1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận dvls ngay 1 tháng 11 năm 2011 doc

20 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 181 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng nhà nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuất phát từ truyền thống dân tộc và đặc điểm Việt Nam, vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-

Trang 1

Mở đầu

Lịch sử loài người đã trải qua một thời gian dài không có nhà nước, mọi

công việc trong xã hội đều do những người, những tổ chức đứng đầu các thị tộc,

bộ lạc điều hành Nhưng từ khi xuất hiện chế độ tư hữu và giai cấp đã làm nảy sinh nhà nước, một bộ máy quyền lực của giai cấp thống trị ra đời Từ đó đến nay, xã hội loài người đã và đang có sự tồn tại của nhiều kiểu và hình thức nhà nước khác nhau, như nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa; với các hình thức: nhà nước quân chủ, cộng hòa, liên bang v.v Mỗi kiểu và hình thức nhà nước ấy có những đặc trưng riêng, có những ưu việt và hạn chế riêng Nhưng tiến bộ hơn cả chỉ có nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của giai cấp vô sản

Sau cách mạng tháng tám năm 1945, nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức ra đời Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhà nước ta đã ngày càng vững mạnh về mọi mặt Ngày nay, trước những đòi hỏi của tình hình mới, nhà nước ta cần phải được nâng lên một tầm cao mới, phải được xây dựng theo hướng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng nhà nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuất phát từ truyền thống dân tộc và đặc điểm Việt Nam, vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lê-nin về nhà nước cách mạng; đồng thời, tiếp thu

có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại về nhà nước pháp quyền và kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền của một số nước trên thế giới, từng bước xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mang đậm nét dân tộc và nhân đạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta

Bên cạnh thành công đã đạt được, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên thực tế vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế và yếu kém Báo cáo chính trị trình đại hội XI chỉ rõ: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước Năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật còn yếu Tổ chức bộ máy ở nhiều cơ quan còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng thêm; chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ

rõ, còn chồng chéo Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân Năng lực

dự báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên một số lĩnh vực yếu; phân cấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, kiểm soát; trật tự, kỷ cương xã hội không nghiêm Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ Công tác điều tra, giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác; án tồn đọng, án bị huỷ, bị cải sửa còn nhiều Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được yêu cầu đề ra

Trang 2

Quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, gây bức xúc xã hội Chính vì vậy, tác giả

chọn đề tài: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,

vì dân và trách nhiệm của quân đội nhân dân Việt Nam” làm đề tài tiểu luận.

Nhằm tiếp tục nghiên cứu, phát huy vai trò của nhà nước pháp quyền trong giai đoạn hiện nay

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chử nghĩa ở Việt Nam

1.1 Quan niệm về nhà nước trong lịch sử

Vào thời kỳ cổ đại và trung đại, các nhà tư tưởng cho rằng, nhà nước là do Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung Hoăc nhà nước ra đời là kết quả của

sự phát triển của gia đình Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc này đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng đã tạo ra một hệ thống cơ quan đặc biệt gọi là Nhà nước

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, quan niệm của con người về nhà nước tiếp tục phát triển Để chống lại sự chuyên quyền độc đoán của nhà nước phong kiến, đòi quyền bình đẳng cho giai cấp tư sản trong nắm giữ quyền lực nhà nước, các học giả tư sản cho rằng, nhà nước ra đời là sản phẩm của một khế ước được ký kết Vì vậy, nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên của xã hội và mỗi thành viên đều

có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ lợi ích của họ Thuyết “khế ước xã hội” dựa trên

cơ sở thuyết về quyền tự nhiên mà tiêu biểu là các nhà tư tưởng tư sản như: Thomas Hobbes, John Locke; Môngteskiơ; Điđrô, Jean-Jacques Rousseau … Mặc

dù còn nhiều hạn chế, song lý thuyết “khế ước xã hội” đã trở thành cơ sở cho thuyết dân chủ cách mạng và cơ sở tư tưởng cho cách mạng tư sản lật đổ nhà nước phong kiến và thành lập nhà nước tư sản

