Chương I: Cơ sở lí luận về xuất khẩu và sơ lược tình hình sản xuất và phát triển cây cà phê ở Việt Nam: 1.1.Khái niệm, vai trò của xuất khẩu hàng hoá: Xuất khẩu hàng hóa là một trong nh
Trang 1Lời mở đầu1.Tính cấp thiết của đề tài:
Là một nước nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có lưu lượng mưalớn cho nên Việt Nam có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.Thêm vào đó, vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có không khí mát mẻ cộngvới nền đất bazan màu mỡ rất thích hợp cho việc phất triển cây công nghiệptrong đó cà phê là một loại cây điển hình
Xuất khẩu nông sản nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng là một trongnhững ngành đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế trong nước Đây là mộtngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế, giảiquyết vấn đề việc làm, giảm gánh nặng cho xã hội… Những năm gần đây ViệtNam là một nước đứng thứ hai trên thế giới trong việc xuất khẩu cà phê (đứngsau Brazin)
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO (World Trade Organization) tổ chứcthương mại thế giới năm 2007, nền kinh tế bước vào một giai đoạn phát triểnmới Trong đó lĩnh vực xuất khẩu cà phê cũng chuyển sang một bước ngoặc lớn.Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt hơn 2,11 tỷ USD, tăng hơn so vớinăm 2007 khoảng 9,46% Xuất khẩu cà phê đem lại nguồn thu ngoại hối đứngthứ hai cho quốc gia (trong lĩnh vực xuất khẩu nông nghiệp), chỉ đứng sau gạo(2) Sản phẩm cà phê Việt Nam đã bán được trên nhiều quốc gia trên thế giới.Bên cạnh các thị trường tiêu thụ lớn như: Châu Âu, Mỹ… cà phê còn được xuấtsang các nước như: Nam Mỹ (Ac-hen-ti-na), Trung Đông
Tuy có nhiều thuận lợi nhưng bên cạnh đó thị trường xuất khẩu cà phê của ViệtNam còn chịu nhiều sự bất lợi ảnh hưởng từ tình hình thế giới và cả những tồnđọng hạn chế trong nước Chất lượng cà phê của chúng ta chưa đảm bảo đượcnhững thông số về kĩ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng của các nước
đề ra, nhất là các thị trường lớn như EU hay Mỹ Những năm gần đây giá cả thịtrường cà phê thế giới luôn biến động và có xu hướng giảm, thị trường cà phêViệt Nam cũng bị ảnh hưởng theo và không có tính bền vững Thành phẩmthường chỉ là nguyên liệu thô chưa được chế biến thành sản phẩm tinh nên giátrị còn thấp… Vậy chúng ta phải làm gì để phát triển ngành xuất khẩu cà phêViệt Nam ngày một phát triển bền vững, nắm bắt được những cơ hội có đượckhi tham gia các tổ chức quốc tế Nhận thức được tính bức thiết của vấn đề này,nhằm có thể phân tích thị trường, bối cảnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam hiện
Trang 2nay, Từ đó, tìm ra những biện pháp khắc phục, cải tiến Đề ra những giải pháptrước mắt lâu dài để cà phê có chất lượng tốt hơn ,có vị trí cao trên thị trườngthế giới, góp phần đẩy mạnh nền kinh tế Việt Nam bước lên những bậc thang
mới Chính vì vậy em quyết định chọn đề tài nghiên cứu là: “ Thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam và hướng đi trong tương lai trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế ”
Để hoàn thành được đề tài này,em xin chân thành cảm ơn thầy giáo THS.Nguyễn Xuân Hưng đã hỗ trợ cho em ngay từ khi lựa chọn đề tài đến khi hoànthành.Tuy nhiên,với vốn kiến thức còn hạn chế,em không thể tránh được nhữngsai sót trong đề tài của mình.Vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến bổsung,chỉnh sửa của thầy giáo
Em xin chân thành cảm ơn!
2.Mục đích nghiên cứu:
2.1: Mục tiêu chung: Phân tích thực trạng xuất khẩu cà phê trong giai đoạn từ
năm 1980 đến nay và đưa ra giải pháp khắc phục những khó khăn ảnh hưởngđến xuất khẩu cà phê Việt Nam hiện nay
2.2: Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích hiện trạng xuất khẩu cà phê ở Việt Nam
- Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong ngành
- Đề ra những giải pháp giúp thúc đẩy xuất khẩu cà phê
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1: Đối tượng nghiên cứu: thực trạng xuất khẩu cà phê trong giai đoạn từ năm
1980 đến nay và đưa ra giải pháp khắc phục những khó khăn, thúc đẩy phát triểnngành cà phê Việt Nam
3.2: Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại Việt Nam
3.3: Phạm vi thời gian: Số liệu được nhập từ năm 1980 đến nay trong lĩnh vực
xuất khẩu cà phê
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Phương pháp thu thập số liệu: Nguồn số liệu được thu thập chủ yếu từ
các nguồn: sách, báo, internet, các bài viết chuyên đề có liên quan…
4.2: Phương pháp phân tích: Phương pháp được áp dụng là thống kê mô tả,
phân tích biểu bảng thống kê, sử dụng các số tuyệt đối và số tương đối để phântích và chứng minh
5 Nội dung: Gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về xuất khẩu và sơ lược tình hình sản xuất và phát triển
cây cà phê ở Việt Nam:
Chương II: Phân tích thực trạng sản xuất & xuất khẩu cà phê trong thời kì hội
nhập kinh tế quốc tế:
Chương III: Phương hướng và giải pháp cho xuất khẩu cà phê Việt Nam trong
những năm tới:
Kết luận
Trang 4Chương I: Cơ sở lí luận về xuất khẩu và sơ lược tình hình sản xuất và phát triển cây cà phê ở Việt Nam:
1.1.Khái niệm, vai trò của xuất khẩu hàng hoá:
Xuất khẩu hàng hóa là một trong những hoạt động kinh doanh mà phạm vihoạt động của nó vượt qua ngoài biên giới của một quốc gia,là một hoạt độngmang tính quốc tế tức là phải tuân thủ các nguyên tắc,luật pháp,quy định củaquốc tế của những sân chơi chung mà chúng ta tham gia
1.1.2.Vai trò ,nhiệm vụ, ý nghĩa của xuất khẩu:
+ Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu,thu hút ngoại tệ phục vụquá trình công nghiệp hóa,hiẹn đại hóa
+ Xuất khẩu đóng ghóp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,thúc đẩy sản xuấtphát triển
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi.Ví dụ như sựphát triển cảu các ngành chế biến lương thực xuất khẩu kéo theo sự phát triểncủa các ngành công nghiệp chế tạo ra thiết bị phục vụ nó,phát triển nông nghiệpcung cấp các nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến đó
+ Xuất khẩu tạo điều kiện tiền đề kinh tế, kỹ thuật cait tạo và nâng cao năng lựcsản xuất trong nước
