Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt ở dạng giấy bạc haytiền xu cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu.. Cácchính phủ sử dụng thước đo giá trị cố
Trang 1Tiểu Luận
Bản vị vàng
Trang 2Mục Lục
Mục Lục 2
NỘI DUNG 4
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ MẤT GIÁ CỦA ĐỒNG USD VÀ SỰ TRỞ LẠI CỦA CHẾ ĐỘ BẢN VỊ VÀNG 4
1.1 Phân tích thực tế về sự mất giá của đồng USD 4
1.2 Chế độ bản vị vàng 4
1.2.1 Định nghĩa 4
Các định nghĩa khác nhau về bản vị vàng 5
1.2.2 Lịch sử phát triển 6
1.2.3 Tại sao lại là vàng? 7
1.2.4 Tiền xu cổ đại 10
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ TRỞ LẠI CỦA CHẾ ĐỘ BẢN VỊ VÀNG 12
2.1 Nguyên nhân sự trở lại của chế độ bản vị vàng 12
2.1.1 Tác động của tiền tệ được đảm bảo bằng vàng 12
2.1.2 Sự ổn định nhờ bản vị vàng 13
2.1.3 Mô hình Mundell-Fleming 14
2.1.4 Vàng với vai trò dự trữ ngày nay 18
2.1.5 Kim bản vị trở lại? 19
Và những lựa chọn chính sách tiền tệ trong bối cảnh khủng hoảng 19
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trang 4NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ MẤT GIÁ CỦA ĐỒNG USD VÀ SỰ TRỞ LẠI CỦA
CHẾ ĐỘ BẢN VỊ VÀNG 1.1 Phân tích thực tế về sự mất giá của đồng USD
1.2 Chế độ bản vị vàng 1.2.1 Định nghĩa Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng
Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc haytiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu Cácchính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiềnmặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiềnmặt lưu hành, tỷ giá quy đổi, v.v )
Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng cho rằng hệ thống này đề khángđược sự bành trướng tín dụng và nợ nần Không như chế độ tiền luật định(không có vàng bảo đảm), đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không chophép chính phủ tùy tiện in tiền giấy Cản trở này ngăn hiện tượng lạm phát dođánh tụt giá tiền tệ Nó được tin rằng giúp loại bỏ được sự bất ổn hệ thống tiền
tệ, đảm bảo sự tín nhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và khuyến khích hoạtđộng cho vay Ở những nước không áp dụng bản vị vàng một cách triệt để nhưtuyên bố bảo đảm hàm lượng vàng nhưng phát hành tiền giấy nhiều hơn, trải quacác cuộc khủng hoảng tín dụng và trì trệ kinh tế Ví dụ là sự hoang mang ở Hoa
Kỳ năm 1819 sau khi Ngân hàng quốc gia thứ hai ra đời năm 1816
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới còn áp dụng bản vị vàng.Thay vào đó, tiền luật định được áp dụng, có nghĩa là Nhà nước áp đặt sử dụngđồng tiền do họ phát hành, yêu cầu nộp thuế, nhận trợ cấp, thanh toán của Chính
Trang 5phủ bằng đồng tiền đó Ở một số định chế tài chính tư nhân, bản vị vàng vẫnđược áp dụng.
Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà pháp luật quy định dùng vàng đểđúc tiền vàng Trong quá trình phát triển, chế độ này tiến triển dưới hình thứccủa 3 chế độ khác nhau: bản vị tiền vàng, bản vị vàng thỏi và bản vị hối đoáivàng
Trong chế độ tiền tệ Bản vị vàng, tiền dù ở dưới hình thức nào (đúc bằngvàng, in trên giấy, tiền điện tử, ), thì người sở hữu tiền vẫn luôn có một quyềnquan trọng: yêu cầu người phát hành tiền đổi tiền thành vàng theo tỉ lệ đã camkết
Các định nghĩa khác nhau về bản vị vàng
Nếu cơ quan quản lý tiền tệ giữ đủ vàng tương ứng với toàn bộ lượng tiền
lưu thông, đó là chế độ bản vị vàng đầy đủ.
