1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

nhung-van-de-chung-ve-thue pptx

31 163 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 259,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong các khái niệm về thuế được thừa nhận chung là: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, khô

Trang 1

PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ

I Khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò của thuế

1 Khái niệm thuế

Sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời,tồn tại và phát triển của Nhà nước Để duy trì sự tồn tại của mình và thựchiện các chức năng, nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh, quốcphòng Nhà nước cần phải có những nguồn lực vật chất nhất định Theo

đó, Nhà nước sẽ thực hiện điều tiết một bộ phận của cải của xã hội từ khuvực tư sang ngân quỹ quốc gia bằng nhiều hình thức khác nhau: phát hànhthêm tiền, phát hành trái phiếu để vay trong nước và ngoài nước, bán mộtphần tài sản quốc gia, thu thuế Trong đó thu thuế là quá trình điều tiếtmang tính chất bắt buộc, các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao mộtphần của cải của mình cho Nhà nước mà không gắn với bất kỳ sự ràngbuộc nào về sự hoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về thuế tuỳ theo cách thứctiếp cận nghiên cứu:

Trên giác độ kinh tế học, người ta cho rằng thuế là một biện phápđặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển mộtphần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chứcnăng kinh tế - xã hội của Nhà nước

Trên giác độ phân phối thu nhập thì thuế là hình thức phân phối vàphân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thànhcác quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu choviệc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắtbuộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nướctheo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ Nhà nước

Như vậy, các quan niệm trên đều đề cập đến các nội dung cơ bảnnhư: nguồn lực chuyển giao, quyền lực Nhà nước và chức năng, nhiệm vụcủa Nhà nước Một trong các khái niệm về thuế được thừa nhận chung là:

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các pháp nhân, thể nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn

xã hội.

Ngoài các khoản thu về thuế, Nhà nước còn thu các khoản phí và lệphí Đây là các khoản thu mà một tổ chức hay cá nhân phải trả khi được cơquan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân được Nhà nước uỷ quyền cung cấpcác hàng hoá, dịch vụ công cộng

Phí là khoản thu nhằm thu hồi chi phí đầu tư cung cấp các dịch vụcông cộng không thuần tuý theo quy định của pháp luật và là khoản tiền mà

Trang 2

các tổ chức, cá nhân phải trả khi sử dụng các dịch vụ công cộng đó Ví dụ:phí kiểm dịch động vật, phí đo đạc và lập bản đồ hành chính

Lệ phí là khoản thu gắn liền với việc cung cấp trực tiếp các dịch vụhành chính pháp lý của Nhà nước cho các thể nhân, pháp nhân nhằm phục

vụ cho công việc quản lý hành chính Nhà nước theo quy định của phápluật Ví dụ: lệ phí đăng ký kinh doanh, lệ phí công chứng

2 Đặc điểm của thuế

2.1 Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước

Thuế luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước, thể hiện tính pháp

lý tối cao của thuế:

- Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong HiếnPháp - Đạo luật gốc của một quốc gia: Điều 22 và Điều 80 Hiến pháp nước

Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 quy định “Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật ”, “Công dân có nghĩa

vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật”.

- Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuếnào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - cơquan quyền lực Nhà nước tối cao: Điều 84 Hiến pháp nước Cộng hoà

XHCN Việt Nam năm 1992 quy định Quốc hội có những quyền“ ; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế”.

- Nhà nước thực hiện thu thuế dựa trên những cơ sở pháp luật nhấtđịnh, đó là các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước banhành (Luật, Nghị định, Thông tư )

2.2 Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước

Khi Nhà nước thực hiện thu thuế, người nộp thuế có nghĩa vụ đóngcác khoản thuế theo luật định Việc đóng các khoản thuế này không gắn vớilợi ích cụ thể của người nộp thuế, tức là không kèm theo bất kỳ một sự cấpphát hoặc quyền lợi từ phía Nhà nước, do đó khó có thể đòi hỏi người nộpthuế tự nguyện thực hiện đóng thuế Để đảm bảo thu được thuế Nhà nướcphải sử dụng quyền lực chính trị bắt buộc người nộp thuế chuyển giao mộtphần thu nhập cho Nhà nước

2.3 Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp

Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện trên cáckhía cạnh:

Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính

chất đối giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giaocho Nhà nước không dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng nhữngdịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Phần giá trị mà

Trang 3

người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoảnthuế mà họ đã nộp cho Nhà nước

Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn

trả trực tiếp cho người nộp thuế Người nộp thuế sẽ nhận được một phầncác hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộngđồng Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hànghoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước

3 Chức năng, vai trò của thuế

3.1 Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước

Thuế là phương tiện để Nhà nước tập trung một phần tổng sản phẩmquốc nội (GDP) vào Ngân sách Nhà nước, thể hiện bằng tỷ lệ phần trămGDP được động viên vào NSNN Trên cơ sở đó, Nhà nước chi tiêu để duytrì sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế xã hội của mình(chi quản lý hành chính Nhà nước, chi đầu tư phát triển, chi quốc phòng anninh, cung cấp hàng hoá công cộng…) Hiện nay, thuế là nguồn thu có tỷtrọng lớn nhất trong tổng thu NSNN của các nước có nền kinh tế thịtrường

