GốmViệt-Con đường đi tới tương lai
Trang 1Tên Đề Tài“GốmViệt-Con đường đi tới tương lai”
LỜI MỞ ĐÂÙ
Thăng Long -Hà Nội là nơi hội tụ -nét đẹp trong dịng chảy di sản truyềnthống của lịch sử Nhân kỉ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội hàngloạt cơng trình với quy mơ lớn và ý nghĩa đã được thực hiện cách đây mộtthời gian daì đang chuẩn bị được ra mắt người dân Việt Nam va khách dulịch,quảng bá vơí các nước trong khu vực va trên thế giới Trong cuộc hànhtrình này phải kể đến những cơng trình mang tính lịch sử,những đề taì mangtính truyền thống và nổi bật lên khơng thể thiếu là cơng trình mang hình ảnhgốm Việt Vơí những họa tiết tinh tế từ giai đoạn văn hĩa Đơng Sơn theo cácthời Lý-Trần-Lê-Nguyễn là những nét hoa văn phong phú ma giản dị của cácdân tộc anh em trên khắp daỉ đất Việt là những bức tranh nghệ thuật đươngđại đầy cảm hứng thi ca của các họa sĩ trong nước,của các hoạ sĩ nước ngồimang nặng tình bè bạn Cùng vơí những ý tưởng thiết kế đa dạng giá hìnhảnh biểu cảm,tơn vinh được nét đẹp văn hĩa của lịch sử đất nước,con ngườiViệt Nam,thể hiện được tình cảm cuả bè bạn năm châu dành cho Thăng Long-
Hà Nơị nhân Đại lễ kỉ niệm,kèm theo đĩ là những chất liệu gốm sứ từ khắpnơi trong va ngồi nước đang dồn về hội tụ tại Thăng Long-Hà Nội
Trên Trường Đoạn Gốm Sứ đĩ,chúng em những sinh viên Đại học Kinh
Tế Quốc Dân cũng muồn gĩp một phần sức lực nhỏ bé cuả mình để xây dựngmột đề tài mang tên
“.Gốm Viêt-Con đường đi tới tương lai ” hồ chung vào khơng khí chàomừng Đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội
Trang 2.I Khái quát chung về gốm sứ Việt Nam
* Gốm sứ Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại
Không phải vô cớ mà tên những làng gốm nổi danh đã đi vaò ca dao và gắn
bó với mỗi người Việt Nam là quốc gia được ghi tên vào danh sách những cáinôi của nghề gốm thế giới, Việt Nam tự hào khi làm chủ nghề gốm gần mộtvạn năm qua Trải qua bao dâu bể của thời gian,gốm Việt Nam vẫn mangtrong mình vẻ duyên dáng riêng biệt,không thể lẫn khi đặt cạnh những tácphẩm gốm sứ Trung Hoa,Nhật Bản hay Châu Âu.Cũng vẫn là những nguyênliệu thô sơ truyền thống là đất và nước,lửa nhưng nhờ tài hoa của người thợ
và tâm hồn dân tộc thấm đẫm trong từng sản phẩm nên những nguyên liệutưởng chừng câm lặng ấy luôn có tiếng nói riêng, dù chúng được làm ở dạngđất nung,sành nâu,sành xốp,sành trắng hay đồ sứ
+Từ cuối văn hóa Hòa Bình đến đầu văn hóa Bắc Sơn (cách ngàynay gần 1 vạn năm ), tổ tiên người Việt đã biết lấy thứ đất dày,thô,có pha cáthoặc bã động vật ….để tự tay mình nặn những đồ đựng ,đồ đun nấu và sau khinung qua lửa chúng trở thành những vật dụng đơn giản ấy ,người Việt đãngày càng trở nên thuần thục trong việc tạo nên các sản phẩm gốm có độ tinhxảo hơn, mang cả bản sắc của từng nền văn hóa riêng biệt như văn hóa PhùngNguyên, Đồng Đậu ,Gò Mun thuộc Bắc Bộ : Đông Sơn, Sa Huỳnh ở Trung
Bộ hay Cầu Sắt ở Nam Bộ
+Từ thế kỉ I đến thế kỉ IX Việt Nam rơi vào kì thống trị của phongkiến phương Bắc ,nghề gốm của người Việt vừa tiếp tuc phát triển trên vốnkinh nghiệm cổ truyền vừa tiếp thu những tinh hoa của nghề gốm Trung Hoa Những trung tâm gốm được hình thành và phát triển ở Thanh Hóa với gốmđất trắng, ở Bắc Ninh với gốm nâu và ở cả vương quốc Chăm Pa với đồ đấtnung đã tạo nên sự đa dạng phong phú đặc biệt Người Việt thời kì này cũng
Trang 3đã sáng tạo thêm chất liệu mới là sành xốp , sử dụng đất sét trắng không menhoặc được phủ men ,đồ sành nâu và chủng loại gốm kiến trúc.