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của chúng a sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranhtrên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng Cuộc cạnh tranh này đồi hỏichúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hoàn thiện cơ cấu sản xuất, luôn thích nghivới môi trường luôn luôn biến động
+ Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việcquản trị sản xuất và kinh doanh
+ Xuất khẩu tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện mọivấn đề của cuộc sống xã hội, mọi người được ngày càng được thoả mãn nhu cầu
về vật chất lẫn tinh thần
Trang 5+ Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của nước
ta trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
1.2 Cây cà phê ở Việt nam và vai trò xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế quốc dân:
1.2.1: Cây cà phê và quá trình phát triển ở Việt Nam:
Cà phê được đưa vào Việt nam hơn một trăm năm nay, để có được vị trínhư ngày hôm nay đã trải qua không ít những thăng trầm Cây cà phê đầu tiênđược đưa vào trồng tại Việt Nam vào năm 1857 bởi một số nhà truyền giáongười Pháp nhằm cung cấp cà phê cho các tu viện ở Quảng Bình, Quảng Trị saulan sang Ninh Bình và theo dòng truyền đạo đi sang các tỉnh khác Tới năm
1920 trở đi thực dân Pháp mới phát triển các đồn điền cây cà phê ở Phủ QuỳNghệ An và một số nơi ở Tây Nguyên và lúc này cây cà phê mới bắt đầu có diệntích đáng kể Các đồn điền có qui mô từ 200- 300 ha và năng suất đạt từ 400-600kg/ha Năm 1930 diện tích trồng lên tới 5.900 ha trong đó có 4.700 ha cà phêchè, 900 ha cà phê mít và 300 ha cà phê vối Cho đến năm 1945, sản lượng caonhất trong những năm này là 4.500 tấn và hầu hết là xuất sang Pháp
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, từ năm 1945 đến 1954, các đồn điền
cà phê do Nhà Nước ta quản lý nhưng vì chiến tranh nên phần lớn diện tích bị
bỏ hoang, cà phê không xuất khẩu được Năm 1954, diện tích cà phê chỉ còn lại
4000 ha (chủ yếu ở Tây Nguyên: 3100 ha), sản lượng cà phê 2.500 tấn
Năm 1955, cùng với phong trào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc,các nông trường cà phê quốc doanh cũng được thành lập ơ một số nơi Trong 6năm ( 1956-1962), diện tích cà phê từ 500 ha lên 14.800 ha, sản lượng cà phêtăng từ 225 năm 1960 lên 4.385 tấn năm 1967 Trong thời gian này cà phê ởmiền Bắc chủ yếu được xuất sang Liên Xô và các nước Đông Âu… với tổng sảnlượng xuất khẩu trong 20 năm là 30.000 tấn Ở các tỉnh phía Nam, từ năm 1946đến 1957, diện tích càphê tang không đáng kể từ 3.019 ha lên 3.370 Năm 1957đến 1965, diện tích cà phê tăng lên đến 11.120 ha do chủ trương lập các dinh
Trang 6điền của ngụy quyền Sài Gòn Năm 1973 sản lượng cà phê của miền Nam vàokhoảng 3.120 tấn và hầu hết được tiêu dùng trong nước, xuất khẩu không đángkể.
Sau năm 1975 cà phê được phát triển mạnh tại các nông trường quốcdoanh thông qua chương trình hợp tác trồng cà phê với các nước thuộc hệ thống
xã hội chủ nghĩa cũ như: Liên Xô, Ba Lan, Bungari, Tiệp CHDC Đức… Chínhphủ ta đã ký hàng loạt các hiệp định trong đó ta được cung cấp vốn, thiếp bị vật
tư máy móc, phân bón… Nhờ vậy và sau năm 1976 quy mô sản xuất mới chỉ có19.000 ha diện tích và sản lượng là 6,1 nghìn tấn thì năm 1986 đã lên tới 65,5nghìn ha và 202 nghìn tấn
Đến năm 1993-1994,sản lượng cà phê cả nước là 140 ngìn tấn, đứng thứ 3Châu Á sau Inđônêxia và Ấn Độ Năm 1996, Việt Nam vươn lên đứng thứ 4 thếgiới và thứ 2 Châu Á về sản lượng cà phê Năm 1998 và năm 1999, Việt Namđứng đầu Châu Á Nhờ lợi thế về điều kiện tự nhiên và năng suất thuộc loại caonhất trên thế giới (năng suất là 1.500 kg/ha bằng 2-3 lần năng suất thế giới và1,7 lần năng suất Châu Á) nên Việt Nam đã trở thành nước sản xuất cà phê lớnthứ hai trên thế giới năm 2001 Hiện nay Việt Nam là một trong những nước códiện tích trồng cà phê lớn nhất thế giới Năm 2000, diện tích trồng cà phê củaViệt Nam là 533 nghìn ha nhưng đến nay do cuộc khủng hoảng về giá, diện tíchtrồng cà phê ở đã giảm xuống còn 500 nghìn ha vào năm 2002
1.2.2.Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế quốc dân:
Cà phê là một trong những loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tếcao, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước trong đó có ViệtNam.ngày nay cà phê là một trong những ngành hàng nông sản trọng yếu củaViệt Nam Hàng năm, xuất khẩu cà phê mang lại cho đất nước trên 500 triệuUSD Kim ngạch xuất khẩu đạt từ 4% đến 8% kim ngạch xuất khẩu cà nước vàchiếm 25% tổng giá trị nông nghiệp Việt Nam
Trang 7Cà phê luôn nằm trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ViệtNam.Hàng xuất khẩu chủ lực là loại hàng chiếm vị trí quyết định trong kim ngạchxuất khẩu do có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất thuận lợi Mặc dù cóchính sách đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, nhưng các quốc gia đều có chínhsách xây dựng mặt hàng xuất khẩu chủ lực.Vấn đề này cũng được nhà nước đề ra
từ những năm 1960 nhưng phải đến những năm gần đây khi chúng ta mở cửa có
cơ hội tiếp xúc manh mẽ với thị trường thế giới vấn đề xây dựng nhóm hàng xuấtkhẩu chủ lực mới được nhấn mạnh Những năm đầu kế hoạch năm năm 1991-
1995 tình trạng hàng hóa xuất khẩu của ta còn manh mún Từ năm 1993 chúng ta
đã hình thành dần các ngành sản xuất hàng hóa tạo ra một số mặt hàng xuất khẩuchủ lực như: dầu thô,gạo, càphê, hạt điều Hải sản, dệt may Trước đây chúng tachỉ có 3-4 mặt hàng chủ lực có kim ngạch xuất khẩu từ 100 triệu USD trở lên thìnăm 1995 đã lên đến 12
3.730 4.508 3.476 3.729 3.241
Hạt tiêu 17,9 16,5 33,3 25,7 18,4 34,2 43,7 62,8Cao su 138,1 194,
5
194,2
Trang 8- Xuất khẩu cà phê đòi hỏi phải đầu tư vào sản xuất theo hướng chuyên mônhóa hình thành những vùng chuyên canh với quy mô lớn với trang bị đồng bộcủa khoa học kĩ thuật ,áp dụng cơ khí hóa,hiện đại hóa quá trình sản xuất đếncác khâu sau thu hoạch,tiêu thụ,thúc đầy các ngành công nghiệp phục vụ nhưsản xuất máy bơm nước tưới,máy chế biến…đẩy nhanh quá trình chuyển đồinền kinh té từ nôngnghiệp lạc hậu sang nước công nghiệp.