Việc huy động số thu cho NSNN gắn liền với chức năng, nhiệm vụcủa cơ quan hành chính nhà nước: nếu chỉ thực hiện nhiệm vụ chi cho hoạtđộng hành chính thì số thu sẽ được huy động ở mức độ thấp, nếu Nhà nướcđảm nhiệm cung cấp một số dịch vụ công cộng thì số thu cần huy động sẽnhiều lên Tuy nhiên, các nguồn thu huy động vào NSNN không phải lúcnào cũng cân đối với nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nếu việc chi tiêu củaNhà nước lớn hơn các nguồn thu huy động được thì sẽ dẫn tới tình trạngbội chi NSNN Bội chi NSNN với tỷ lệ cao, quy mô lớn có thể gây ra lạmphát, tăng lãi suất thị trường, cản trở đầu tư… Vì vậy, việc xác định mứchuy động GDP vào NSNN (thuế đóng vai trò quan trọng) cũng như tỷ lệbội chi hợp lý sẽ góp phần làm lành mạnh tài chính Nhà nước, góp phần ổnđịnh và tăng trường kinh tế quốc gia

Ở Việt Nam, tỷ lệ huy động GDP vào NSNN đạt tỷ lệ trên 20% quacác năm, mức bội chi duy trì ở mức hợp lí, cụ thể:

Năm (không kể tăng thu do giá dầu thôTỷ lệ thu NSNN/GDP (%)

tăng giá)

Tỷ lệ thuế, phí/GDP (%)

Tỷ lệ bội chi NSNN/GDP (%)

(Nguồn: Bộ Tài chính)

3.2 Điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trong khi huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước thì thuế cũngthực hiện điều tiết kinh tế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế

Trang 4

khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế,xây dựng các mức thuế phải nộp phù hợp , qua đó kích thích các hoạtđộng kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp với lợi ích của xã hội Việcđiều tiết kinh tế của thuế gắn liền với vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế củaNhà nước, Nhà nước sử dụng thuế để tác động đến nền kinh tế quốc dân:điều chỉnh chu kỳ kinh tế, cơ cấu ngành, khu vực và từng vùng lãnh thổ

Cụ thể:

- Điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế: đây là một trong những nội dung

quan trọng của quá trình sử dụng công cụ thuế điều chỉnh vĩ mô nền kinh

tế Trong nền kinh tế thị trường thì sự phát triển theo chu kỳ là điều khôngthể tránh khỏi Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định, Nhà nước đã sửdụng thuế để điều chỉnh quá trình đó Trong những năm khủng hoảng vàsuy thoái kinh tế, Nhà nước có thể hạ thấp mức thuế, tạo ra những điềukiện ưu đãi về thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăngđầu tư và mở rộng sức sản xuất Điều đó có thể đưa nền kinh tế thoát khỏikhủng hoảng nhanh chóng Ngược lại, trong thời kỳ phát triển quá mức, cónguy cơ dẫn đến mất cân đối, bằng cách tăng thuế, thu hẹp đầu tư, Nhànước có thể giữ vững nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đặt ra

- Thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý theo yêu cầu của

từng giai đoạn phát triển nền kinh tế Bằng việc ban hành hệ thống thuế,Nhà nước sẽ quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuếsuất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các mặt hàng cụ thể Thông qua đóNhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của những ngành kinh tế quantrọng hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo sự cân đốigiữa các ngành nghề trong nền kinh tế

- Điều chỉnh tích luỹ tư bản: sản xuất chiếm hữu và tư bản hoá lợi

nhuận luôn luôn là mục đích cơ bản của hoạt động kinh doanh trong nềnkinh tế thị trường, Nhà nước cần sử dụng thuế để điều chỉnh sự tích luỹ đóphù hợp lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế và lợi ích xã hội Mặt khác,

sự phát triển nền kinh tế luôn đòi hỏi phải tăng nhanh vốn đầu tư cơ bản, đểphát triển nền kinh tế quốc dân, Nhà nước cần phải khuyến khích tích luỹ

và tích tụ trong các doanh nghiệp, để tạo ra nguồn vốn đầu tư Việc thayđổi các chính sách thuế của Nhà nước có thể ảnh hưởng đến quy mô và tốc

độ tích luỹ tư bản, do đó tác động đến quá trình đầu tư phát triển kinh tế

- Thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước Thông qua điều

chỉnh mức thuế xuất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà gây nên áp lựctăng giá hàng nhập khẩu, giảm khả năng cạnh tranh so với hàng sản xuấttrong nước, từ đó điều chỉnh khối lượng hàng hoá đưa ra thị trường và đưavào để thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nước và bảo vệ lợi ích của thịtrường nội địa

Trang 5

Tác động điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế chỉ đem lại hiệu quảthiết thực khi công cụ thuế được Nhà nước áp dụng theo các phương phápđiều chỉnh thích hợp đến các đối tượng điều chỉnh của thuế Trong thựctiễn thế giới có rất nhiều phương thức Nhà nước sử dụng công cụ thuế đểtác động đến nền kinh tế Có thể chỉ ra một số phương pháp điều chỉnh chủyếu của thuế như sau:

- Thay đổi thuế suất:

Thông qua việc quy định đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vàocác đối tượng chịu thuế, Nhà nước tác động đến mối quan hệ giữa cung,cầu trên thị trường, làm ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, tiết kiệm và đầu

tư của doanh nghiệp và dân cư, từ đó thực hiện điều tiết vĩ mô nền nền kinh

tế

- Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế:

Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể cũng như yêu cầu, mục tiêu của nềnkinh tế từng thời kỳ, Nhà nước có thể thực hiện ưu đãi thuế, tạo điều kiệnthuận lợi trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế để kíchthích tăng tích luỹ và tích tụ vốn trong các doanh nghiệp và dân cư, gópphần đẩy mạnh đầu tư và tăng trưởng kinh tế

3.3 Điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

Thuế là công cụ để Nhà nước can thiệp vào quá trình phân phối thunhập, của cải của xã hội, hạn chế sự chênh lệch lớn về mức sống, về thunhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội

Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư có thể được thựchiện thông qua các sắc thuế trực thu, điều tiết trực tiếp thu nhập của ngườinộp thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp ), đặc biệtthuế thu nhập cá nhân có sử dụng thuế suất luỹ tiến sẽ có tác dụng rất lớntrong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội

Ngoài ra, việc điều hoà thu nhập có thể được thực hiện một phầnthông qua các sắc thuế gián thu Ví dụ như thuế tiêu thụ đặc biệt, loại thuếnày có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng caocấp, đắt tiền, các hàng hoá, dịch vụ này thông thường chỉ có những người

có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều,qua đánh thuế điều tiết bớt một phần thu nhập của họ

II Phân loại thuế

Trong thực tế có nhiều tiêu thức phân loại thuế, tuỳ theo điều kiệnhoàn cảnh và yêu cầu quản lý thuế của mỗi nước mà có sự lựa chọn cáchphân loại thuế khác nhau (dựa vào phương thức đánh thuế, dựa vào cơ sởtính thuế, dựa theo phạm vi điều chỉnh của sắc thuế, dựa theo tên gọi củasắc thuế, theo tính chất thuế suất ) Dưới đây là một số tiêu thức phân loạithuế cơ bản thường được áp dụng:

1 Phân loại theo phương thức đánh thuế

Trang 6

Căn cứ vào phương thức đánh thuế là đánh thuế một cách trực tiếphay gián tiếp vào thu nhập, có thể chia hệ thống thuế thành hai loại: thuếtrực thu và thuế gián thu.

1.1 Thuế trực thu

Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sảncủa người nộp thuế Theo đó, đối tượng nộp thuế theo luật quy định đồngnhất với người phải chịu thuế

Về nguyên tắc, loại thuế này mang tính chất thuế luỹ tiến, vì nó tínhđến khả năng của người nộp thuế, người có thu nhập cao hơn phải nộp thuếnhiều hơn, còn người có thu nhập thấp thì nộp thuế ít hơn

Ở Việt Nam, các sắc thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanhnghiệp; thuế thu nhập cá nhân; thuế tài nguyên; thuế sử dụng đất nôngnghiệp; thuế nhà, đất

Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập củatừng tổ chức, cá nhân có thu nhập, hơn thế nữa, thuế trực thu còn cho phépxem xét đến các yếu tố tương đối độc lập đến thu nhập của người nộp thuế,như hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh gia đình Do đó, thuế trực thu có tácdụng rất lớn trong việc điều hoà thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể

về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, do đó đã bảo đảm được tính côngbằng trong xã hội

Nhược điểm của thuế trực thu là dễ gây ra phản ứng từ phía ngườinộp thuế khi Nhà nước điều chỉnh tăng thuế Hơn nữa việc theo dõi, tínhtoán số thuế phải nộp và thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp Số thuđộng viên vào Ngân sách thường chậm và chi phí quản lý thu thuế khá tốnkém

1.2 Thuế gián thu

Thuế gián thu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tàisản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hànghoá, dịch vụ Theo đó, người nộp thuế theo luật và người chịu thuế khôngđồng nhất với nhau, người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chính là người chịuthuế

Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành giá cả hàng hoá, dịch vụ,trong giá hàng hoá, dịch vụ người tiêu dùng mua đã bao gồm cả thuế.người sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ sẽ “nộp thay” người tiêu dùng

số thuế này vào NSNN

Về nguyên tắc, thuế gián thu mang tính chất luỹ thoái vì nó khôngtính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao haythấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ.Tuy nhiên, nếu so với tổng thu nhập trong kỳ thì tỷ lệ thu nhập nộp thuếcủa những người có thu nhập thấp sẽ cao hơn tỷ lệ nộp thuế của người cóthu nhập cao