*Gốm sứ Việt và tâm hồn Việt
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV là kỉ nguyên của độc lập dân tộc ,nghề gốm ViệtNam càng có điều kiện tiến những bước dài về kĩ thuật và nghệ thuật Đểphục vụ đời sống của triều đình va nhân dân ,các loại đồ sành xốp tráng mendược sản xuất đa dang, tinh xảo với các sản phẩm nổi tiếng như liễn, bát đĩa,
ấm chén bằng gốm hoa nâu , gốm hoa trắng ….đã được ra đời Người ta đãbiết các loại lò cốc ,lò nằm khoét vào đồi núi, lò rồng để nâng nhiệt độ nungcho sản phẩm lên tới 1200oC Giai đoạn này cũng đã hình thành các vùnggốm có tính tập trung và chuyên nghiệp hóa ở Thanh Hóa, Hải Dương, NinhBình .Các sản phẩm gôms Việt Nam đã được xuất khẩu sang TrungQuốc, qua cửa khẩu Vân Đồn (Quảng Ninh)
*Gốm Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh xuất khẩu sang các
nước cũng là nhờ từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX các trung tâm sản xuất gốm nở
rộ và mang tính chuyên nghiệp cao hơn hẳn với những phong cách đa dang vềnguyên liệu ,kiểu dáng, họa tiết cũng như men phủ Nổi tiếng nhất phải kểđến:
.Bát Tràng (Hà Nội), Chu Đậu (Hải Dương) chuyên sản xuất các sản phẩm
sành xốp và sành trắng hoa lam , gốm men màu ,gốm tam sắc
.Thổ Hà (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc) làm sành nâu sắc đỏ hoa men Phù Lãng (Bắc Ninh) làm từ tro bùn hoặc đá Vân Đình (Hà Tây) làm đồ đấtnung
+Đến thế kỉ XX bên cạnh các cơ sở gốm truyền thống một số cơ
sở gốm mới hình thành và trở nên nổi tiếng như gốm Móng Caí (Quảng
Trang 4sản phẩm sứ đầu tiên tại Hải Dương từ nguồn nguyên liệu đất sét trắng,caolanh đã làm cho kho tàng nghệ thuâtj Việt Nam ngày càng phong phú hơn.
