọng 2012 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 6. Diễn biến kinh tế vĩ mô của NICs châu Á năm 2011 và triển vọng 2012 (Trang 8)
Hình 8. Biến động tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2011 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 8. Biến động tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2011 (Trang 10)
Hình 9. Biến động của chỉ số giá tiêu dùng CPI theo tháng ở Việt Nam năm 2011Lạm phát - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 9. Biến động của chỉ số giá tiêu dùng CPI theo tháng ở Việt Nam năm 2011Lạm phát (Trang 11)
Hình 10. Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2011 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 10. Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam năm 2011 (Trang 13)
Bảng 1. Dự báo giá dầu thô trung bình tháng (USD/thùng) - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Bảng 1. Dự báo giá dầu thô trung bình tháng (USD/thùng) (Trang 23)
Hình 11. Dự báo xu hướng tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2012 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 11. Dự báo xu hướng tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2012 (Trang 25)
Hình 12. Dự báo xu hướng lạm phát của Việt Nam trong năm 2012 - Bản tin kinh tế vi mô số 6 pptx
Hình 12. Dự báo xu hướng lạm phát của Việt Nam trong năm 2012 (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w