Trang 7

Ở Việt Nam, các sắc thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng,thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Ưu điểm của thuế gián thu là đối tượng chịu thuế rất rộng Thuế giánthu được ẩn vào giá bán hàng hoá, dịch vụ nên người chịu thuế thườngkhông cảm nhận được gánh nặng của loại thuế này, có thể tự do lựa chọnhàng hoá, quyết định tiêu dùng theo túi tiền của mình Thuế gián thu đemlại nguồn thu thường xuyên và ổn định cho Ngân sách Nha nước Đốitượng quản lý thu thuế cũng tập trung hơn, nghiệp vụ tính và thu thuế thuếđơn giản, nên chi phí quản lý thuế cũng thấp hơn so với thuế trực thu

Nhưng loại thuế này cũng có nhược điểm là có tính chất luỹ thoáinên không đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế Nếu tính tỷ lệđộng viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu có tỷ lệ động viênthuế chịu thuế thấp hơn so với người nghèo

- Xác định mối quan hệ hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu:

Thuế trực thu hay thuế gián thu đều có những nét đặc trưng riêng, có

ưu điểm và nhược điểm riêng của mỗi loại thuế Vì vậy, tuỳ theo đặc điểmtrình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước (tốc độ tăng trưởng kinh tế,mức thu nhập của dân cư và quy mô tích luỹ của doanh nghiệp ) cũngnhư yêu cầu của Nhà nước trong hoạt động quản lý của mình, người ta sẽxác định một tương quan theo tỷ lệ giữa chúng Trong điều kiện năng suất,chất lượng và hiệu quả kinh doanh thấp, thu nhập thực tế của dân cư khôngcao thì nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước sẽ là thuế gián thu vàngược lại

2 Phân loại theo cơ sở tính thuế

Nếu căn cứ vào cơ sở tính thuế để phân loại thuế thì có thể chiathành ba loại như sau:

2.1 Thuế thu nhập

Thuế thu nhập là loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được.Thu nhập kiếm được hình thàn từ nhiều nguồn: từ lao động dướidạng tiền lương, tiền công; thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanhdưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần do đó thuế thu nhập cũng có nhiềudạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế chuyển thunhập ra nước ngoài

Thuế tài sản là loại thuế có cơ sở đánh thuế là giá trị tài sản

Tài sản có nhiều hình thức biểu hiện:

Trang 8

- Tài sản tài chính gồm có tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thươngphiếu

- Tài sản cố định gồm nhà cửa, đất đai, máy móc, nhà máy, xe cộ

- Tài sản vô hình như nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kỹ thuật

Thuộc loại thuế tài sản là các sắc thuế như thuế nhà đất, thuế sử dụngđất nông nghiệp

3 Phân loại theo mức thuế

3.1 Thuế đánh theo tỷ lệ %

Thuế đánh theo tỷ lệ % là loại thuế đánh theo hình thức áp dụng một

tỷ lệ hoặc phần trăm, hoặc lần trên các cơ sở tính thuế Đây là hình thức ápdụng phổ biến trong các loại thuế hiện nay Trong thuế tỷ lệ có thể phân rathành 3 loại cụ thể như sau:

- Thuế lũy tiến: là loại thuế áp dụng tỷ lệ tăng dần theo các mức tăng

của cơ sở tính thuế Cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất càng cao.Trong thuế lũy tiến có hai hình thức: thuế lũy tiến từng phần và thuế lũytiến toàn phần

+ Đối với thuế lũy tiến từng phần: áp dụng mức thuế suất tăng dầntheo từng phần tăng lên của cơ sở đánh thuế Với các sắc thuế áp dụng loạithuế suất này trong biểu thuế suất, cơ sở đánh thuế được chia thành nhiềubậc theo mức độ tăng dần Ứng với mỗi phần tăng lên trong từng bậc thuế

đó là một mức thuế suất Số thuế mà đối tượng nộp thuế phải nộp bằngtổng số thuế tính theo từng bậc Việc tính toán và kiểm tra loại thuế nàynhìn chung khá phức tạp, nhưng nó đảm bảo số thuế phải nộp tăng từ từ,không bị đột biến cùng tốc độ tăng của cơ sở đánh thuế Do đó, đảm bảođược tính công bằng theo chiều dọc và có tác dụng lớn trong việc điều tiếtthu nhập Chính vì vậy, thuế thu nhập cá nhân đang được áp dụng trên thếgiới và ở Việt Nam là loại thuế áp dụng thuế suất luỹ tiến từng phần

+ Đối với thuế lũy tiến toàn phần: biểu thuế suất cũng chia làm nhiềubậc với mỗi mức tăng lên của thuế suất, nhưng toàn bộ cơ sở đánh thuếđược áp dụng một mức thuế suất chung tương ứng Thuế suất luỹ tiến toànphần cho phép xác định số thuế phải nộp khá đơn giản và nhanh chóng.Tuy vậy, nó cũng có nhược điểm là gây ra sự thay đổi có tính chất đột biến

về tổng số thuế phải nộp của đối tượng nộp thuế ở những mức thu nhập cậnbiên giữa hai bậc thuế Mặc dù gía trị của cơ sở đánh thuế thay đổi khôngđáng kể, nhưng sự thay đổi về số thuế phải nộp rất đáng kể do phải áp dụngcác mức thuế khác nhau trên toàn bộ cơ sở đánh thuế Chính vì vậy, ápdụng thuế suất luỹ tiến toàn phần dễ dẫn đến sự phản ứng từ phía các ngườinộp thuế và như vậy tất yếu làm giảm vai trò của thuế Hiện nay, thuế suấtluỹ tiến toàn phần rất ít được áp dụng trên thế giới