Cĩ thể nĩi cùng với thơì gian các sản phẩm gốm Việt Nam càngmang đậm tâm hồn Việt bởi sự sáng tạo vơ cùng phong phú khi tạo nên sự đadang của gốm men má trên men ,gốm men màu vẽ nét chim hoa văn ở BìnhDương Sản phẩm mỗi vùng đều cĩ những nét đẹp rất riêng biệt ,khơng cĩ sựdập khuơn ,sao mâũ khơng phải ngẫu nhiên mà nhiều nước Châu Âu , Châu
Á, đặc biệt Nhật Bản và Đơng Nam Á, Tây Á đã nhập khẩu gốm Việt Namvới số lượng lớn ngay từ thế kỉ XIV, XVI Người chiêm ngưỡng cĩ thể dễdàng nhận biết vẻ đẹp nhuần nhị, tinh tế của một sản phẩm gốm Bát Tràng, vẻkhỏe khoắn, phá cách của gốm Phù Lãng Chính sự hịa quyện tuyệt vời giữađất, nước, lửa với tâm hồn người Việt đã tạo nên một nghề mang đầy tínhnghệ thuật được mọi người dân Việt Nam và bạn bè thế giới trân trọng
*Quy mơ hoạt động
Hiện nay Việt Nam cĩ khoảng 1000 nhà sản xuất khắp ở Bắc, Trung, Namtrong đĩ chủ yếu là do tư nhân tự quản lí Khoảng 50 cơng ty trong số cáccơng ty lớn đáp ứng tiêu chuẩn của Châu Âu Mỗi năm Việt Nam sản xuấtđược khoảng 250 triệu sản phẩm, riêng các tỉnh phía Nam sản xuất khoảng
175 triệu sản phẩm
Hà Nội hiện cĩ 1270 làng nghề được phân bố trên 19 huyện, thị xã Trong
đĩ cĩ nhiều làng nghề “trăm tỷ” và riêng 256 làng nghề đã được cơng nhận làlàng nghề truyền thống (tính đến hết năm 2008) đã đạt giá trị sản xuất 4791 tỉđồng
Trang 5
*Vai trò của sản xuất và xuất khẩu gốm sứ:
+ Gốm sứ Việt Nam đã đóng 1 vai trò không nhỏ trong việc chuyển dịch
cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa
+ Sản xuất gốm sứ còn giúp giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân
dân Ngày 3/2/2010 vừa qua chỉ riêng thành phố Hà Nội đã trao tặng danhhiệu làng nghề truyền thống cho 16 làng nghề mới của năm 2009, nâng sốlàng nghề được công nhận lên thanh 272 làng, hàng năm sẽ tạo ra thêm gần
13000 tỉ, đảm bảo việc làm cho gần 21000 lao động Cùng với đó là 17 nghệnhân mới được phong tặng nâng tổng số nghệ nhân đã được phong tăng lên
116 nghệ nhân Đây là điểm sáng để sáng tác thiết kế và trực tiếp làm ra cácsản phẩm độc đáo có tính mỹ thuật và kinh tế cao Bên cạnh đó đội ngũ nghệnhân này cũng luôn sẵn sàng truyền nghề, dạy nghề cho thế hệ trẻ nguồn nhânlực dồi dào có khả năng tiếp thu nhanh cần cù sáng tạo để các làng nghềtruyền thống được bảo tồn khôi phục và phát triển Mặt khác lực lượng laođộng của Việt Nam khá đông, lại chăm chỉ cần cù nên đã thu hút 1 lực lượnglớn vào làm việc trong nghành này ,càng ngày càng nâng cao vị thế của sảnphẩm trên trường quốc tế
+ Sản xuất gốm còn góp 1 phần lớn vào việc tăng ngoại tệ cho đất nướcTheo số liệu thống kê cuả Tổng cục Hải quan Việt Nam, kim nghạch xuấtkhẩu mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam trong tháng 1/2010 đạt 31,22 triệuÚSD chiếm 0,6% kim nghạch xuất khẩu cuả cả nước, tăng 60,12% so vớitháng cuối năm 2009 và tăng 1,16% so với cùng kì năm ngoái
Tháng 1/2010 Việt Nam xuất khẩu mặt hàng gốm sứ sang 20 thị trường trênthế giới, trong đó thị trường Đức đạt kim nghạch cao nhất với 4,58 triêụ ÚSD
Trang 61 số thị trường đạt kim nghạch ngày càng tăng cao như Đài Loan,Campuchia, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Oxtraylia
Năm 2009 chỉ tính riêng ơ Hà Nội giá trị sản xuất của các làng nghề đã đạt
khoảng 7000 tỉ đồng, chiếm khoảng 10% tôngr giá trị sản xuất công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp toàn thành phố Đăt biệt 1 số làng nghề đạt doanh số caonhư làng gốm sứ Bát Tràng đạt 283 tỉ đồng/năm
+ Xuất khẩu gốm sứ đã mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế, thúc đẩy
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
.Tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm từ các nước bạn.