Sau khi giai cấp tư sản xác lập quyền thống trị của mình,để bảo vệ lợi ích giai cấp, các học giả tư sản tìm cách xuyên tạc bản chất của nhà nước Họ cho rằng, nhà nước là “hiện thực của quan niệm đạo đức”, là “hình ảnh và hiện thực của lý tính” Nhà nước xuất hiện như “người trọng tài công minh” đứng trên xã hội để giải quyết mọi mâu thuẫn, mọi tranh chấp, để duy trì xã hội trong tình trạng ổn định và phồn vinh Nhà nước là người đại diện quyền lợi cho mọi giai cấp, là cơ quan điều hoà mâu thuẫn giai cấp, làm dịu sự xung đột giữa các giai cấp Các nhà triết học tư sản hiện nay còn cho rằng, nhà nước tư bản chủ nghĩa

đã khắc phục được “những thiếu sót” của các nhà nước trước đây ngày càng hoàn thiện, phục vụ cho nhu cầu và phúc lợi xã hội

Tất cả những cách giải thích trên về nhà nước đều không có căn cứ khoa học, nhằm mục đích biện hộ cho sự thống trị của các giai cấp bóc lột Lần đầu tiên trong lịch sử, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề nhà nước mới được luận giải một cách hoàn toàn khoa học và đi vào thực tiễn cuộc sống

1.2 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về nguồn gốc, bản chất, hình thức và các kiểu nhà nước.

Trang 3

Vận dụng và mở rộng quan điểm duy vật biện chứng vào nghiên cứu lĩnh vực xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo vệ trước hết

lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội Bản chất cách mạng và khoa học của lý

luận Mác – Lênin về nhà nước được thể hiện thông qua việc luận giải những nội dung chủ yếu như nguồn gốc, bản chất của nhà nước; đặc trưng của nhà nước; chức năng của nhà nước; kiểu và các hình thức của nhà nước; nhà nước vô sản

Về nguồn gốc, bản chất của nhà nước, trong các tác phẩm mà tập trung nhất là “Nguồn gốc của gia đinh, của chế độ tư hữu và của nhà nước”; “Nhà nước và cách mạng”; “Chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước” , các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chứng minh rằng, không phải xã hội nào cũng có nhà nước Trong xã hội cộng sản nguyên thủy không có nhà nước Ứng với tình trạng kinh tế còn thấp kém, chưa có sự phân hóa giai cấp Con người sống trong các cộng đồng thị tộc và bộ lạc Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là những tộc trưởng do nhân dân bầu ra, quyền lực của người đứng đầu những cơ quan quản lý xã hội dựa vào sức mạnh đạo đức và uy tín Việc điều chỉnh các quan

hệ xã hội được thực hiện bằng những quy tắc chung Như vậy, thể chế xã hội trong thời kỳ cộng sản nguyên thủy là thể chế tự quản của nhân dân Ph Ăngghen nhận xét: “Với tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc

đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao! Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà tù, không có những vụ xử án, - thế mà mọi việc đều trôi chảy”(1)

Nhà nước không phải là bẩm sinh sẵn có, không phải được sinh ra bên ngoài xã hội, áp đặt vào xã hội Sự ra đời và tồn tại của nhà nước là tất yếu khách quan Nguyên nhân sâu xa của sự ra đời của nhà nước đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự ra đời của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Nguyên nhân trực tiếp là mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Lênin đã khẳng định: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào

mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”(2) Khi nào xã hội còn tồn tại chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp, khi đó nhà nước còn tồn tại Ph Ăngghen chỉ rõ: "Nhà nước chẳng qua chỉ là bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hoà dân chủ cũng hoàn

toàn giống như trong chế độ quân chủ vậy”(3) Theo V I Lênin thì bộ máy

trấn áp đó không phải là cái gì khác hơn là một bộ máy bạo lực có hệ thống Bởi vì: “Nhà nước theo đúng nghĩa của nó, là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với một giai cấp khác, hơn nữa lại là của thiểu số đối với đa số Một thiểu số người bóc lột muốn tiến hành có kết quả việc trấn áp