Trang 9

- Thuế lũy thoái: là loại thuế mà mức thuế suất giảm dần trong khi cơ

sở đánh thuế lại tăng dần Cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất cànggiảm

Tương tự với thuế lũy tiến, thuế lũy thoái cũng có hai hình thức: lũythoái toàn phần và lũy thoái từng phần Thông thường các nước áp dụngthuế lũy thoái để khuyến khích các đối tượng nộp thuế nhiều Hà Lan trướcđây đã dùng thuế lũy thoái đánh vào thu nhập công ty để thu hút các khoảnđầu tư lớn, thúc đẩy quá trình tích lũy vốn Nói chung, thuế suất luỹ thoái

là loại thuế suất không được áp dụng phổ biến

- Thuế tỷ lệ cố định: là loại thuế áp dụng một thuế suất cố định trên

cơ sở tính thuế mà không phụ thuộc vào quy mô cũng như sự tăng, giảmcủa cơ sở tính thuế Thuế tỷ lệ cố định thường được áp dụng để các cơ sởkinh doanh dễ hạch toán và tính toán trong quá trình kinh doanh

3.2 Thuế đánh trên mức tuyệt đối

Thuế đánh trên mức tuyệt đối là loại thuế được xác định bằng cách

ấn định một số thu bằng tiền trên một đơn vị tính thuế như trọng lượng,khối lượng, diện tích, đơn vị sản phẩm của đối tượng chịu thuế

Điểm khác nhau cơ bản giữa thuế đánh trên mức tuyệt đối và thuếđánh theo tỷ lệ phần trăm (%) là thuế đánh trên mức tuyệt đối có mức thu

cố định, không phụ thuộc vào giá kê khai tính thuế của đối tượng chịu thuế

Do vậy, thuế đánh trên mức tuyệt đối có ưu điểm bảo đảm tỷ lệ động viênthuế và chống trốn thuế do khai báo giá tính thuế thấp, đặc biệt đối với cácmặt hàng có thuế suất cao và dễ áp dụng trong các trường hợp hàng hóakhó xác định được giá trị hay giá trị thấp mà chi phí xác định giá tính thuếcao

4 Phân loại theo chế độ phân cấp và điều hành ngân sách

Dựa vào tiêu thức này, thuế được phân thành: thuế trung ương vàthuế địa phương

4.1 Thuế trung ương

Thuế Trung ương là loại thuế được Nhà nước ban hành luật pháp vàđiều tiết 100% vào NSNN ở Trung ương

Tuy nhiên, cũng có quốc gia thực hiện phân chia số thu theo tỷ lệnhất định trong thuế suất dành cho các địa phương sau khi thu

4.2 Thuế địa phương

Thuế địa phương là loại thuế được Nhà nước quy định thu trên phạm

vi lãnh thổ được phân công quản lý và được điều tiết vào NSNN ở địaphương 100%

Như vậy, thuế Trung ương bao gồm các nguồn thu lớn từ các hoạtđộng sản xuất kinh doanh có phạm vi rộng lớn trên lãnh thổ quốc gia hoặcthu từ các tài nguyên lớn thuộc sở hữu nhà nước Thuế địa phương baogồm các nguồn thu phát sinh trên địa bàn, phần lớn có quy mô vừa và nhỏ,

Trang 10

đối tượng nộp thuế nhiều Vấn đề đặt ra là cần có phương thức điều tiếtngân sách hợp lý giữa thuế trung ương và thuế địa phương nhằm thúc đẩycông tác quản lý thu thuế ở địa phương, tăng tính pháp chế của chính sáchthuế và tăng thu ngân sách.

III Các yếu tố cấu thành một sắc thuế

Thuế thực hiện việc huy động một phần thu nhập thu nhập của các tổchức, cá nhân vào Ngân sách Nhà nước thông qua một hình thức biểu hiện

cụ thể bằng một sắc thuế Mỗi sắc thuế đều phải được quy định bằng mộtvăn bản pháp luật (Luật thuế, Pháp lệnh thuế ) Trong một sắc thuế thôngthường chứa đựng các yếu tố cơ bản sau đây:

1 Tên gọi

Tên gọi của một sắc thuế thường phản ánh nội dung chính của nó và

để phân biệt với những loại thuế khác Vì vậy, yêu cầu khi đặt tên gọi chomột sắc thuế cần ngắn, gọn, dễ hiểu

Có thể đặt tên sắc thuế theo đối tượng đánh thuế (thuế thu nhậpdoanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng ), theo từng mặt hàng (thuế rượu, thuếthuốc lá…) hoặc theo nội dung (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu…)

là thuế trực thu, sắc thuế mà người chịu thuế không trực tiếp mang tiền nộpcho NSNN là thuế gián thu

3 Đối tượng chịu thuế

Đối tượng chịu thuế là đối tượng được đưa ra để đánh thuế, là căn cứ

để xác định số tiền thuế phải nộp

Đối tượng chịu thuế thường được xác định là thu nhập, hàng hoá haytài sản Mỗi một sắc thuế có đối tượng chịu thuế riêng, ví dụ đối tượng chịuthuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước; còn đốitượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng có tínhchất đặc biệt; đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập từhoạt động kinh doanh; đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân là thu nhậpcác cá nhân

Đối tượng chịu thuế thường được tính trên một đơn vị giá trị hoặcmột đơn vị vật lý

Trang 11

có cơ sở tính thuế là diện tích và hạng đất.