.Giai quyết được bài toán công nghệ nhập khẩu và chế tạo được các thiết bị
máy móc phục vụ cho sản xuất thay thế việc dùng chủ yếu sức lao động taychân đem lại năng suất lao động cao hơn
.Du nhập được các nền văn hóa phong phú khác, thúc đẩy mối quan hệ
hợp tác, đoàn kết, thân ái, tình hữu nghị
II.Tình hình sản xuất kinh doanh hàng gốm sứ truyền thống tại Việt Nam
1 Tình hình sản xuất- kinh doanh mặt hàng gốm sứ truyền thống tại thị trường trong nước
a, Tình hình sản xuất mặt hàng gốm sứ truyền thống
Trong những năm gần đây, gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam có sự phát triểnmạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Các trung tâm sản xuất chủ yếu của cảnước như Bình Dương, Biên Hoà (Đồng Nai), Vĩnh Long ở phía nam; BátTràng (Hà Nội ), Phũ Lãng (Bắc Ninh), Đông Triều (Quảng Ninh) ở phíaBắc đều hoạt động khởi sắc Các sản phẩm gốm sứ ngày càng phong phú về
Trang 7phong cách, chủng loại, mẫu mã với các hình thức trang trí đa dạng như cácloại chậu hoa, lọ hoa, bát, đĩa, ấm trà, tượng…, đáp ứng mọi yêu cầu củakhách hàng trong cũng như ngoài nước.
Với đội ngũ hùng hậu và sự năng động trong nắm bắt nhu cầu của thịtrường, các nhà sản xuất đã góp phần quan trọng trong việc gốm mỹ nghệViệt Nam vượt qua biên giới về không gian để chiếm lĩnh hàng loạt các thịtrường khó tính Sản xuất và xuất khẩu gốm đạt những tăng trưởng đáng kểvới kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng và được người tiêu dùng ở HồngKông, Nhật Bản, Singapore, các nước cộng đồng Châu Âu, Mỹ và Australiađánh giá rất cao về chất lượng, mẫu mã cũng như giá thành của sản phẩm Với nguồn nguyên liệu chất lượng cao, cùng với những bí quyết sản xuấtlâu đời kết hợp với công nghệ hiện đại ngày nay đang tạo ra những sản phẩmgốm tinh xảo hơn, đáp ứng được nhu cầu và kỳ vọng của người sử dụng trongnước và quốc tế.Các sản phẩm gốm sứ hiện nay rất phong phú, gồm nhiềuchủng loại khác nhau Từ các sản phẩm truyền thống như các loại bình, lọ, ấmchén, bát đĩa , hiện nay đã phát triển thêm nhiều sản phẩm có giá trị cao hơnnhư các sản phẩm gốm sứ trang trí nội ngoại thất, tranh gốm nghệ thuật, đồtrang sức, sứ kỹ thuật, sứ xây dựng
*Những năm gần đây, gốm sứ Việt Nam đã tìm được chỗ đứng trên thị
trường không những trong nước mà còn vươn ra thị trường thế giới thếnhưng trong cơn khủng hoảng kinh tế chưa khôi phục, các làng nghề gốm sứđang lâm vào tình trạng lao đao, thêm vào đó là tình trạng ô nhiễm môitrường, sự cạnh tranh của gốm sứ Trung Quốc làm kim nghạch một số mặthàng gốm sứ giảm đáng kể
Trang 8Thực tế đã cho thấy thực trạng sản xuất của các làng gốm truyền thống cótác động không nhỏ tới tiêu dùng sản phẩm gốm sứ của người dân trong nướccũng như xuất khẩu sản phẩm ra thị trường các nước.