Một số người tin rằng không có một chế độ bản vị vàng nào khác ngoài chế
độ bản vị đầy đủ Bởi vì trong một chế độ bản vị vàng một phần (tức là không
giữ đủ 100% vàng), sẽ có một lượng tiền mặt không được đảm bảo bằng vàng,
nó có thể do cơ quan quản lý tiền tệ muốn thu hồi chi phí phát hành tiền (thuế
đúc tiền) và vì thế gây ra lạm phát (bản vị vàng đầy đủ không có lạm phát).
Những người khác, ví dụ những người ủng hộ kinh tế học trọng cung lại lý luậnrằng cứ khi nào mà vàng còn được sử dụng làm phương tiện đo giá trị kinh tế thìkhi đó là chế độ bản vị vàng
Chế độ bản vị vàng đầy đủ không thể vận hành được bởi hai lý do:
•Thứ nhất, lượng vàng trên thế giới là quá nhỏ so với lượng tiền cầnthiết để duy trì hoạt động kinh tế toàn cầu
•Thứ hai, lượng tiền vừa đủ (có nghĩa là không gây lạm phát và cũngkhông giảm phát) không phải là cố định, nó biến động liên tục cùng vớimức độ hoạt động thương mại
Trang 6Trong một quốc gia theo chế độ bản vị vàng, tiền xu vàng lưu thông nhưtiền và tiền giấy được đổi ra vàng trực tiếp theo giá thị trường (chính phủ khôngthể bắt buộc), tiền giấy giống như một tờ séc cho phép người cầm giữ nó quyền
sở hữu một lượng vàng nhất định đang được quản lý bởi người phát hành tờ tiềnđó
Tuy nhiên, khi lượng vàng đổi được của tờ tiền giấy đó biến động có nghĩa
là tờ tiền giấy trở thành tiền luật định và sẽ thường xuyên giảm nội dung vàng.Đây là trường hợp chính phủ phát hành tiền không có vàng đảm bảo trong chiếntranh Ví dụ của nó là những đồng đôla do chính phủ Liên bang phát hành trong
Nội chiến Hoa Kỳ và tiền giấy của Áo trong thời kỳ Chiến tranh Napoleon Sauthời gian chiến tranh, tiền lại được bảo đảm bằng vàng – tức là trở lại hệ thốngtiền tệ kim bản vị
Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng chỉ ra rằng chế độ tiền luật địnhtrước sau gì đều dẫn đến lạm phát do sự điều hành kém cỏi hoặc bởi chính phủ
cứ in tiền ra để bù đắp thâm hụt ngân sách
Hệ thống bản vị vàng quốc tế có thể tồn tại mà không có chế độ bản vịvàng ở bất kỳ quốc gia nào, khi đó vàng hoặc tiền tệ (đổi ra vàng ở tỷ giá cốđịnh) được sử dụng là phương tiện thanh toán quốc tế Ở chế độ này, khi tỷ giátiền tệ dâng lên hay tụt xuống quanh ngưỡng đúc tiền (fixed mint rate) và chênhlệch tỷ giá này lớn hơn chi phí vận chuyển vàng giữa các nơi chênh lệch thì mộtlượng vàng lớn sẽ được luân chuyển cho đến khi tỷ giá trở về với ngưỡng chínhthức là ngưỡng đúc tiền Các chế độ bản vị vàng quốc tế đều giới hạn số tiền màcác thực thể trong đó có quyền quy đổi lấy vàng Dưới chế độ bản vị vàngBretton Woods, số tiền này gọi là “quyền rút vốn đặc biệt” (Special DrawingRights – SDRs)
1.2.2 Lịch sử phát triển
Tính chất không ổn định của chế độ hai bản vị đã kìm hãm sự phát triểnnhanh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa
Trang 7tư bản chưa có đủ điều kiện khách quan để thực hiện một chế độ bản vị đơnvàng, vì lượng vàng khai thác ra chưa thể đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệbằng vàng, do đó, phải đúc tiền bạc để đưa vào lưu thông.