4.2 Mức thuế

Mức thuế thể hiện mức độ động viên của Nhà nước trên một đơn vị

so với cơ sở tính thuế và được biểu hiện dưới hình thức thuế suất hay địnhsuất thuế

Có thể nói, thuế suất hay định suất thuế là linh hồn của một sắc thuế,

vì nó thể hiện nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính cho Ngân sách Nhànước và biểu hiện chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước, đồngthời cũng là mối quan tâm hàng đầu của người nộp thuế Vì vậy, việc xácđịnh thuế suất hay định suất thuế trong một sắc thuế phải quán triệt quanđiểm vừa coi trọng lợi ích quốc gia, vừa chú ý đến lợi ích thích đáng củangười nộp thuế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và tích tụ trongviệc sử dụng công cụ thuế

Tuỳ theo quy định của từng sắc thuế mà người ta áp dụng các loạithuế suất hay định thuê suất khác nhau, nhìn chung có các loại sau:

- Thuế suất thống nhất: là loại thuế suất quy định mức nộp thuế nhưnhau cho tất cả đối tượng chịu thuế Ví dụ như thuế thân, nhưng hiện nayloại thuế này ít được áp dụng

- Thuế suất tính theo đơn vị hiện vật: là loại thuế suất tính bằng sốtuyệt đối theo một đơn vị vật lý của đối tượng chịu thuế Ví dụ: 1 lít xăngphải chịu thuế là 500 đồng

- Thuế suất ổn định: là loại thuế suất quy định theo một tỷ lệ nhấtđịnh như nhau trên cơ sở tính thuế Dù cơ sở tính thuế cao hay thấp thìngười nộp thuế chỉ nộp theo tỷ lệ ổn định Ví dụ: thuế suất thuế TNDN ổnđịnh là 25% trên thu nhập tính thuế, không phân biệt thu nhập tính thuế lớnhay nhỏ

- Thuế suất theo giá trị: là loại thuế suất quy định tỷ lệ phần trăm (%)huy động trên một đơn vị giá trị đối tượng chịu thuế, hay số tiền tuyệt đốitrên một đơn vị tính thuế, bao gồm các loại: thuế suất luỹ tiến (thuế suất luỹtiến toàn phần, thuế suất luỹ tiến từng phần), thuế suất luỹ thoái

Khi xây dựng thuế suất cần chú ý đến nguyên tắc cơ bản sau:

Trang 12

Thứ nhất, thuế suất cần tương đối phù hợp với khả năng thu thuế củamọi đối tượng để người chịu thuế bớt cảm thấy gánh nặng của thuế.

Thứ hai, thuế suất mang lại nguồn thu lớn cho NSNN nhưng khôngcản trở, thậm chí có thể kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung

và sự tăng trưởng của doanh nghiệp nói riêng

5 Ưu đãi thuế

Nhằm mục đích khuyến khích phát triển sản xuất, thu hút đầutư trong các sắc thuế thường có các quy định về ưu đãi thuế Ưu đãi thuếđược thực hiện dưới một số hình thức chủ yếu sau:

- Ưu đãi về thuế suất: là việc quy định áp dụng thuế suất thấp hơnthuế suất tiêu chuẩn và thường được áp dụng đối với các ngành, nghề hoặccác khu vực được lựa chọn ưu đãi

- Ưu đãi về miễn thuế, giảm thuế:

+ Ưu đãi miễn, giảm thuế ban đầu, có thể là toàn phần hoặc từngphần Miễn thuế hoàn toàn trong một thời gian nhất định được gọi là miễngiảm thuế toàn phần, còn chỉ một tỷ lệ % thu nhập chịu thuế bị đánh thuếđược gọi là miễn giảm thuế từng phần (hay miễn giảm một phần thuế banđầu) Miễn giảm thuế từng phần thường được áp dụng khi đã hết thời hạnmiễn giảm thuế toàn phần Hình thức này hiện nay được sử dụng phổ biếnnhất, thời gian miễn giảm thuế ban đầu phụ thuộc vào ngành nghề cũngnhư lĩnh vực đầu tư

+ Miễn giảm thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng: hiện nay cácnước đều sử dụng hình thức miễn giảm thuế nhập khẩu và thuế giá trị giatăng cho các nhà đầu tư để khuyến khích việc nhập khẩu máy móc, thiết bị;hoặc các nhà xuất khẩu đều hưởng thuế suất 0%, theo đó được hưởng chế