Sau đây là một số yếu tố phản ánh tình hình sản xuất và kinh doanh gốm sứtruyền thống tại các làng nghề
*Các yếu tố đầu vào
.Quy mô vốn đầu tư phát triển gốm trong nước
Có thể nhận thấy, sản xuất ở các làng nghề gốm sứ vẫn là sản xuất nhỏ lẻ,quy
mô vốn không nhiều Có đến 70% số hộ gia đình chỉ có số vốn trên dưới 50triệu
Bảng 2-5: Quy mô vốn của các cơ sở sản xuất gốm sứ của các làng nghề
Quy mô vốn đầu tư phát triển gốm từ nước ngoài
Thực tế đầu tư nước ngoài vào việc sản xuất gốm truyền thống không đáng
kể Chủ yếu là sản xuất gốm dân dụng, xây dựng :các mặt hàng gốm sứ vệsinh, gạch ốp lát…
Tỷ lệ đầu tư nước ngoài vào các nghành gốm sứ
Trang 9 Công nghệ sản xuất và phát triển sản phẩm
Việc áp dụng công nghệ sản xuất và nghiên cứu phát triển sản phẩm gốm
sứ truyền thống chưa thực sự được chú trọng Trong khi đó, các doanh nghiệpsản xuất gốm công nghiệp lại rất quan tâm đến việc này Các sản phẩm gốm
cổ truyền thường rất ít tính độc đáo, chất lượng và mẫu mã hạn chế Đây cũng
là một điểm yếu của gốm sứ truyền thống Việt Nam làm giảm tính cạnh tranhvới các sản phẩm của Trung Quốc và các đối thủ cạnh tranh khác
Trong bối cảnh đó, Hiệp hội gốm sứ xây dựng Việt Nam vừa chính thức
ra mắt Viện Nghiên cứu Công nghệ gốm sứ Việt Nam tại Vĩnh Phúc với mụctiêu thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp gốm sứ Việt Nam Viện sẽhuy động nguồn lực của các thành viên trong Hiệp hội Gốm sứ Xây dựng ViệtNam để tập trung nghiên cứu và hợp tác về khoa học, phát triển công nghệ,phát triển sản phẩm, dịch vụ khoa học công nghệ chuyên ngành vật liệu gốmsứ; tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với hoạtđộng sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp tronglĩnh vực gốm sứ.Bên cạnh đó, Viện sẽ giúp nâng cao năng lực khoa học vàcông nghệ của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm gốm sứ trong nước, giảm
sự phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị và nguyên liệu hóa chất nhập khẩu của
Trang 10nước ngoài cũng như phát huy và sử dụng hiệu quả tiềm năng về nguyên liệugốm sứ và chất xám trong nước.
Lao động cho sản xuất theo độ tuổi, tay nghề
+Theo độ tuổi: Tỉ lệ những người lao đông trong nghành gốm chủ yếu vẫnnăm trong khoảng từ 15-24 tuổi
Lao động là một vấn đề quan trọng đối vối nghành gốm sứ Việt Nam đặcbiệt là gốm sứ cổ truyền Hiện nay các làng gốm sứ ở Việt Nam đều sử dụnglao động tại địa phương Ở các làng gốm tương đối phát triển như Bát Tràng,
đã co thị trường tiêu thụ ổn định, phần lớn lực lượng lao động đã chuyển hẳn
từ nghề nông sang nghề thủ công Điều này dẫn đến tỷ lệ lao động vị thànhniên ở các làng nghề khá cao, chiếm tới 10,25% Một số trẻ em tham gia sảnxuất cùng gia đình, ảnh hưởng đến trình độ, chất lượng học tập của các em và
đi chệch mục tiêu đào tạo Bên cạnh đó , việc sử dụng lao động vị thành niêncũng có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu các sản phẩm này do xu hướng cácnước ngoài đang chú ý ngày càng nhiều đến các tiêu chuẩn xã hội
+Theo tay nghề: Những bậc thợ cao thì dùng để thiết kế sản phẩm cao cấpdùng cho xuất khâủ Những bậc thợ thấp hơn thì tập trung sản xuất các sảnphẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước.Trên thực tế, vấn đề bất cập hiệnnay là sản phẩm có chất lượng cao phụ thuộc vào tay nghề của người thọ Tuynhiên lao động có tay nghề lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu lao độngkhoảng 10% Nhận thức được việc này, một số làng nghề đã chú ý đến đàotạo nghề, nhưng hiệu quả chưa cao