Trang 4

thường xuyên một đa số người bị bóc lột thì đương nhiên phải hung ác, tàn

bạo đến cực độ trong sự trấn áp ” Do điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi

nước mà quá trình hình thành nhà nước cũng có những nét đặc thù riêng

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bản chất của nhà nước là công cụ chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế dùng để thống trị xã hội

Sự ra đời của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là nguyên nhân dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp Do lợi ích căn bản đối lập nhau nên đấu tranh giai cấp là không thể tránh khỏi Để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình bắt các giai cấp khác và toàn xã hội phải phục tùng, giai cấp

thống trị về kinh tế đã tổ chức ra nhà nước, một công cụ để trấn áp giai cấp.

Để thống trị xã hội, giai cấp thống trị đã tổ chức ra nhà nước, công cụ bạo lực để cưỡng bức giai cấp và phục vụ lợi ích giai cấp thống trị Đồng thời với vai trò phát triển xã hội, nhà nước có trách nhiệm đầu tư vào những nơi mà tư nhân không thể hoặc không muốn đầu tư, lúc đó nhà nước ra đời

Theo Ph Ăngghen, bất kỳ nhà nước nào cũng có ba đặc trưng cơ bản là quản

lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định Nhà nước có hệ thống cơ quan quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội Nhà nước đặt ra thuế khoá, thực hiện việc thu thuế dưới hình thức bắt buộc là chủ yếu

để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị

Về chức năng của nhà nước có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: đối nội; đối ngoại; kinh tế; chính trị; tư tưởng…Từ góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng là công cụ thống trị chính trị của giai cấp và thực hiện chức năng xã hội mà giai cấp thống trị Trong hai chức năng đó thì chức năng chính trị, giai cấp là chức năng chủ yếu quyết định Về phạm vi tác động của quyền lực nhà nước ở tầm vĩ mô, nhà nước có chức năng đối nội và đối ngoại Chức năng đối nội nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và trật tự khác theo lợi ích của giai cấp thống trị Chức năng đối ngoại nhằm bảo vệ lãnh thổ quốc gia và thực hiện mối quan hệ với các nước vì lợi ích của giai cấp thống trị Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của nhà nước là hai mặt của một thể thống nhất, trong đó tính chất của chức năng đối nội quyết định tính chất của chức năng đối ngoại

Kiểu nhà nước là nói đến nhà nước đó của giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở kinh tế xã hội nào, tương ứng hình thái kinh tế, xã hội nào Lịch sử xã hội có giai cấp đã trải qua ba hình thái kinh tế, xã hội Tương ứng với ba hình thái kinh tế, xã hội, là ba kiểu nhà nước: nhà nước nô lệ; nhà nước phong kiến và nhà nước tư sản Trên thực tế không phải quốc gia nào cũng trải qua tuần tự cả ba hình thái kinh tế,

xã hội đó

Hình thức nhà nước là nói đến cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, hay hình thức cầm quyền của giai cấp thống trị Trên thực tế

có nhiều hình thức như: nhà nước liên bang; nhà nước liên hiệp; nhà nước quân chủ lập hiến; nhà nước cộng hoà; nhà nước pháp quyền; nhà nước vương quyền(5)…

Trang 5

Từ kinh nghiệm lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra, để xây dựng một xã hội không có giai cấp, không có người bóc lột người, sau khi đập tan nhà nước của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản phải tổ chức ra nhà nước của mình Mác viết:

“…giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa, là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy, là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”

Thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp vô sản đặc biệt là công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã chứng minh tính đúng đắn kết luận trên của C Mác