- Xuất khẩu không những đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết cácván đề xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động,cải tạo điều kiệnsốngcho người dân ghóp phần xóa đói giảm nghèo,giảm bớt được tệ nạn xãhội
- Xuất khẩu cà phê cho chúng ta khai thác triệt để lợi thế so sánh với nhữngnước khác.Đó là lợi thế về tự nhiên,vè đất đai,khí hậu,nguồn nước …tận dụngnguồn lao động dồi dào.Vị trí địa lí của đất nước thuận lợi cho việc trao đổibuôn bán hàng hóa,các cảng biển thuận tiện cho viẹc lưu thông đườgthủy,thuận tiện cho việc chuyên chở,giao dịch hàng hóa.Chính vì vậy màchúng ta cần có những chính sách để khai thác triệt để lợi thế này trong cả quátrình sản xuất,chế biến và tiêu thụ cà phê,tạo những điều kiện thuận lợi choxuất khẩu càphê
- Xuất khẩu cà phê còn tạo cơ hội để ta tranh thủ tận dụng cơ hội trên thịtrường thế giới
+ Xuất khẩu cà phê chính là tận dụng cơ hội trên thị trường thế giới theo xuhướng chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội sâu sắc trên thế giớiđúng theo tư tưởng của các học thuyết về lợi thế tuyệt đối cảu Adam Smith vàlợi thế so sánh của David Ricardo là khi tham gia thương mại quốc tế,tất cả cácnứoc đều có lợi khi tận dụng ưu thế vè phân công lao động quốc tế
+ Xuất khẩu cà phê để tranh thủ các ưu đãi về thuế quan của các tổ chứcthương mại mà Việt Nam cũng là mọt thành viên tạo khả năng thu hút đượcnhiều lợi nhuận hơn cùng những ưu đãi về điền kiện xuât khẩu
Trang 91.3: Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê:
1.3.1: Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên:
Xuất khẩu nông sản Việt Nam nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng chịunhiều tác động từ điều kiện tự nhiên.Với đặc tính của Sản xuất nông nghiệpchịu nhiều tác động từ điều kiện tự nhiên thời tiết đất đai,dịch bệnh,hạn hán…thì cây cà phê không nằm ngoài tác động trên.Sự tác động này ảnh hưởng tớisản lượng và chất lượng cà phê xuất khẩu cảu nước ta ngay từ khâu sản xuấtđến khâu thu gom chế biến,thực hiện quá trình xuất khẩu.Một ví dụ điển hình
là mùa khô năm 2006,hàng ngàn ha cà phê trồng ở vùg Tây nguyên đã bị thiếunước tưới,thậm chí còn bị cháy cho nhiệt độ quá cao và thời tiết hanh khô
1.3.2 Các yếu tố thuộc về chủ trương chính sách của nhà nước:
Các chính sách của nhà nước có tác động lớn tới hoạt động sản xuất cũngnhư trong quá trình xuất khẩu cà phê
Trước khi gia nhập WTO,trong giai đoạn 1999-2001,VN trợ cấp dưới hìnhthức thưởng xuất khẩu đối với 7 mặt hàng nông sản trong đó có cà phê.Hỗ trợlãi suất mua tạm trữ xuất khẩu đối với cà phê.Nhưng đến giai đoạn 2003-2005,những hỗ trợ đó đã bị loại bỏ dần.Ngoài ra qua khảo sát của dự án hỗ trợ
kĩ thuật nâng cao năng lực thể chế giúp VN gai nhập WTO cho thấy,giá trị trợcấp cao nhất dành cho hai nhóm hàng là cà phê và gạo.Tuy nhiên,có thể thấytrợ cấp của nhà nước còn ít và còn có khả năng để điều chỉnh mọt cách hợp lí
có lợi cho sản xuất Nhà nước chuyển số tiền trợ cấp xuát khẩu và trợ cấp nộiđịa hóa trước đây sang phát triển thủy lợi,kiện toàn giao thông,nâng cao chấtlượng giống cây tròng,phát triển công nghệ sau thu hoạch,xây dựng các khođệm để dự trữ cà phê cho bà con nông dân,tránh để họ phải bán ồ ạt khi vàovụ…
Trang 10Ngoài ra nhà nước còn áp dụng chính sach hỗ trợ tín dụng(mà ưu điểm của
nó là lãi suất thấp) đối với các doanh nghiệp xuất khẩu,trong đó có hình thứccho vay ngắn hạn và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu.Chính sách tíndụng này là sự ưu đãi của nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp,tổ chức kinh
tế và các nhân phát triển sản xuất khinh doanh hàng xuất khẩu theo chính sáchxuất khẩu của nhà nước
Bên cạnh đó nhà nước còn có các chính sách hỗ trợ về thuế,ưu đãi về thuếxuất khẩu GTGT,có các chính sách để bình ổn giá mua nguyên liệu phục vụcho sản xuất,bình ổn giá thu mua cà phê cho nông dân,tạm trữ,đầu tư phát triển
hệ thống tiêu thụ trên toàn quốc,phát triển trao đổi buôn bán thông suốt trên thịtrường trong nứoc tạo điều kiện mở rộng thị trường thế giới
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới,nứơc ta cũng từng bước tiến vàosân chơi chung của cả thế giới.Năm 2006 VN trở thành thành viên chính thứccủa tổ chức thương mại thế giới WTO,mở ra những cơ hội mới cho cả nền kinh
tế nước ta khi bứoc vào luồng quay của nền kinh tế toàn cầu.Các mối quan hệsong phương đa phương được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi nhất định choxuất khẩu cà phê nói riêng và quan hệ thương mại quốc tế nói chung.Có đượcbước tiến quan trọng như vậy là do những chủ trương định hướng đúng đắn cảuĐảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng nền kinh tế định hướng XHCN
1.3.3: Các yếu tố về khoa học công nghệ.
Để tăng năng suất cà phê thì 1 yếu tố cực kì quan trọng là khoa học côngnghệ.Khoa học công nghệ thúc đẩy tăng sản xuất cả vè quy mô và chấtlượng.Khoa học công nghệ tạo ra những cây giống cà phê tốt nhất có khả năngchống chịu sâu bệnh.Công nghệ tạo khả năng tiết kiệm thời gian ,tăng năngsuất lao động,giảm giá thành sản xuất,cơ khí hóa các quá trình tưới tiêu,thuhoạch,chế biến đảm bảo một cách tốt nhất chất lượng cà phê xuất khẩu tránhthất thoát không đang có trong qua trìh chế biến đáp ứng các yêu cầu nghiêm
Trang 11ngặt về mặt chất lượng của các thị trường khó tính trên thế giới ghóp phàn làmtăng giá trị của việc xuất khẩu cà phê.
1.3.4: Các nhân tố thuộc về cầu và giá cả của thị trường thế giới
A Các thị trường nhập khẩu cà phê của VN
Trước năm 1986,nước ta thực hiện chính sách kinh tế kế hoạch hóa tậptrung,quan hệ ngoại giao và thương mại chủ yếu với các nước XHCN nên thịtrường xuất khẩu bị hạn chế.SAu khi chuyển sang thời kì đổi mới,xây dựngnền kinh tế nhiều thành phần,mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới
trên cơ sở hai bên cùng có lợi thì thị trường nhập khẩu cảu VN ngày càng
tăng.Năm 1995,nước ta là thành viên chính thức của ASEAN; năm 1998,thamgia APEC; năm 2001,đạt được hiệp định thương mại song phương với Hoa Kì
và đạc biệt năm 2006,VN trở thành thành viên chính thức thứ 150 củaWTO,chính sự hợp tác song phương đa phương tốt đẹp đó đã mở rộg thịtrường xuất khẩu cho VN
Thị trường nhập khẩu cà phê của nước ta đã mở rộng ngoài những thị trườngchủ yếu như EU trong đó đặc biệt là Anh,Đức,Pháp…thị trường Hoa Kì…sangthị trường đầy tiềm năng là Maroc.Ngày nay ngay cả những nước xuất khẩu càphê lớn trên Thế Giới cũng đã xem xét đén việc nhập khẩu cà phê của ViệtNam như Braxin hay Comlombia…(do giá thành cà phê của VN rẻ hơn nhiều
so với các nước xuát khẩu cà phê khác).Tuy nhiên các nước này cũng là nhữgđối thủ cạnh tranh lớn của xuất khẩu cà phê VN,và VN vẫn phải chia sẻ thịtrường cà phê với các đối thủ đó
B Về giá cả thị trường
Tình hình kinh tế thế giới,những biến động về giá cả thị trường có ảnh hưởng
lớn tới giá cả cà phe trên thị trường thế giới.Nền kinh tế thế giới sẽ có tác độnglàm tăng giá cả cà phê,làm tăng giá trị cũng như khả năng thanh toán.Tỉ giá hối
Trang 12đoái cũng là một rào cản,hay cơ hội ,thách thức của xuất khẩu cà phê.Nếu tỉ giáhối đoái tăng thì với mức giá cũ ta sẽ thu được nhiều tiền VND,thúc đẩy xuấtkhẩu.Ngược lại,nếu tỷ giá giảm sẽ gây giảm lượng xuất khẩu,các doanh nghiệpxuất khẩu làm ăn ít có lãi,thậm chí ko có lãi.