Còn đối với các doanh nghiệp, hàng năm, doanh thu từ gạch ốp lát manglại là trên 1 tỉ USD và tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động trên
cả nước Các sản phẩm công nghiệp do có sự hỗ trợ của máy móc công nghệnên lao động thường có tay nghề không cao
Trang 11 Nguyên, nhiên, vật liệu
+Nguyên liệu chính cho sản xuất gốm sứ là cao lanh, đá trường thạch, đấtsét trắng Các chuyên gia khẳng định rằng Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sảnchất lượng cao, có thể sản xuất men và màu cho sản xuất gốm sứ Cả nướchiện có 123 mỏ cao lanh trữ lượng 640 triệu tấn; 184 mỏ sét đỏ trữ lượng1.130 triệu tấn; 39 mỏ sét trắng trữ lượng 53 triệu tấn; 13 mỏ thạch anh và 20
mỏ cát thạch anh có tổng trữ lượng 2.130 triệu tấn; 25 mỏ dolomit trữ lượng
800 triệu tấn
+Năng lượng được sử dụng trong sản xuất sản phẩm gốm sứ hiện nay làđiện, than, củi, gas Xu thế sử dụng lò gas đang tăng mạnh do các doanhnghiệp cần nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trườngngày càng cao ở trong nước và xuất khẩu Đa số các sản phẩm xuất khẩu đềuđược nung đốt bằng lò gas Nung bằng lò gas cho sản phẩm đạt chất lượngcao và đồng đều, tỷ lệ thành phẩm cao Tuy vậy, tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng
lò thủ công truyền thống đốt than còn rất cao (Ví dụ, ở làng nghề Bát Tràng có
600 lò đốt than so với 320 lò gas) Nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình sử dụng lòthủ công đốt than để sản xuất sản phẩm có tính đại trà, giá rẻ có thể cạnh tranhvới hàng Trung Quốc
Do lò thủ công truyền thống còn chiếm số lượng lớn nên ô nhiễm môitrường đang là vấn đề bức bách trong sản xuất gốm sứ, đặc biệt trong các làngnghề tập trung nhiều cơ sở sản xuất Ô nhiễm do khí thải, bụi than đang ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân trong các làng nghề
Việc thúc đẩy công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng, đặc biệt là sử dụng
lò gas sẽ đưa đến cuộc cách mạng giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, tănghiệu quả sản xuất kinh doanh sản phẩm gốm sứ
Trang 12*Các yếu tố đầu ra
Thị trường hướng tới
+Đến nay, gốm sứ đóng một vai trò không thể thiếu trong đời sống văn hoá
và tiêu dùng của người Việt Nam, cũng như đã có một vị trí đáng kể tại nhiềuquốc gia trên trên giới.Sản phẩm gốm sứ phong phú, đa dạng được thị trườngtrong nước chấp nhận nhưng thực sự chưa được đánh giá cao
+Đối với sản phẩm tiêu thụ ở thị trường trong nước, sản phẩm của làng nghềnói chung đa số được tiêu thụ trên tất cả các tỉnh thành đặc biệt hai thành phốlớn là HàNội, T.P Hồ Chí Minh… Các sản phẩm được tiêu thụ trong nướcchủ yếu thông qua hai kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp
+Bên cạnh đó, hệ thống tiêu thụ sản phẩm của các cơ sở sản xuất gốm ở cáclàng nghề cũng có sự khác nhau Ví dụ như ở Bát Tràng, phần lớn sản phẩmtiêu thụ trong nước dựa trên cơ sở hợp đồng, một phần nhỏ được bán trực tiếptại cửa hàng và cho khách du lịch Các làng nghề khác thường qua các nhàbán buôn đến tay người tiêu dùng tại các chợ hoặc siêu thị
Việc các sản phẩm được tiêu thụ khá ổn định do một mặt các sản phẩm nàyphần lớn đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người Ví dụ như bát đĩa, bình, lọ,chum, vại…bên cạnh đó, những nhà sản xuất đã chú ý đến việc cải tiến sảnphẩm để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng không những chỉ ở trong nước
mà cả thị trường ngoài nước
Các hoạt động marketing, xúc tiến sản phẩm
Mặc dù có những thành tựu như vậy song việc tiêu thụ sản phẩm của gốm
sứ truyền thống còn bộc lộ nhiều hạn chế