Tổ chức ra nhà nước xã hội chủ nghĩa, là quy luật phổ biến của mọi quốc gia dân tộc khi xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, do đặc điểm, điều kiện của mỗi giai cấp, dân tộc khác nhau, hình thức tổ chức nhà nước cũng hết sức phong phú và đa dạng Song về bản chất là một, là nhà nước do giai cấp vô sản tổ chức và lãnh đạo Nhà nước do giai cấp vô sản tổ chức là nhà nước kiểu mới, khác về bản chất so với các nhà nước của các giai cấp bóc lột trước đây Đó là nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, tổ chức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp vô sản Nhà nước xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa hai chức năng, trấn áp và tổ chức xây dựng, trong đó chức năng tổ chức xây dựng là chủ yếu Nhà nước xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính quốc tế Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước “tự tiêu vong”

1.3 Quan điểm Hồ Chí Minh về nhà nước và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân hay quan niệm về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng nhất quán, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại và có giá trị to lớn và lâu bền Có thể nói Bác đã tiếp thu, nghiên cứu tinh hoa trong xây dựng nhà nước từ cổ chí kim, từ phương Đông sang phương tây tư tưởng, từ tư tưởng “Dân duy bang bản” (Dân là gốc nước), hay “Dân

vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là quý) Trong di sản lý luận của mình,

Hồ Chí Minh đã có lần sử dụng thuật ngữ "chế độ pháp trị" Đó là tư tưởng của nhà chính trị Vệ Ưởng nhà Tần hay của Hàn Phi Tử Nhờ sử dụng chính sách này mà không phải là chế độ đức trị của Mạnh Tử và nhiều nhà tư tưởng khác mà nhà Tần Trung Quốc trước đây đã xây dựng nên đế quốc đại Tần hùng mạnh, thống nhất Trung quốc Hồ Chí Minh cũng tiếp thu tinh hoa trong xây dựng nhà nước từ thời

cổ đại đến tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác Lênin Tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Bác có thể nói cũng được xuất phát từ tinh hoa của dân tộc ta Đó là tư tưởng của Trần Quốc Tuấn “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước” Hay của danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi “Phúc chu thủy tín do dân thủy”

Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã

đề cập đến vai trò của chúng trong điều hành và quản lý xã hội Năm 1919, tám yêu

Trang 6

sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc- xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người Sau này, bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh chuyển thành "Việt Nam yêu cầu ca", trong đó yêu cầu thứ bảy là: "Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm điều phải

có thần linh pháp quyền"(7) "Thần linh pháp quyền" là ý thức, tinh thần pháp luật phải chi phối, chỉ đạo mọi hành vi, hoạt động của bộ máy, cơ quan nhà nước; môi trường pháp lý phải bao trùm mọi mặt, mọi lĩnh vực đời sống xã hội Đây là tư tưởng rất đặc sắc của Hồ Chí Minh, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi

và ban hành hiến pháp mới, Hiến pháp năm 1959 Trong tư duy Hồ Chí Minh, một khi điều kiện kinh tế, xã hội thay đổi thì pháp luật, hiến pháp cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các quan hệ xã hội Ngoài hai bản Hiến pháp,

từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh còn chỉ đạo soạn thảo, ký quyết định công bố

16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật Khối lượng văn bản luật đó luôn thể hiện rõ việc đề cao tính nhân đạo và nhân văn, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của nhà nước mà nhân dân là chủ và do nhân dân làm chủ

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế Nhà nước ta cũng sử dụng pháp luật để quản lý xã hội Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ,

vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động Tuy nhiên, pháp luật dân chủ ở Hồ Chí Minh cũng được xem xét trong các mối quan hệ hết sức đặc trưng Trong quan niệm về thực chất của dân chủ: "Không nên hiểu lầm dân chủ Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi Nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện Phải cấm chỉ những hành động tự do quá trớn ấy"(8)

Trong việc xác định rõ giới hạn của các quyền tự do cá nhân, Người nói: Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức là phạm đến tự do của người khác, là phạm pháp Không thể có tự

do cho bọn việt gian, bọn phản động, bọn phá hoại tự do của nhân dân Trong việc

xử lý mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ công dân, pháp luật dân chủ vừa thể hiện các quyền, lợi ích của công dân, nhưng cũng quy định rõ các nghĩa vụ mà người dân phải thực hiện Hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ là thuộc tính hai mặt của một người dân làm chủ nhà nước