Trang 13Chương II: Phân tích thực trạng xuất khẩu cà phê trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế:
2.1: Thực trạng sản xuất & xuất khẩu cà phê Việt Nam:
2.1.1: Thực trạng sản xuất cà phê tại Việt Nam:
A Diện tích, năng suất, sản lượng
Cà phê là một loại cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp củaViệt Nam Trong thập niên 90, sản lượng cà phê của Việt Nam đã tăng lên 10lần, đưa Việt Nam trở thành nước sản xuất và xuất khẩu cà phê Robusta lớnnhất thế giới
Sau thời gian dài chiến tranh, đất nước giành được độc lập, bước vào thời
kì kinh tế, kết hợp với nhu cầu về cà phê toàn thế giới dần tăng cao, ngành xuấtkhẩu cà phê Việt Nam đã được nhà nước ngày một chú trọng au giải phóng diệntích cà phê cả nước khoảng 20.000 ha, nhờ sự hỗ trợ vốn từ quốc tế, cây cà phêdần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23.000 ha, xuất khẩu trên 6000tấn Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành càphê Việt Nam có khoảng 180 nghìn ha với sản lượng 200 nghìn tấn Sau đó, bản
kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi Các con số cao nhất dừng lại ở mức 350nghìn ha với sản lượng 450 nghìn tấn (VICOFA, 2002).Tuy nhiên trong năm
2003, dưới áp lực của cuộc khủng hoảng cà phê, nhiều hộ nông dân đã phải chặt
bỏ cây cà phê cộng thêm chủ trương của chính phủ và các địa phương cắt giảmdiện tích trồng cà phê Riêng tỉnh ĐắcLăk và Gia Lai đã giảm khoảng 90.000 ha
cà phê Đến nay diện tích cà phê chỉ còn lại khoảng 500 ngàn ha
Năng suất của Việt nam cũng được tăng nhanh và được đánh giá là caonhất thế giới Đầu thời kỳ 1990 năng suất chỉ mới là 1 tấn/ha thì đến nay đã lênđến 1, 5 tấn/ha, có những nơi như ĐăkLăk năng suất đạt trên 2 tấn/ha.Nguyênnhân là do Viện nghiên cứu cà phê Việt Nam những năm qua đã cung cấp hàngchục tấn hạt giốngmới năng suất cao cho các địa phương Mặt khác, cây cà phêViệt Nam trẻ hơn rất nhiều so với cà phê các nước khác, đúng vào thời điểm chonăng suất cao nhất.Tuy vậy, trong hai năm lại đây, do tình hình sâu bệnh tàn phá
Trang 14cây trồng và vốn đầu tư cho ngành giảm nên năng suất cũng có xu hướng giảm
đi Năm 2002 chỉ còn hơn 1,2 tấn/ha
Về sản lượng, sau khi gia nhập tổ chức ICO năm 1993, đến nay Việt Nam
đã trở thành một trong những nước sản xuất cà phê lớn thứ hai trên thế giới Sảnlượng cà phê trong 10 năm qua cũng tăng lên nhanh chóng từ khoảng 1 triệubao năm 1990 lên đến 10 triệu bao tương đương 600.000 tấn hiện nay.Sảnlượng cao nhất là vào năm 2001 với mức 847 tấn, vụ 2002 lại giảm xuống còn688,7 tấn.Trong năm 1990, Việt Nam sản xuất ra 1% sản lượng cà phê thế giớithì hiện nay tỉ lệ đó là 10%, thay thế vị trí thứ hai của Colombia và chỉ sau mỗiBraxin
Với tổng diện tích trồng đạt trên 500.000 ha, và sản lượng 10 triệu baomỗi năm, cà phê hiện nay được xếp thứ 2 sau gạo trong danh mục hàng nông sảnxuất khẩu của Việt Nam Để đạt được sản lượng cao như vậy, ngành cà phê ViệtNam mỗi năm thu hút khoảng 300.000 hộ gia đình, với trên 600.000 lao động,đặc biệt vào 3 tháng thu hoạch, con số này có thể lên tới 700.000 hoặc 800.000.Như vậy, số lao động của ngành cà phê đã đạt tới 1.83% tổng lao động trên toànquốc nói chung và 2.93% tổng số lao động trong ngành nông nghiệp nói riêng
Bảng 13 : Sản xuất cà phê của Việt Nam 1991 - 2002
Trang 15Nguồn: Niên giám thống kê, 2000, Tổng cục Thống kê.
Số liệu thống kê kinh tế-xã hội 2002, Tổng cục Thống kê.
B Công nghiệp chế biến
Cả nước hiện có 152 đơn vị trực tiếp xuất khẩu cà phê,bao gồm các đơn vịthành viên của các Tổng công ty có thu gom xuất khẩu.Trong đó nhóm 10 doanhnghiệp xuất khẩu hàng đầu như : Vinacafe, 2/9Đaklăk, Intimex, Atlantic, Xínghiệp tổng hợp Hà Nội tại thành phố HCM, Thái Hòa, Tín Nghĩa Đồng Nai…
Do sản xuất cà phê phát triển nhanh đã tạo sự mất cân đối giữa sản xuất
và chế biến cà phê trong ngành cà phê Với sản lượng cà phê nhân khoảng600.00 tấn, mỗi năm ngành cà phê phải thu hái và chế biến trên 3 triệu tấn càphê tươi Đó là một khối lượng sản phẩm không nhỏ, nó đòi hỏi sự phát triểntương ứng của công nghiệp chế biến Trong tình hình hiện nay, thế giới đòi hỏingày càng cao không chỉ về mặt hàng: hình thức, chất lượng cà phê sau khi nếmthử mà còn phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Ngoài ra, để chế biến trên
3 triệu tấn quả cà phê , vấn đề xử lý chất thải, bảo vệ môi trường cũng đòi hỏiđược quan tâm Tuy nhiên ở Việt Nam công việc chế biến cà phê xuất khẩu naycòn nhiều yếu kém, thiếu tập trung, chưa có điều kiện đổi mới công nghệ Cơ sởvật chất kỹ thuật của ngành chế biến cà phê còn nghèo nàn Các nhà máy chế
Trang 16biến ở Việt Nam, phần lớn còn hạn chế về công nghệ, chưa phát huy dược hếtcông suất Hiện nay, cả nước có 40 dây chuyền chế biến cà phê nhân với tổngcông suất 20 tấn/ giờ, chủ yếu trang bị cho các nông trường và các doanh nghiệpnhà nước, với quy mô dây chuyền từ 2-9 tấn/ giờ Khu vực cà phê của tư nhânhầu hết sơ chế bằng các thiết bị nhỏ, công suất từ 0,3-0,5 tấn/ giờ.Một số các cơ
sở chế biến mới, chất lượng sản phẩm khá được xây dựng trong vòng 5-7 nămtrở lại đây mới đảm bảo chế biến được khoảng 150.000 đến 200.000 tấn cà phênhân xuất khẩu Ngoài ra, còn nhiều cơ sở tái chế trang thiết bị không hoànchỉnh với nhiều máy lẻ, chế biến cà phê thu mua của dân thu hái về chủ yếu xử