-Nếu sản xuất hoàn toàn theo nhu cầu thị trường thì sản phẩm mất tínhvăn hóa truyền thống, mất nét đặc trưng
Trang 13-Khả năng tiếp cận với thị trường đầu ra chưa hiệu quả
-Khả năng cạnh tranh của sản phẩm gốm Việt Nam còn thấp do mẫu mã nóichung còn đơn điệu, chất lược sản phẩm thấp
-Vai trò quản lý của các cấp chính quyền, hiệp hội ngành nghề trong việc điềuphối, tìm kiếm thị trường còn chưa được thể hiện rõ
-Cho đến nay, các làng gốm còn thiếu sự chủ động trong nghiên cứu thịtrường, hoạt động quan hệ khách hàng và những hoạt động xúc tiến khác chưathật sự mang lại kết quả như mong muốn
- Hoạt động nghiên cứu để phát triển, mở rộng sản phẩm và thương hiệusản phẩm gốm chưa được chú trọng Những sản phẩm mang tính nghệ thuậtchưa được quan tâm phát triển
+Bên cạnh đó, các sản phẩm gốm sứ công nghiệp các doanh nghiệp đã nhậnthức rõ ràng được tầm quan trọng của hoạt động marketing, tiếp cận với thịtrường thực sự chuyên nghiệp và có khoa học hơn Các trang web giới thiệusản phẩm, danh mục sản phẩm và xúc tiến thương mại được áp dụng một cách
có hiệu quả Tập đoàn Prime là một ví dụ điển hình, không chỉ là một doanhnghiệp hàng đầu Việt Nam về sản xuất gốm sứ xây dựng, họ đã tạo cho mìnhmột chỗ đứng vững chắc trên thị trường thế giới.Thành lập năm 1999,vớichiến lược marketing và các chiến lược mở rộng lĩnh vực hoạt động, đến nayTập đoàn Prime Group đã trở thành một tập đoàn đầu tư đa ngành với 21 công
ty thành viên và 12 công ty liên kết, liên quan Prime Group hoạt động trêncác lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng, kinh doanh bất động sản, đầu tưxây dựng và khai thác khu công nghiệp, khu đô thị Tập đoàn này đã và đangthực hiện mục tiêu trở thành tập đoàn đa ngành và phát triển theo hướng bềnvững trong tương lai
Trang 14+Năm 2009 Prime group được xếp thứ 9 trong 500 doanh nghiệp dândoanh lớn nhất VN và thứ 66 trong 500 doanh nghiệp lớn nhất VN Primehiện được tạp chí World Ceramic xếp thứ 5 trong các nhà sản xuất gạchceramic thế giới về sản lượng.
*Thị hiếu người tiêu dùng :
- Người có thu nhập trung bình: đối với sản phẩm gốm sứ trong nước đaphần đã đáp ứng được nhu cầu của đối tượng tiêu dùng chủ yếu này Nhữngsản phẩm đơn giản,bền,tiện dụng thường là yêu cầu của những người có thunhập trung bình
- Người có thu nhập cao: sản phẩm chất lượng, mẫu mã đẹp, tinh tế là tiêuchuẩn tiêu dùng của nhóm người có thu nhập từ trung bình trở lên Hàng giadụng, dân dụng, đến các sản phẩm mang tính nghệ thuật đều được lựa chọn và
ưa thích Đây là một cơ hội và cũng là thách thức đối với các làng nghề và cácdoanh nghiệp trong việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm Các sản phẩmTrung Quốc tràn ngập thị trường trong nước làm cho các cơ sở sản xuấthoang mang và bị ảnh hưởng đến sản lượng
* Các yếu tố tác động môi trường ngoài
Tích cực
+ Việc gia nhập WTO
Là một cơ hội và thách thức lớn đối vối nền kinh tế quốc dân nói chung vàngành gốm sứ nói riêng Hàng rào thuế quan đã giảm tính gay gắt đối với cácsản phẩm xuất khẩu tạo cơ hội cho các sản phẩm Việt Nam Các hoạt độngliên quan đến marketing có tác động rất quan trọng đến việc phát triển vànghiên cứu thị trường cũng như sản phẩm
+Đời sống nhân dân ngày càng cao
Trang 15Sự nâng cao đời sống của người dân tạo động lực cho ngành sản xuất gốm sứ.Không những tăng sản lượng mà chất lượng cũng ngày càng được cải tiến,mẫu mã, chi tiết đẹp hơn Điều này cũng thúc đẩy tiến bộ công nghệ sản xuất,nghiên cứu nguyên liệu có tính bền, nhiên liệu tiết kiệm, thân thiện với môitrường.