độ hoàn thuế giá trị gia tăng

- Ưu đãi về khấu hao nhanh, trợ cấp đầu tư, khấu trừ thuế đầu tư: đây

là những biện pháp được sử dụng thay thế cho ưu đãi miễn giảm thuế banđầu Mặc dù miễn giảm thuế ban đầu là biện pháp ưu đãi dựa trên thuế thunhập được sử dụng phổ biến nhất ở các nước hiện nay nhưng hầu hết cácnước đều có các hình thức ưu đãi thay thế

Hình thức khấu hao nhanh thường được áp dụng kèm với điều kiện doanh nghiệp lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định là phươngpháp đường thẳng Thực chất của hình thức này là cho phép đối tượng nộpthuế thực hiện nghĩa vụ thuế chậm chứ không phải được miễn thuế

Bên cạnh hình thức thay thế khấu hao nhanh còn các hình thức ưuđãi thu hồi chi phí đầu tư như trợ cấp đầu tư, khấu trừ thuế đầu tư Nhữnghình thức này hiện nay chưa được sử dụng phổ biến

- Ưu đãi về chuyển lỗ: là việc cho phép doanh nghiệp kết chuyển lỗsang kỳ sau với thời gian thường là 5 năm, tạo điều kiện cho doanh nghiệptrong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 13

Các hình thức ưu đãi thuế thường gắn liền với các tiêu chí nhất định

và được gọi là điều kiện hưởng ưu đãi thuế, đó có thể là về lĩnh vực, ngànhnghề đầu tư, địa điểm đầu tư, hình thức đầu tư

Việc thực hiện việc ưu đãi thuế có tính hai mặt, nó chứa đựng nhữngyếu tố tích cực, tạo điều kiện thực hiện các chính sách kinh tế xã hội củaNhà nước, nhưng cũng chứa đựng các yếu tố tiêu cực, có thể làm méo mónhững ý tưởng ban đầu khi thiết lập các sắc thuế, không phù hợp với nhữngtiêu chuẩn của một hệ thống thuế hiện đại Vì vậy khi lựa chọn các biệnpháp ưu đãi thuế cần được xem xét dựa trên tính hiệu quả, tính công bằng,đơn giản, minh bạch, công khai và ổn định

IV Hệ thống thuế Việt Nam

1 Một số vấn đề về hệ thống thuế

Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập được tạo ra và luân chuyểntheo một chu trình khép kín: người lao động nhận được tiền công, dùng tiềncông này để mua hàng hoá, dịch vụ của các công ty, đến lượt các công tylại dùng số tiền thu được để trả lãi cho vốn vay để đầu tư, tiền thuê đất, tiềnnhân công và sau đó các đối tượng có thu nhập này lại dùng thu nhập đểchi tiêu dưới nhiều dạng để mua hàng hoá, dịch vụ Chính sự biến đổi đadạng này đã nảy sinh những cơ sở đánh thuế khác nhau, do đó tạo khả năngcho Chính phủ đánh thuế trên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín

và hình thành các hình thức thuế khác nhau

Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau nhằm thực hiện các nhiệm vụ nhất định của Nhà nước trong từng thời kỳ.

Hệ thống thuế đề cập ở đây chủ yếu là hệ thống chính sách thuế,cách quản lý thuế mà một quốc gia sử dụng để điều tiết nền kinh tế

Số lượng các hình thức thuế trong hệ thống thuế nhiều hay ít phụthuộc vào sự vận động của dòng thu nhập trong nền kinh tế đơn giản hayphức tạp hay khả năng kiểm soát và điều chỉnh sự vận động của dòng thunhập trong nền kinh tế của Chính phủ

Ngoài hệ thống chính sách thuế và quản lý thuế, để thực thi pháp luật

về thuế, các quốc gia còn phải có hệ thống các định chế về thuế Đó là tổnghợp các qui định, các biện pháp về nghiệp vụ, về tổ chức, về kinh tế, vềhành chính… và cơ chế vận hành chúng nhằm tổ chức có hiệu quả việcthực thi các luật thuế như: bộ máy quản lý thu thuế; các biện pháp, quytrình nghiệp vụ; hệ thống các tổ chức tư vấn thuế; các trường đào tạothuế…

1.1 Các yếu tố tác động đến hệ thống thuế

- Yếu tố chính trị:

Bản thân thuế là do Nhà nước đặt ra Mà Nhà nước là một tổ chứcchính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành các chính

Trang 14

sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội, do đó hệ thống thuế trướchết phải phục vụ cho các mục tiêu do Nhà nước đặt ra và phục vụ cho ý đồchính trị của giai cấp thống trị

Thể chế chính trị của Nhà nước có ý nghĩa quyết định đến hệ thốngthuế Nếu thể chế chính trị của Nhà nước tổ chức theo chế độ Nhà nướcLiên bang thì trong cơ cấu hệ thống thuế thường bao gồm các loại thuếtrung ương và thuế địa phương, thực hiện quản lý thuế theo cơ quan thuthuế trung ương và cơ quan thuế địa phương riêng biệt nhau Còn nếu thểchế chính trị của Nhà nước tổ chức theo chế độ Nhà nước đơn nhất thìthường chỉ có một hệ thống thuế thống nhất cho cả nước, quản lý thuế theo

hệ thống ngành dọc thống nhất từ trung ương đến địa phương

Yếu tố chính trị có tác động quyết định đến chính sách thuế và quản

lý thuế cũng được thể hiện rõ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Cácchính sách thuế cũng như thủ tục quản lý thuế phải sửa đổi lại cho phù hợpvới các cam kết quốc tế