lý phân tán ở từng hộ nông dân, phơi ở những vườn nhỏ, sân đất, không đúngquy cách kỹ thuật, công cụ thô sơ nên sản phẩm xấu, phẩm cấp hạ Kỹ thuật thuhái cũng còn nhiều thiếu sót, không thu hoạch được cà phê đồng đều, làm ảnhhưởng đến chất lượng cà phê Ngoài ra, việc phát triển các nhà máy chế biến càphê hoà tan chưa được quan tâm chú trọng Các nhà máy ở Việt Nam hầu hết làcác nhà máy rang xay, chế biến cà phê nhân Việc chế biến cà phê nhân dượctiến hành với hai phương pháp chủ yếu là khô và ướt Phương pháp chế biến khôphụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, kho cất trữ và sân phơi nên chưa chủ độngtrong đảm bảo chất lượng, hương vị của cà phê Phương pháp ướt cho cà phêchất lượng tốt song lại đòi hỏi nhiều thao tác phức tạp và thải ra một lượng nướcrất lớn cần được xử lý Cả hai phương pháp này đều được sử dụng trong sảnxuất quy mô nhỏ, phân tán Hiện nay ở Việt Nam, nhà máy chế biến lớn nhất lànhà máy chế biến Đắc Men( Buôn Ma Thuột) công suất 20.000 tân/năm, ở ĐồngNai của Amasaco (Phú Yên) 10.000-15.000 tấn/năm Nhà máy chế biến củaVinacafe ở Khánh Hoà với công suất trên 3000 tấn/năm Nhà máy cà phê BiênHoà gần đây đang thực hiện dự án 150 tỉ đồng nâng cấp thiết bị dây truyền chếbiến cà fê hoà tan trên 40 tấn nhân/ giờ đưa công suất lên đến 1000 tấn/năm.Ngoài ra còn có một số nhà máychế biến quy mô 5000-10.000 tấn quả khô/năm
và các nhà may công suất 1000 tấn/năm nằm rải ở khắp cả nước.Một trongnhững nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng cà phê nhân xuất khẩu như kĩ
Trang 17thuật trồng trọt và thu hái chưa tốt,tình trạng thu hái đồng loạt quả xanh,quả noncòn khá phổ biến,cơ sở vật chất phục vụ sơ chế bảo quản cà phê còn thiếuthốn,cơ chế giá thu mua cà phê tươi chưa khuyến khích người sản xuất quan tâmđến chất lượng ,nhất là khâu thu hoạch,phơi sấy, phân loại.Cụ thể,theo thống kêqua sàn giao dịch LIFFE ở London của Anh thì trong niên vụ 2006-2007,trongtổng số 708.300 bao cà phê(mỗi bao nặng 60kg)bị loại ra thì Việt Nam chiếm tới88%,tức tương đương hơn 37.000 tấn,tăng 19% so với lượng cà phê Việt Nam bịloại ra trong niên vụ trước.
Hiện nay,mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 800.000-900.000 tấn cà phê nhân,với1% tạp chất,lượng cà phê bị thải ra vào khoảng 8.000-9.000 tấn.Phần lớn các tạpchất trong cà phê là bụi bám,vỏ cà phê,cùi cà phê do chưa được sang quạt sạch ởnhà máy chế biến.Mặt khác,hầu hết cà phê của Việt Nam hiện nay dựa trên thỏathuận giữa bên mua và bên bán,việc phân loại chất lượng theo tỉ lệ hạt đen,hạt
vỡ là các phân loại đơn giản và lạc hậu mà hầu hết các nước xuất khẩu đánh tụtcấp chất lượng của các lô hàng và làm giảm uy tín chất lượng chung của cà phêViệt Nam
2.1.2: Tình hình xuất khẩu cà phê tại Việt Nam:
A.Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê
Việt Nam hiện là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới và đứng đầu
về sản lượng cà phê Robusta.Trong vòng 20 năm trở lại đây ngành cà phê đã cónhững bước phát triển nhanh vượt bậc về khối lượng và kim ngạch xuất khẩu.Càphê trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, nhiềunăm liền đứng ở vị trí số 3 sau gạo và thuỷ sản, có năm còn vượt qua gạo
Cà phê là cây công nghiệp gắn với xuất khẩu rất chặt chẽ, trên 95% càphê sản xuất ra là để xuất khẩu Cùng với sự tăng lên của sản lượng cà phê, khốilượng cà phê xuất khẩu trong thời gian qua cũng tăng lên nhanh chóng Từ chỗ
là một ngành hàng nhỏ bé, hàng năm chỉ xuất khẩu được 3.000 đến 4000 tấn vào
Trang 18những năm 80 , đến nay, mỗi năm cà phê xuất khẩu được khoảng 600 nghìn tấn.Mức tăng trưởng lượng cà phê xuất khẩu hàng năm là khá lớn.Có thể xem mứcxuất khẩu cà phê nước ta từ năm 1997 đến năm nay ở bảng 15
Từ đầu những năm 1990 đến năm 1997 Khối lượng cà phê xuất khẩu tăngđều đặn Đến năm 1997, lượng xuất khẩu lên tới 391 nghìn tấn, tăng 57,2% sovới năm 1996, đứng thứ 6 về kim ngạch xuất khẩu cả nước, vượt qua Indonexiatrở thành nước xuất khẩu cà phê lớn nhất Châu Á, đánh dấu một bước tiến bộvượt bậc của ngành cà phê Việt Nam Từ đó khối lượng cà phê xuất khẩu tănglên mạnh mẽ Năm 2000, mức tăng lại đạt 52,1% so với năm 1999 Tuy nhiênkhối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đạt đến mức cao nhất là năm 2001với 931 nghìn tấn Khi này Việt Nam đã là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ haithế giới
Bảng 14 : Khối lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam 1997 -2003
Trang 19Tuy nhiên không phải bao giờ khối lượng xuất khẩu tăng thì sẽ kéo theo
sự tăng lên của kim ngạch xuất khẩu vì kim ngạch xuất khẩu còn tuỳ thuộc vàogiá cả Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong giai đoạn 1991-1995 tăng liên tục
cả về số lượng và kim ngạch nhưng từ năm 1995 tới nay, tuy lượng xuất khẩutăng liên tục nhưng kim ngạch xuất khẩu biến động rất thất thường do sự suygiảm giá cà phê trên thị trường thế giới, làm giảm tỷ trọng của xuất khẩu cà phêtrong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ 5,4% tổng kim ngạch xuấtkhẩu đến năm 2002 chỉ còn 1,9%
Năm 1997, kim ngạch xuất khẩu đạt 497,5 triệu USD tăng gần 50% so với nămtrước đó Từ năm 1998 đến năm 2000, tuy giá cà phê giảm đi nhưng nhờ lượngxuất khẩu tăng nhanh nên kim ngạch xuất khẩu vẫn giữ ổn định ở mức cao: 1998
= 594,4 triệu USD, 1999 = 585,2; và năm 2000 giá cà phê giảm sút lớn, ngưngngờ lượng tăng đén 52,1% nên kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt trên 500 triệuUSD Tuy nhiên hai năm 2001, 2002 do cả giá và lượng đều giảm nên kimngạch xuất khẩu giảm mạnh xuống còn 322 triệu USD năm 2002 Đầu năm
2003 đến nay, giá cả có xu hướng tăng lên chút ít nên thúc đẩy xuất khẩu và làmtăng kim ngạch xuất khẩu
Trang 20B.Cơ cấu cà phê xuất khẩu.