+Môi trường cạnh tranh bên ngoài
Cạnh tranh khắc nghiệt đòi hỏi thường xuyên phải cải tiến sản phẩm và côngnghệ
+Chính sách thuế quan
Việc điều chỉnh chính sách thuế quan đối với việc huy động, đầu tư vốn đểsản xuất có vai trò vô cùng quan trọng Đối với các cơ sở sản xuất hộ giađình, vốn đầu tư là vấn đề đầu tiên cần đề cập do họ đã có công thức sản xuấtgia truyền Các doanh nghiệp muốn đầu tư với qui mô lớn hơn cũng cần được
hỗ trợ về lãi suất tiền vay và thuế kinh doanh để sản xuất và luân chuyển vốn
+Bàn tay hữu hình của nhà nước
Nhà nước có rất nhiều dự án chính sách khuyến khích khôi phục sản xuất vàphát triển các làng gốm cổ truyền, hỗ trợ lãi suất để các doanh nghiệp đầu tư.Nhưng thực sự chưa hiệu quả và còn nhiều khó khăn do nhận thức của ngườidân các làng nghề chưa cao Họ chỉ quen sản xuất nhỏ lẻ, tự sản, tự tiêu nênvẫn rất bất cập trong quản lý
Tiêu cực
- Ô nhiễm môi trường
Do số lượng lò than còn nhiều nên tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghềvẫn không được cải thiện Nhiều hộ có mặt bằng sản xuất chật hẹp phải tận
Trang 16quan đến nguyên liệu, vận chuyển Đường sá bụi bặm rất trở ngại cho việcđón khách du lịch Vẫn còn tồn tại những trường hợp vi phạm vệ sinh môitrường, đổ rác thải không đúng nơi quy định.
- Nhận thức người dân chưa cao
Nhận thức về sản xuất, công nghệ và marketing sản phẩm của người dân làngnghề chưa cao làm cho sản phẩm của Việt Nam thiếu chỗ đứng trên thịtrường Hơn nữa, nhận thức của người tiêu dùng về việc “ người Việt Namdùng hàng Việt Nam” chưa cao nên đã tạo điều kiện cho hàng nhập khẩu từTrung Quốc gây áp lực cạnh tranh cho chính sản phẩm trong nước
-Đảng và nhà nước chưa có những biện pháp thiết thực đầu tư vàquan tâm tới các làng nghề mới thành lập còn đang thiếu vốn sản xuất và cơ
sở hạ tầng chưa đầy đủ và đảm bảo
b, Tình hình xuất khẩu gốm sứ
Tình hình xuất khẩu gốm sứ trong nước hiện nay đang có những khó khănnhưng cũng không ít cơ hội Trong cơ cấu các thị trường xuất khẩu các mặthàng gốm sứ mỹ nghệ và gia dụng của Việt Nam trong kỳ, thì kim ngạch xuấtkhẩu vào thị trường Đức đạt cao nhất với 690 nghìn USD, tăng 115% so với
kỳ trước (Năm 2009) Trong đó, xuất khẩu các mặt hàng đồ trang trí, tượngngười và các con vật bằng gốm sứ vào thị trường này tiếp tục tăng mạnh Bêncạnh đó thì mặt hàng chậu gốm, đồ gia dụng bằng gốm sứ xuất khẩu vào thịtrường Đức sau khi tăng mạnh trong kỳ trước, thì sang kỳ này lại giảm
+Tại thị trường Mỹ, với kim ngạch xuất khẩu trong kỳ đạt 650 nghìn USD,tăng 22% so với kỳ trước.Đáng chú ý là liên tục trong 2 kỳ gần đây, xuất khẩumặt hàng chậu gốm vào thị trường Mỹ đã tăng khá mạnh Bên cạnh đó cácmặt hàng như: Bình gốm, đồ trang trí bằng gốm xuất khẩu vào thị trường Mỹsau khi giảm sút trong kỳ trước, thì sang kỳ này đã tăng.Một số mặt hàng gốm