Trang 7

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ; mọi công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật cả về quyền lợi và nghĩa vụ; ai vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm khắc, cho dù người đó ở vị trí nào trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước Trong thực thi luật pháp, việc thưởng phạt phải nghiêm minh Muốn pháp luật nghiêm minh, phát huy hiệu lực, cần có các điều kiện: Trước hết, pháp luật đó phải đúng và

phải đủ Thứ hai, pháp luật phải đến được với dân phải chú trọng giáo dục, tuyên truyền pháp luật Thứ ba, cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp phải thật sự công tâm

và nghiêm minh Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người

mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người Sự thống nhất giữa đạo đức

và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở quan niệm xử lý các hành

vi phạm pháp, nguyên tắc "có lý","có tình" chi phối mọi hành vi ứng xử của con người, tôn trọng cái lý, đề cao cái tình, tùy từng trường hợp, tình huống cụ thể mà

Hồ Chí Minh nhấn mạnh mặt này hay mặt khác

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu các giá trị tư tưởng hiện đại của loài người, trước nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta Quan điểm về nhà nước pháp quyền của Đảng là một bộ phận hợp thành tổng thể lý luận về chủ nghĩa

xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Những luận điểm căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh về nhà nước vẫn giữ nguyên giá trị khoa học của

nó và là cơ sở lý luận, phương pháp luận quan trọng cho chúng ta trong nhận thức

và hoạt động thực tiễn, nhằm tăng cường sức mạnh nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

1.4 Nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng ta qua các thời kỳ Đại hội Đảng.

Nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền là một quá trình Trước những năm 90 của thế kỷ XX, chúng ta chỉ dùng các khái niệm "Nhà nước chuyên chính

vô sản", "Nhà nước xã hội chủ nghĩa" Đến năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII, khái niệm "nhà nước pháp quyền" đã được nêu lên Hội nghị Trung ương 8 Khoá VII của Đảng (tháng 1 - 1995) tiếp tục đặt vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa” Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) nhấn mạnh: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời, coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức” Nghị quyết Hội nghị Trung ương

3 Khoá VIII của Đảng (tháng 6 - 1997) về tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, có một nhận định quan trọng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Đảng đã

“từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” Đại hội IX của Đảng (năm 2001) đặt vấn đề tiếp tục “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trang 8

dưới sự lãnh đạo của Đảng” Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khoá IX của Đảng (tháng 1 - 2004) khẳng định: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc” Các quan điểm này đã được thể hiện trong việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và cụ thể hóa trong Điều 2: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các

cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bổ sung phát triển năm 2011 chỉ rõ: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.”

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo Nhà nước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp

và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp

và tư pháp Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tập trung vào 3 nội dung lớn: Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội.Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, tổ chức tinh gọn, hợp lý Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.”

Đó là một hệ thống đường lối, phương hướng của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đây là một vấn đề rất mới và to lớn ở Việt Nam, nên nghị quyết của Đảng phác thảo ra những hướng chung nhất về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đảng ta nhận thức rất rõ rằng, nhà nước pháp quyền là một thành tựu vĩ đại nhân loại không chỉ riêng của chủ nghĩa tư bản Xét về bản chất, không chỉ có một loại nhà nước pháp quyền duy nhất, mà dựa trên cơ sở kinh tế, xã hội, bản chất chế độ xã hội khác nhau, vẫn tồn

Trang 9

tại Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

1.5 Bản chất của nhà nước pháp quyền, sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Các nhà khoa học tuy có những ý kiến khác nhau về vấn đề nhà nước pháp quyền và tổ chức xây dựng nhà nước pháp quyền, song đều có quan niệm thống nhất về bản chất, được thể hiện ở một số dấu hiệu đặc trưng sau:

Phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước phải do pháp luật quy định Nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật Các đảng phái, tổ chức, tôn giáo… phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Quyền lực nhà nước được xác định gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Nhà nước có hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội đặc biệt là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân

Phương tiện chủ yếu của nhà nước pháp quyền trong quản lý xã hội đó là pháp luật Nhưng nhà nước pháp quyền không đồng nghĩa với mọi nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Trong lịch sử, nhiều nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật như các nhà nước độc tài, nhà nước chuyên chế, nhà nước pháp quyền tư sản Những nhà nước này không phải là nhà nước pháp quyền Những nhà nước này vốn từ xã hội

mà ra song ngày càng vượt ra ngoài xã hội, đứng trên xã hội, dùng pháp luật để thống trị xã hội và bản thân nó lại đứng ngoài pháp luật

Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Trong khi

đó, pháp luật bao giờ cũng mang tính giai cấp và tính đặc thù của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Do đó, sẽ không có mô hình chung, những tiêu chí chung về nhà nước pháp quyền cho tất cả các nước khác nhau Bản chất của mỗi nhà nước pháp quyền phụ thuộc vào bản chất chế độ xã hội, hệ thống quan điểm, mục đích, nhiệm vụ, điều kiện cụ thể của mỗi nước

Trong lịch sử đã tồn tại hai loại hình nhà nước pháp quyền cơ bản Đó là nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Do có sự khác nhau về bản chất xã hội, nên hai loại nhà nước này khác nhau về chất Sự khác nhau đó thể hiện ở chỗ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về

tổ chức, xây dựng và vận hành của nhà nước có sự khác nhau căn bản Pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên

bố chấm dứt hoạt động của quốc hội, chính phủ hoặc tổ chức ra quốc hội và chính phủ nhiệm kỳ mới Trong khi đó, hiến pháp và pháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân đứng đầu nhà nước có quyền giải tán quốc hội hoặc chính phủ

Trang 10

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân Trong nhà nước pháp quyền tư sản, nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, nhưng pháp luật tư sản không phải

là pháp luật của toàn dân, không thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng của một bộ phận giai cấp tư sản

Nhà nước pháp quyền tư sản coi thuyết “tam quyền phân lập” là học thuyết

cơ bản trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan lập pháp, hành pháp

và tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba đó Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thừa nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, trong đó có sự phân công, phối hợp, để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước thống nhất, với hiệu quả cao nhất

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

2.1 Tính tất yếu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử Lịch sử xã hội cho thấy, sự phát triển của sản xuất vật chất là nhân tố xét đến cùng quyết định không chỉ sự vận động phát triển của xã hội từ thấp đến cao, mà còn quyết định bộ mặt; cơ cấu tổ chức của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Trong xã hội nguyên thuỷ, do trình độ của sản xuất vật chất hết sức thấp kém, nên tổ chức xã hội lúc đó là chế độ làm chung, ăn chung, các thành viên trong xã hội đều có quan hệ họ hàng với nhau nên cần có một cơ quan quản lý và điều hành xã hội gọn nhẹ, bao gồm những tù trưởng được toàn thể các thành viên trong xã hội tín nhiệm bầu ra

Sự phát triển của sản xuất vật chất xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Xã hội phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp, có sự phân hoá sâu sắc về lợi ích giữa các tập đoàn người.v.v lúc này đòi hỏi xã hội cần có một tổ chức mới, có khả năng duy trì được sự tồn tại và phát triển Tổ chức quản lý thị tộc tất yếu phải nhường chỗ cho quản lý xã hội bằng nhà nước phong kiến

Nhưng nhà nước phong kiến đã nhanh chóng vượt lên trên xã hội và trở thành lực lượng đối lập với xã hội Sự tăng cường tính chất độc tài, chuyên chế nguyên nhân đẩy mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và các lực lượng đối lập ngày càng trở nên găy gắt Để giải quyết mâu thuẫn đó xã hội đòi hỏi phải thay thế nhà nước độc tài, chuyên chế bằng nhà nước pháp quyền, quản lý xã hội bằng pháp luật Thắng lợi của cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến tàn bạo, chuyên chế, độc tài và vô pháp luật, và sự ra đời của của nhà nước pháp quyền tư sản đã chứng minh cho khuynh hướng phát triển tất yếu đó

Ngày đăng: 28/06/2014, 00:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w