Mãi tới thế kỷ 18 sang thế kỷ 19, do công nghiệp khai thác vàng phát triển,các nước mới có đủ điều kiện chuyển từ chế độ hai bản vị sang chế độ bản vịvàng Anh là nước có nền kinh tế và thương mại phát triển nhất lúc bầy giờ, lànước đầu tiên thực hiện chế độ bản vị vàng, spng cũng phải trải qua một hời kỳchuyển tiếp lâu dài từ 1717 đến 1821 Pháp lệnh của nhà nước Anh công bố thựchiện chế độ bản vị vàng vào năm 1816 nhưng mãi tới năm 1821 mới được thihành
Tương tự như chế độ Bản vị Vàng, còn có chế độ Bản vị Bạc, một đơn vịtiền tệ được đảm bảo bằng khả năng qui đổi tương đương với một hàm lượngbạc nhất định Vào năm 1930, Ngân hàng Đông Dương phát hành đồng bạc giấyvới tỉ lệ qui đổi: cứ 100 đồng bạc bằng bạc thật thì ngân hàng được phát hành
300 đồng bạc giấy
Đến ngày 31/5/1930, một sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương qui địnhmỗi đồng bạc Đông Dương có mệnh giá tương đương 655 mg vàng Lúc này,đồng bạc Đông Dương được chuyển sang chế độ bản vị Vàng Vì khi đó, đồngFranc của Pháp cũng theo bản vị Vàng, 1 franc Pháp = 65,5mg Vàng nên tỷ giáđồng bạc Đông Dương/Franc Pháp là 1/10
1.2.3 Tại sao lại là vàng?
Vàng được lựa chọn bởi sự tinh khiết, không bị biến đổi theo thời gian, dễdàng phân biệt, thẩm định nhờ màu đặc trưng, độ dẻo, âm thanh khi va chạm,khối lượng riêng lớn; vàng là một vật phẩm mà các nhà buôn lựa chọn làmthước đo giá trị - nó đã được chọn từ xa xưa là một dạng tiền và vật cất trữ củacải
Đã có rất nhiều vật phẩm được sử dụng làm tiền, bao gồm cả những thứtưởng như không thể như vỏ ốc, lá cây thuốc lá Những thuộc tính cần phải có
để một dạng vật chất trở thành dạng cơ bản của tiền là
Trang 8•Dễ phân biệt
•Bền vững
•Ổn định vể lượng sẵn có
•Giá trị nội tại không bị biến động
Vàng đáp ứng tất cả các yêu cầu trên và có thể nói rằng nó là dạng vật chấtduy nhất trên thế giới đáp ứng được Lượng vàng mà con người có được khôngthay đổi đột biến trong nhiều thế kỷ; lượng vàng bổ sung nhờ khai mỏ là nhỏ và
dự tính được Phần lớn vàng được tàng cất trong kho, quỹ, két ở dạng “chứcnăng” của nó là vật lưu trữ giá trị Nhu cầu vàng cho mục đích khác chỉ là trangsức, răng giả và đồ điện tử mà thôi Việc sử dụng vàng làm đồ trang sức và cácvật trang trí khác có thể coi là cùng chức năng lưu trữ giá trị bởi thuộc tính thẩm
mĩ của nó Hai ứng dụng còn lại chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với lượng vàngđược tàng trữ dưới dạng thỏi, nén; bên cạnh đó, nhu cầu vàng trong lĩnh vực nhakhoa đang giảm xuống nhờ việc sử dụng các vật liệu trông giống răng thật.Ngoài vàng ra, bất kỳ vật phẩm nào khác đều có thể biến đổi giá trị khi cung vàcầu thay đổi
Quá trình đi đến chọn vàng làm tiền, trong các xã hội, khác nhau theo thờigian và địa điểm Tuy vậy các nhà sử học tin rằng, giá trị cao của vàng nhờ đẹp,tinh khiết, không bị ăn mòn, luôn ổn định, và dễ nhận ra đã đưa nó trở thành vậtbảo toàn giá trị và thước đo giá trị của các dạng hàng hóa, vật chất khác Ở thànhBabylon cổ đại, giạ lúa mì (36 lít) đã được sử dụng làm đơn vị tính toán với khốilượng vàng tương ứng được sử dụng làm vật mang giá trị Những hệ thống tiền
tệ cổ xưa dựa trên lương thực sử dụng vàng để biểu hiện giá trị Nghiệp vụ ngânhàng (banking) bắt đầu xuất hiện khi vàng ký gửi tại ngân hàng có thể đượcchuyển từ một tài khoản sang tài khoản khác trực tiếp hoặc cho vay lấy lãi suất
Khối lượng riêng lớn của vàng (19,3 g/cm³) có nghĩa là những thủ đoạn phavàng với các kim loại khác để có thêm khối lượng đều bị dễ dàng phát hiện (câuchuyện “Eureka” nổi tiếng của nhà bác học Ác-si-mét) Có một số kim loại nặng
Trang 9hơn vàng Trong số các kim loại tương đối phổ biến thì chỉ có osmium (22,6g/cm³), iridium (22,4 g/cm³), bạch kim (21,45 g/cm³), volfram (19,35 g/cm³) lànặng hơn vàng Thế nhưng chúng đều đắt hơn vàng còn volfram thì giá gần bằngvàng Hợp kim của vàng và volfram thì khó chế tạo và không hiệu quả.