Sản phẩm cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu gồm có cà phê vối(Robusta) và cà phê chè (Arabica) Trong đó cà phê chè chỉ chiếm khoảng 2%,còn lại là cà phê vối chủ yếu là xuất khẩu bán thành phẩm Khoảng 95% tổngkhối lượng cà phê xuất khẩu là cà phê nhân sống, cà phê hoà tan chỉ chiếm 3-5%
và cà phê nhân rang chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 1-2% Chủng loại cà phê xuất khẩucủa Việt Nam còn đơn điệu như vậy là do nhiều nhân tố như do công nghiệp chếbiến còn thô sơ, chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu thương mại Hiện cómột số nước nhập khẩu cà phê Việt Nam về chế biến lại và bán với giá cao hơn
từ 100-150 USD/tấn như Thái Lan, Singapore,
Thời gian gần đây, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu đã có những thay đổi tíchcực Lượng cà phê hoà tan và cà phê rang xay xuất khẩu cũng đã tăng lên Trongniên vụ 2001/02, Việt Nam đã xuất khẩu được 596,950 tấn cà phê hoà tan, trị giá1.651.428 US$, đơn giá 2766,44 US$/tấn; 41,766 tấn cà phê rang xay, trị giá133.766 US$, đơn giá 3202,74 US$/tấn Có thể thấy, giá cà phê nhân xuất khẩu
đã qua chế biến tăng lên nhiều lần Vì vậy, tăng tỷ trọng cà phê chế biến trongtổng lượng cà phê xuất khẩu là một hướng đi tích cực để nâng cao hiệu quả sảnxuất và xuất khẩu cà phê
C Chất lượng cà phê xuất khẩu
Chất lượng là khâu then chốt quyết định kết quả xuất khẩu của tất cả các
mặt hàng với cà phê thì chất lượng lại càng có ý nghĩa hơn vì cà phê là thịtrường đòi hỏi chất lượng cao Chất lượng hàng nông sản nói chung và cà phênói riêng phụ thuộc rất nhiều yếu tố : Điều kiện tự nhiên, giống, kỹ thuật gieotrồng, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Nếu bất cứ 1 khâu nào trong tất
cả quá trình không hoàn thiện sẽ đều ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Sản phẩm cà phê Việt Nam hầu hết được bắt đầu từ những giống đã đượcchọn lọc qua nhiều thập kỷ, lại được gieo trồng trên những vùng đất có khí hậu
Trang 21thích hợp, đặc biệt trên những vùng cao từ 500 m trở lên lên, cà phê càng có ưuthế tạo hương vị thơm ngon được nhiều người ưu chuộng Các nhà nghiên cứu
và lai tạo giống của Việt Nam hoạt động tích cực và hiện nay đã chọn đượcgiống cà phê vối lai chất lượng tốt Tuy nhiên do thời gian gần đây sản xuất càphê phát triển mạnh mẽ, tạo ra một khối lượng không nhỏ sản phẩm, mặt khác vìthiếu vốn và kinh nghiệm, ít được tiếp xúc thường xuyên với công nghệ vàkỹthuật mới nên ngành công nghiệp chế biến cà phê nước ta không theo kịp sựphát triển của sản xuất, tạo nên sự mất cân đối dẫn đến chất lượng cà phê giảmsút, giá xuất khẩu cà phê hạ gây thiệt hại không nhỏ cho người sản xuất
Kỹ thuật thu hái, sơ chế cà phê cũng ảnh hưởng đến chất lượng cà phênhân Việc hái quả không đúng tầm chín, lẫn quả xanh quả chín làm ảnh hưởngđến mùi vị cà phê Khâu chế biến rất phân tán, thô sơ, thiếu sân phơi bảo đảmdẫn đến việc cà phê lẫn nhiều tạp chất, tỷ lệ hạt đen hạt vỡ cao khoảng 18%, độ
ẩm cao Đây là vấn đề nhức nhối của toàn ngành Khả năng xuất khẩu cà phêchất lượng cao của chúng ta còn yếu nên dù khối lượng xuất khẩu hàng năm làlơn nhưng kim ngạch không tương xứng do chưa được giá Cà phê loại I chỉchiếm khoảng 23-24%, loại IIA chiếm 65%, còn lại là loại thấp hơn.Trong khichênh lệch giá giữa loại I và loạI II là khá cao: 30 USD/tấn Một lượng lớn càphê của chúng ta sau khi xuất khẩu phải qua một nước tái chế mới đến tay ngườitiêu thụ chính thức Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến mức chênhlệch về giá cao giữa giá cà phê của Việt Nam với mức giá cà phê quốc tế
Một vấn đề nữa là phần lớn cà phê xuất khẩu của Việt Nam là cà phê vốitrong khi thị hiếu tiêu dùng lại nghiêng về loại cà phê chè chất lượng cao Vìvậy, chủ trương của chính phủ nước ta cũng như các nước xuất khẩu cà phêkhác là trong thời gian tới tăng khối lượng xuất khẩu cà phê chè Hiện Việt Namcũng đang tiến hành chuyển một số khu vực trồng cà phê vối năng suất thấpsang trồng các loại cây có thu nhập cao hơn và trồng cà phê chè ở những nơi có
độ cao thích hợp Tuy nhiên việc trồng cà phê chè ở những một vài khu vực có
Trang 22địa hình thấp (khoảng 200-300m so với mặt biển) thì dường như vẫn khó thựchiện Khu vực cao nhất cà phê chè có thể sinh sống được là 1200 m, tại các khuvực này có thể trồng các loại cà phê chè có chất lượng cao như giống Bourbon.Tuy nhiên ở các vùng thấp hơn thì có thể trồng giống cà phê kháng rỉ sắt nhưCatrra, Catimỏ Tuy nhiên, hạt của các giống này khi đã được bóc vỏ và chếbiến ướt chỉ nhỉnh hơn chút ít so với loại cà phê vối chưa chế biến và có chấtlượng tầm tầm so với chất lượng cao hơn hẳn của loại cà phê Bourbon hảo hạng.Như vậy để có thể đưa cà phê xuất khẩu của Việt Nam trở thành sản phẩm cósức cạnh tranh lớn trên thị trường thế giới, chúng ta cần cố gắng nhiều hơn nữatrong việc nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách khắc phục những nhượcđIúm còn tồn tại trên, phát huy được những lợi thế của Việt Nam để có thể đápứng được những nhu cầu của khách hàng quốc tế.