- Yếu tố xã hội:

Hệ thống thuế được thực thi do các cơ quan quản lý và các tầng lớpdân cư trong xã hội Do đó các yếu tố xã hội như tâm lý tập quán của cáctầng lớp dân cư, truyền thống văn hoá, xã hội của dân tộc, kết cấu giai cấptrong xã hội đều tác động và ảnh hưởng nhất định đến hệ thống thuế

1.2 Các tiêu thức xây dựng hệ thống thuế

Mỗi quốc gia tuỳ theo điều kiện lịch sử kinh tế, xã hội ở từng thời kỳ

cụ thể mà định hướng xây dựng hệ thống thuế riêng của mình Hệ thốngthuế đó phải phản ánh được những mục tiêu của Nhà nước đặt ra Chính vìvậy, cần đặt ra những tiêu thức cần thiết để xây dựng một hệ thống thuếtích cực, hiệu quả Có thể đề cập tới một số tiêu thức chủ yếu như sau:

1.2.1 Tính công bằng

Tính công bằng là một đòi hỏi khách quan trong việc phân chiagánh nặng của thuế khoá đối với các tầng lớp dân cư trong xã hội Có côngbằng trong nghĩa vụ nộp thuế mới động viên các thành phần kinh tế trong

xã hội hăng hái lao động, do đó mới đảm bảo được các mục tiêu kinh tế vàchính trị của đất nước Người ta cho rằng tính công bằng của thuế phải dựa

Trang 15

trên nguyên tắc công bằng theo chiều ngang và nguyên tắc công bằng theochiều dọc.

- Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều ngang, nếu các cánhân có điều kiện về mọi mặt đều như nhau thì được đối xử như nhau trongviệc thực hiện nghĩa vụ thuế Tuy nhiên, nguyên tắc này khó áp dụng trongthực tiễn không thể chỉ rõ được tiêu thức nào để xác định hai cá nhân cóđiều kiện về mọi mặt như nhau, mặt khác cũng khó xác định việc đối xửnhư nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế là như thế nào

- Hệ thống thuế được coi là công bằng theo chiều dọc, nếu người cókhả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế cao hơn những người khác

có khả năng nộp thuế ít hơn Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này cầnxác định rõ hai vấn đề: tiêu thức xác định khả năng và mức độ nộp thuế caohơn Hiện nay, người ta thường dùng tiêu thức thu nhập hoặc tiêu dùng đểđánh giá khả năng nộp thuế của người nộp thuế

Có thể nói, vấn đề công bằng trong thuế khoá là một đòi hỏi kháchquan, nhưng việc đánh giá một hệ thống thuế được coi là công bằng khôngphải là công việc dễ dàng Do đó, công bằng trong thuế khoá vẫn thuộc vềnhận thức và quan điểm của mỗi quốc gia

1.2.2 Tính hiệu quả

Tính hiệu quả của hệ thống thuế được xét trên các mặt sau:

- Thứ nhất, hiệu quả đối với nền kinh tế là lớn nhất:

Xét trên phương diện kinh tế, hành vi đánh thuế của Nhà nước baogiờ cũng ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực của xã hội và chịu sự chiphối của hai tác nhân có xu hướng vận động không đồng nhất là: Nhà nước

và các lực lượng thị trường Sự phân bổ nguồn lực dưới tác động của cáclực lượng thị trường thường dựa trên yêu cầu của các quy luật kinh tế thịtrường, còn sự phân bổ nguồn lực dưới tác động của Nhà nước thường dựatrên yêu cầu của xã hội và yêu cầu của quản lý, điều chỉnh theo chức năngcủa Nhà nước Nói chung sự phân bổ các nguồn lực dưới tác động của cáclực lượng thị trường thường đạt hiệu quả hơn Tuy nhiên do động cơ chủyếu là lợi nhuận, nên xét ở tầm vĩ mô việc phân bổ nguồn lực dưới tác độngcủa các lực lượng thị trường, trong nhiều trường hợp không đem lại hiệuquả chung cho nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy, tất yếu cần phải có sựkết hợp với hệ thống phân bổ nguồn lực của Nhà nước, trong đó có công cụthuế để điều chỉnh các xu hướng vận động khác nhau nhằm đạt hiệu quảchung của nền kinh tế quốc dân

Như vậy tính hiệu quả của hệ thống thuế được xét dưới hai góc độ:giảm tối thiểu những tác động tiêu cực của thuế trong phân bổ các nguồnlực vốn đã đạt hiệu quả dưới tác động của các lực lượng thị trường; tăngcường vai trò của thuế đối với việc phân bổ các nguồn lực chưa đạt đượchiệu quả dưới tác động của các lực lượng thị trường

Ngày đăng: 27/06/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w