Khi được sử dụng thay mặt vàng trong hệ thống tiền tệ, chức năng của tiềngiấy là nhằm giảm nguy hiểm có thể xảy ra khi vận chuyển vàng, giảm khả nănglàm xấu những đồng xu vàng và tránh việc rút dần phương tiện thanh toán rakhỏi lưu thông như đầu cơ hay hao mòn Sự xuất hiện tiền giấy ban đầu chỉthuần túy bởi sự thiếu tin cậy khi vận chuyển vàng, đặc biệt là những rủi ro trênnhững hành trình dài; bên cạnh đó còn bởi các nước muốn sự giao thương phảiđặt dưới sự kiểm soát của họ Tiền tệ được đảm bảo bằng kim loại quý đôi khiđược gọi là tiền biểu hiện Và giấy bạc được phát hành theo cách này gọi làchứng chỉ tiền tệ, một cách gọi để phân biệt nó với các dạng khác của tiền giấy
Trên thực tế, trong phần lớn lịch sử xã hội loài người, bạc mới là phươngtiện lưu thông chủ yếu và là kim loại quan trọng đóng vai trò tiền tệ Vàng được
sử dụng là vật mang giá trị cao nhất, và là phương tiện thanh toán chỉ khi cầnphải gọn nhẹ như việc thanh toán cho quân đội Trong một số thời điểm, vàngthay thế bạc trong vai trò đơn vị cơ sở cho thương mại quốc tế, đó là thời kỳhoàng kim của đạo Hồi (năm 662 đến 1258), thời kỳ đỉnh cao của các thànhquốc buôn bán Italia trong thời Phục hưng, và đáng kể nhất là trong thế kỷ 19.Vàng duy trì vai trò là kim loại của kế toán lưu trữ tiền tệ cho đến khi hệ thốngtiền tệ Bretton Woods sụp đổ năm 1971 Cho đến nay, nó vẫn là đối tượng dựtrữ quan trọng ở các ngân hàng trung ương và chính phủ, là phương tiện duy trìkhả năng thanh khoản và thực hiện chức năng bảo toàn giá trị
Tổng lượng vàng mà con người đã khai thác cho đến nay thật ít một cáchkinh ngạc – khoảng 125 ngàn tấn Nếu toàn bộ số vàng đó được xếp ở một chỗthì chỉ một nhà thi đấu bóng rổ đủ chứa toàn bộ (cao 9 m, rộng 18 m, dài 36 m)
Trang 10Giá vàng hiện nay khoảng US$640 một ounce tức là khoảng 20.000 đôla
Mỹ một kg, giá trị toàn bộ dự trữ vàng của thế giới là chừng 2,5 nghìn tỷ đôla
Mỹ Con số này còn ít hơn lượng tiền mặt lưu thông tại Mỹ Do đó, nếu người tamuốn quay lại bản vị vàng thì hoặc là vàng phải lên giá rất nhiều (vài chục đếnvài trăm lần) hoặc chỉ đảm bảo một phần nhỏ giá trị tổng số tiền mặt lưu hành
1.2.4 Tiền xu cổ đại
Kim loại đầu tiên được sử dụng làm tiền là bạc hơn 4.000 năm trước, khinhững miếng bạc được sử dụng trong buôn bán Những đồng xu bằng vàng đầutiên được dùng bắt đầu từ 600 năm trước Công nguyên (TCN) Tuy vậy, trướcthời điểm đó khá lâu, vàng cũng như bạc đã được sử dụng làm vật lưu trữ củacải và cơ sở cho các giao kèo buôn bán ở Akkadia (một thành phố Tiểu Á) vàsau đó là Ai Cập Cổ đại Bạc vẫn là kim loại tiền phổ biến nhất trong các giaodịch thông thường cho đến thế kỷ 20 Ngày nay, nó vẫn được lưu thông ở dạngtiền xu có hai kim loại, như đồng 20 pê-xô của Mexico phát hành năm 2006
Đế chế Ba Tư thu thuế bằng vàng, và khi đế chế này bị Alexander Đại Đế