2.2 Ảnh hưởng của hội nhập kinh tế thề giới đối với xuất khẩu cà phê Việt Nam:
2.2.1: Tiềm năng phát triển ngành:
A.Thị trường xuất khẩu tiềm năng của cà phê của Việt Nam
Tính đến năm 2002, cà phê của Việt Nam đã có mặt tới 64 nước trên thếgiới, ở nhiều các châu lục khác nhau, trong đó EU là thị trường tiêu thụ lớn nhất,chiếm hơn 50% tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam Cà phê ViệtNam đã thâm nhập được các thị trường có sức mua cao như thị trường Mỹ, Đức,Pháp, Bỉ, Italia, Anh tuy vẫn có xu hướng tập trung ở một số thị trường xuấtkhẩu lớn Trong niên vụ 2001/02, 15 nước hàng đầu tổng cộng đã nhập 614.275tấn chiếm 86,06 % tổng lượng xuất khẩu, trong đó Đức là thị trường xuất khẩulớn nhất với 112.739 tấn, thứ hai là Mỹ với 89.288 tấn
Các nước trong khu vực như Trung Quốc cũng là một khách hàng tiêu thụ lớn
Ấn Độ và Inđônêxia là hai nước sản xuất cà phê lớn ở châu Á nhưng hàng nămvẫn nhập khẩu cà phê của Việt Nam Riêng thị trường Nga - một thị trường có
Trang 23triển vọng tăng tiêu thụ mạnh và Việt Nam đã có quan hệ hợp tác lâu dài nhưngxuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường này lại chưa đáng kể
Một thay đổi đáng kể trong phát triển thị trường xuất khẩu là ngoài cácnhà buôn, một số nhà rang xay lớn trên thế giới đã bắt đầu thiết lập quan hệmua bán trực tiếp với các nhà sản xuất, kinh doanh của Việt Nam, mở ra mộttriển vọng lớn trong ngành cà phê Việt Nam
Bảng 17: Các thị trường xuất khẩu cà phê chủ yếu của Việt Nam
Đơn vị: triệu USD
Tổng 497.536 593.794 585.255 501.450 391.329 322.310 242.236Thuỵ sĩ 93.625 120.465 161.975 100.670 42.920 15.289 7.385
Mỹ 76.402 86.311 59.211 69.932 60.016 39.513 26.499Singapo 99.348 73.899 61.193 41.692 14.344 6.901 4.814Đức 38.985 56.619 55.810 52.078 53.967 51.603 38.682
Hà Lan 17.467 47.571 47.010 34.138 19.944 11.948 8.819Anh 41.509 44.400 41.529 37.939 25.610 14.916 12.051Thái Lan 51.709 40.160 31.413 10.755 115 49 193Nhật 19.721 37.921 24.496 20.496 17.858 15.594 10.190Italia 5.177 12.070 19.185 24.049 18.978 20.213 19.383
Bỉ 11.438 8.261 15.957 22.773 38.704 27.988 10.400Pháp 18.076 18.207 14.497 10.028 14.970 12.607 15.639
* 6 tháng đầu năm
Nguồn: Số liệu thống kê xuất nhập khẩu, Tổng cục Hải Quan.
* Một số thị trường xuất khẩu cà phê chính của Việt Nam
-Thị trường EU:
EU là một trong những thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới.Vớikhoảng 370 triệu người, hàng năm EU tiêu thụ khoảng hơn 45% khối lượng càphê xuất khẩu toàn cầu Trong năm 2002, nhập khẩu cà phê nhân ở EU đã tăng3,4% từ 40,2 lên 41,6 triệu bao Nhu cầu tiêu thụ cà phê ở Châu Âu vẫn tiếp tụctăng lên một cách ổn định Dự kiến trong những năm tới nhu cầu tiêu thụ cà phê
Trang 24của EU còn tăng lên do kế hoạch mở rộng thêm thành viên Do đó thâm nhập vàgiữ ổn đinh thị trường cà phê này là niềm mong ước của tất cả các quốc gia sảnxuất cà phê, trong đó có Việt Nam Hàng năm, Việt Nam xuất khẩu vào EU mộtkhối lượng cà phê tương đối lớn, chiếm hơn 15% sản lượng tiêu thụ cà phê của
EU, đứng vị trí thứ hai sau Braxin.Tuy vậy Việt Nam vẫn cần có những biệnpháp thiết thực để EU vẫn tiếp tục là thị trường ổn định của Việt Nam Để làmđược đIều này cũng không phải là dễ.Vệ sinh an toàn thực phẩm là mối quantâm đặc biệt của chính quyền các nước thuộc liên minh châu Âu, họ ngày càngtăng cường áp dụng các quy định nghiêm ngặt về tiêu chuẩn vệ sinh, an toànđối với hàng nhập khẩu thông qua các quy định của luật và các quy định nhậpkhẩu nông sản, thực phẩm vào EU.Việc đảm bảo chất lượng có thể bắt đầu từkhâu trồng trọt, và trải qua tất cả các giai đoạn thu hái, chế biến, bảo quản chotới khi xuất khẩu Tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu là căn cứ pháp lý xác địnhtiêu chuẩn tối thiểu đối với nông sản thực phẩm nhập khẩu vào EU Nhưng ởđây cũng cần nhấn mạnh rằng yêu cầu chất lượng của các thương nhân ở các thịtrường lớn Bắc Âu (Đức, Hà lan, Anh và Pháp) thường cao hơn
Theo Hiệp ước Lomé (và hiện nay được thay thế bằng Hiệp ước Cotonou)
ký kết giữa EU và các nước ACPC, các nước này được miễn thuế nhập khẩu vàhưởng những chế độ ưu đãi khác trong xuất khẩu nông sản sang EU Vì vậy, cácnước ngoài ACPC sẽ khó khăn hơn trong cạnh tranh khi xuất khẩu cà phê sangthị trường EU Cà phê nhập khẩu vào EU phải tuân thủ các quy định của EEC
về bao bì hàng hoá và chất thải, theo đó “cà phê phải được đóng gói trong bao bìtiêu chuẩn làm bằng sợi tự nhiên như đay, gai, si sal và các chất liệu tương tự”cũng như quy định về hàm lượng các chất phụ gia có trong cà phê
Bảng 18: Biểu thuế nhập khẩu cà phê vào thị trường EU:
phổ cập
Thuế WTO
Thuế ưu đãi đối với
Trang 250901 Cà phê, rang hoặc chưa rang,
đã tách hoặc chưa tách cafein,
cà phê hạt nguyên vỏ, các chấtthay thế cà phê có chứa ca fein
Miễnthuế12%
10%
Miễn thuế*2101.11-
Nguồn: The European Commission, Taxation and Customs Union
Trong số các nước EU, Đức là nước nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn nhấtTrong năm 2001, Đức nhập khẩu 13,9 triệu bao cà phê nhân, chủ yếu nhập khẩu
từ Bra xin (25%), Việt Nam, Inđônêxia và Pê ru, trong đó nhập khẩu cà phêArabica chiếm 76% và nhập khẩu cà phê Robusta chiếm 24% Nhập khẩu cà phêchế biến đạt 714 ngàn bao và tái xuất khẩu đạt 3,46 triệu bao Tiêu thụ bìnhquân đầu người đạt 6,7 kg trong năm 2001, giảm mạnh so với 7,4 kg của năm
1995 Đây là thị trường cà phê lớn đặc biệt là cà phê pha nhanh Thị hiếu truyền
Trang 26thống ở Đức là cà phê Arabica càng đậm càng tốt Trong những năm gần đây,nhu cầu cà phê pha trộn với chất lượng cao đang tăng nhanh vì đơn giá thấp hơn,được phổ biến với người tiêu dùng Đông Đức Cà phê Việt Nam xuất sang Đứcnăm 2002 là 5 464 115 bao chiếm 14% thị trường, giảm so với năm 2001.