chinh phục, số vàng được đúc thành tiền của đế quốc do ông đứng đầu Vàngđược dùng để trả lương cho quân đội và thưởng cho lính đánh thuê, việc nàycàng củng cố sự quan trọng của vàng Như được nói đến trong tác phẩm “Hoàngtử” (The Prince) của Niccolo Machiavelli hai ngàn năm sau đó thì, vàng đã trởnên đồng nghĩa với việc chi dùng cho các chiến dịch quân sự Đế chế La Mã đúchai loại tiền xu quan trọng, đó là đồng aureus, nặng 7 gram hợp kim vàng-bạc;
và đồng solidus, nặng 4,4 gram trong đó có 4,2 gram vàng Các xưởng đúc tiền
La Mã tích cực một cách xuất sắc - người La Mã đúc và lưu hành hàng triệuđồng xu tiền trong thời gian nền Cộng hòa và thời gian Đế chế
Sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã và các mỏ vàng ở Châu Âu đã cạnkiệt, Đế quốc Đông La Mã (còn gọi là Đế quốc Byzantine) đúc đồng tiềnnimisma hay bezant để kế thừa đồng solidus Đồng tiền xu mới này có khốilượng và độ tinh khiết như đồng xu cũ và vẫn được coi là đồng solidi Thật đáng
Trang 11tiếc, Đế quốc Byzantine, vào khoảng năm 1030 giảm dần hàm lượng vàng trongtiền xu của nó cho đến khi tiền xu trong lưu thông chỉ còn 15% vàng Điều nàythể hiện sự mất mát giá trị khủng khiếp của đồng tiền này so với những đồngtiền xu thời La Mã vốn có hàm lượng vàng từ 95% đến 98%.
Từ cuối thế kỷ thứ 7, đồng dinar dần trở thành đồng tiền của thương mạiquốc tế Đồng dinar được phát hành bởi Để chế Ả rập, theo hình mẫu của đồngtiền solidus La Mã, có cùng kích thước, khối lượng, hàm lượng vàng Dinar vàsolidus của Đế quốc Đông La Mã cùng tồn tại trong lưu thông trong 350 năm,sau đó, đồng solidus bắt đầu suy yếu
Đồng dinar bằng vàng và đồng dirham bằng bạc đều có nguồn gốc từ người
Ba Tư (Persian) Sau đó, những vị vua đạo Hồi cũng chọn đồng tiền này làmtiền của vương quốc, thậm chí Abd al-Malik (trị vì 685-705) cải cách đồng tiềnđến mức mà người ta nghĩ rằng đồng dinar và dirham có xuất xứ từ đây Ông bỏnhững hình vẽ trên đồng xu, quy định chuẩn mực của đồng tiền phải nói về
Thượng Đế (Allah) và ấn định tỷ lệ vàng-bạc Thế lực và thương mại lớn mạnhcủa đạo Hồi đưa đồng dinar trở thành đồng tiền thống trị từ bờ biển phía tây
Châu Phi cho đến bắc Ấn Độ tới tận những năm 1200, và nó vẫn là đồng tiềnchủ chốt trong hàng mấy trăm năm sau đó Vậy là đồng solidus, với những đặcđiểm của như kích thước, hàm lượng, khối lượng và dù dưới nhiều tên khác nhưdinar, bezant, đã trở thành đơn vị tính toán giá trị trong hơn 1.300 năm qua ba đếchế hùng mạnh
Năm 1284, Cộng hòa Venice (còn có tên Serenissima - một thành quốcItalia tồn tại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18) phát hành đồng tiền vàng đầu tiên của nó,đồng ducat Đồng tiền trở thành chuẩn mực của tiền xu Châu Âu cho 600 nămtiếp theo Các đồng xu các là đồng florin, noble, grosh, zloty và guinea cũngđược phát hành thời gian này ở các quốc gia Châu Âu khác nhằm tạo điều kiện
mở rộng thương mại Đồng ducat, nhờ vai trò ưu việt hơn hẳn trong giao thương