Trong năm 2001, Pháp nhập khẩu 5,1 triệu bao cà phê nhân, chủ yếu nhậpkhẩu từ Bra xin (22%), Việt Nam, Côlômbia, Côtđivoa và Camơrun, trong đónhập khẩu cà phê Arabica chiếm 51% và nhập khẩu cà phê Robusta chiếm 49%.Nhập khẩu cà phê chế biến đạt 980 ngàn bao và tái xuất khẩu đạt 627 ngàn bao.Tiêu thụ bình quân đầu người đạt 5,5 kg trong năm 2001, tương đương với mứctiêu thụ của năm 1995
Trong năm 2001, Italia nhập khẩu 6,08 triệu bao cà phê nhân, chủ yếunhập khẩu từ Bra xin (29%), Việt Nam, ấn Độ và Côtđivoa, trong đó nhập khẩu
cà phê Arabica chiếm 56% và nhập khẩu cà phê Robusta chiếm 44% Nhập khẩu
cà phê chế biến đạt 352 ngàn bao và tái xuất khẩu đạt 1 triệu bao Tiêu thụ bìnhquân đầu người đạt 5,4 kg trong năm 2001, tăng lên so với 5,4 kg/người/nămcủa năm 1995
Ngoài Đức, Pháp và Italia, nhiều nước Tây Âu khác có thị trường tiêu thụkhông lớn nhưng mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người rất cao so với mứcbình quân chung như Phần Lan (9,6 kg), Thụy Điển (8,7 kg), Thụy Sĩ (8,0kg/người/năm)
và Mêhicô (10%), và một lượng nhỏ được nhập khẩu từ các nước tái xuất, chủ
Trang 27yếu là từ Đức, trong đó nhập khẩu cà phê Arabica chiếm 76% và nhập khẩu càphê Robusta chiếm Nhập khẩu cà phê rang xay năm 2001 đạt 2156 ngàn bao,trong đó 27% được nhập khẩu từ Canađa và 14% từ Mêhicô Cà phê hoà tanchủ yếu được nhập khẩu từ Braxin, Mêhicô và Hà Lan Mức tiêu thụ bình quânđầu người đạt 4,07 kg trong năm 2001, tăng đáng kể so với 3,98 kg của năm
1995 nhưng vẫn thấp hơn mức tiêu thụ của những năm 70 – 5,62 kg/người /năm
Khoảng 2/3 cà phê chế biến được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị, trong đó70% được tiêu thụ dưới dạng đóng hộp hoặc đóng túi trong chân không Ngườitiêu dùng Mỹ đòi hỏi cao về chất lượng cà phê và tiêu thụ các loại cà phê đặcbiệt có xu hướng tăng Cà phê nhập khẩu vào Mỹ phải tuân thủ các quy định về
“Quản lý thực phẩm và dược phẩm” của FDA
VớI một thị trường lớn như Mỹ kim ngạch xuất khẩu cà phê của ViệtNam vào Mỹ là còn chưa nhiều.Việt Nam chưa tận dụng hết những lợi thế màmình có Mỹ thường đưa ra hợp đồng nhập khẩu kim ngạch lớn trong khi nănglực của Việt Nam chỉ đáp ứng được các hợp đồng nhỏ, sản phẩm mang tính thời
vụ Để lọt được vào thị trường Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phảI đốiphó với những yêu cầu về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm khắt khe Đặcbiệt sau ngày 13/10/2003, đạo luật chống khủng bố sinh học có hiệu lực, hànghoá nhập khẩu vào Mỹ sẽ do cục quản lý dược phẩm và thực phẩn Mỹ cấp giấyphép từng lô hàng.Tuy nhiên đến thời đIúm hiện nay nhiều doanh nghiệp vẫnchưa nắm rõ thông tin và thủ tục đăng ký.Trong thời gian gần đây, xuất khẩu càphê của Việt Nam vào Mỹ giảm sút Năm 2002, mặc dù giá tăng 50% nhưngxuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Mỹ giảm tới hơn 34% so với năm 2001.Những năm tới chúng ta sẽ tập trung vào khai thác thị trường này Tỷ trọng xuấtkhẩu sang Mỹ dự báo sẽ tăng từ 12 -13% hiện nay lên 15 -17% trong tổng kimngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Bảng19: Xuất khẩu cà phê sang Mỹ năm 2000-2002
Đơn vị: triệu USD; %
Trang 28Nhật Bản có yêu cầu về môi trường và vệ sinh thực phẩm rất chặt chẽ, sảnphẩm cà phê xuất khẩu phải tuân thủ các yêu cầu của Luật bảo vệ thực vật (đốivới cà phê nhân), Luật an toàn vệ sinh thực phẩm (đối với cà phê đã qua chếbiến) Cà phê thành phẩm xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản còn phải tuân thủcác quy định của Luật bao gói và nhãn mác hàng hoá cũng như Quy định về táichế nguyên liệu bao gói…
Bảng 20: Biểu thuế nhập khẩu gia vị vào thị trường Nhật bản
phổ cập
Thuế WTO
Thuế ưu đãi
0901.11-000
Trang 29Miễnthuế*2101.11-
Miễn thuế
Nguồn: Customs Tariff Schedulles of Japan.
- Thị trường Trung Quốc:
Đây là thị trường lớn, tiềm năng tiêu thụ cà phê đang có xu hướng tănglên, nhất là hiện nay Trung Quốc đã gia nhập WTO tạo khả năng gia tăng nhậpkhẩu Thuế và một số hàng rào phi thuế từng bước được cắt giảm hoặc dỡ bỏ,quan hệ chính trị được cải thiện sẽ tạo thuận lợi hơn cho quan hệ kinh tế thương
Trang 30mại Việt Nam có hai lợi thế để xâm nhập thị trường này là con đường thươngmại chính ngạch thuận về địa lý, tập quán và con đường biên mậu trên một dảibiên giới rộng.
- Thị trường Nga:
Thị trường này cũng có tiềm năng tiêu thụ cà phê lớn, mặt khác quan hệchính trị và kinh tế giữa ta và Nga đang phát triển tốt đẹp Hiện nay, tổng kimngạch xuất khẩu của ta vào Nga mới đạt trên 200 triệu USD năm 2002 nhưngvới mục tiêu tăng trưởng 20-25%/năm các năm tới sẽ là điều kiện tốt cho cà phêViệt Nam thâm nhập thị trường này
Ngoài ra, Việt Nam cần tập trung vào những thị trường quan trọng nhưNhật Bản, châu Âu, ASEAN
2.2.2: Giá cả:
Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam biến động thất thường, phụ thuộc vàogiá cà phê thế giới Trước những năm 1990, giá cà phê xuất khẩu luôn duy trì ởmức cao, trên dưới 2.000 USD/tấn Nhưng từ năm 1990 đến 1993, giá ở mứcthấp, dưới 1000 USD/tấn Riêng năm 1995, giá tăng đột ngột lên đến 2633USD/tấn Đây được coi là mức giá cao nhất từ trước đến giờ Rồi sau đó giágiảm xuống còn bình quân 1.279 USD/tấn mỗi năm trong thời kỳ từ 1997-1999.Thời kỳ sau đó, cung với cuộc khủng hoảng của ngành cà phê thế giới, giá cảbiến động theo chiều hướng xấu Nếu như giá cà phê thế giới tụt xuống mứcthấp nhấtkỷ lục trong vòng 30 năm vào năm 2001 thì giá cà phê xuất khẩu củaViệt Nam cũng giảm chỉ còn 419,9 USD/tấn, mức thấp nhất Với mức giá nàykhông ít nhà sản xuất và kinh doanh cà phê rơi vào tình trạng khó khăn thua lỗ.Năm 2002, giá tăng nhẹ nhưng không đáng kể Sáu tháng đầu năm 2003, giá càphê xuất khẩu đã tăng lên 50% so với năm 2002, nhưng sự tăng giá này vẫnchưa vững vàng và còn ở mức thấp Ngành cà phê thế giới nói chung cũng nhưViệt Nam nói riêng vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cuộc khủng hoảng
Trang 31Bảng 16 : Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam 1997 -2003
Nguồn: Số liệu thống kê xuất nhập khẩu, Tổng cục Hải quan
Tuy nhiên, giá cà phê Việt Nam luôn ở mức thấp giá hơn cà phê thế giớikhoảng 200USD Nguyên nhân chính gây nên sự thua thiệt này là vì cà phê xuấtkhẩu Việt Nam chất lượng chưa cao, dẫn đến việc bị khách hàng ép giá, thêmvào đó là các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam còn chưa có kinh nghiệm,không năm bắt kịp thời thông tin giá cả, nhiều khi lại mua bán qua trung gian