1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Document tailieudaihoc (1)

7 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Lợi Thế So Sánh Trong Quá Trình Phát Triển Kinh Tế Ở Một Số Nước ASEAN Và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam
Tác giả Trần Thị Lan Hương
Người hướng dẫn TS. Vũ Văn Hà
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế Chính trị
Thể loại luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 23,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài tham khảo cho qua trinh lam luận văn có thể tham khảo Trong quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế, lợi thế so sánh là yếu tố cần thiết để các quốc gia phát huy những ưu thế sẵn có để trao đổi và bổ sung lẫn nhau nhằm đạt được sự huy động nguồn lực cho quá trình phát triển kinh tế. Trong những thập kỷ qua, một số nước ASEAN là Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Philipin và Singapo (ASEAN5)

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ

TRẦN THỊ LAN HƯƠNG

PHÁT HUY LỢI THẾ SO SÁNH TRONG

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MỘT SỐ

NƯỚC ASEAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO

VIỆT NAM Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị

Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị

Mã số: 5.02.01

Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ VĂN HÀ VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔNG BẮC Á

HÀ NỘI - 2005

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1: LỢI THẾ SO SÁNH VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC KHAI THÁC LỢI

THẾ SO SÁNH Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

7

34

2.1

Lợi thế so sánh chủ yếu ở các nước ASEAN-5

34

2.1.1

Điều kiện kinh tế ban đầu của ASEAN-5 khi tiến hành công nghiệp

hoá

34

2.1.2

Các lợi thế so sánh chủ yếu ở ASEAN-5

36

2.1.3

Lợi thế so sánh ở từng nước ASEAN-5

43

2.2

Chính sách của các chính phủ để tận dụng những lợi thế so sánh

trong giai đoạn 1970-1996

52

2.2.1

Chính sách công nghiệp hoá

552

2.2.2

Chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu

575

2.2.3

Chính sách đào tạo nhân lực

60

Trang 2

2.2.4

Chính sách phát triển khoa học công nghệ

63

Các điều kiện phát triển kinh tế và việc sử dụng lợi thế so sánh

nhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam

90

3.1.1

Nhận thức về lợi thế so sánh ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

90

3.1.2

Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam

97

3.1.3

Thách thức hiện nay trong việc phát huy lợi thế so sánh ở Việt Nam

101

3.2

Vận dụng bài học kinh nghiệm từ phát huy lợi thế so sánh của các

nước ASEAN-5

108

3.2.1

Kinh nghiệm về công nghiệp hoá bền vững để phát huy tốt nhất

những lợi thế so sánh

108

3.2.2

Kinh nghiệm xuất phát từ chính năng lực nội sinh

110

3.2.3

Kinh nghiệm từ sự thay đổi lợi thế so sánh trong từng giai đoạn

113

KẾT LUẬN

116

Tổ chức thương mại thế giới

1

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và hội nhập kinh tế

quốc tế, lợi thế so sánh là yếu tố cần thiết để các quốc gia phát huy những ưu thế sẵn có để trao đổi và bổ sung lẫn nhau nhằm đạt được sự huy động nguồn lực cho quá trình phát triển kinh tế Trong những thập kỷ qua, một số nước ASEAN

là Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan, Philipin và Singapo (ASEAN-5) phát huy được những lợi thế so sánh của mình để thực hiện chính sách mở cửa và công nghiệp hoá Nhờ tận dụng được những lợi thế so sánh về lao động đông và rẻ, tài nguyên thiên nhiên phong phú và chưa được khai thác triệt để, đất đai màu mỡ

và vị trí địa lý thuận lợi và với mục đích thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu hàng hoá thu ngoại tệ phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, các nước ASEAN-5 đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 8%/năm trong thập kỷ 70, 6%/năm trong thập kỷ 80, một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao hơn bất

cứ khu vực nào khác trên toàn thế giới Nhờ đó, đã nâng cao được mức sống cho dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế hiện đại và thực hiện các chính sách kinh tế

xã hội khác một cách hiêụ quả Nhiều chuyên gia nghiên cứu quốc tế đã đánh giá các nước ASEAN-5 như những "con hổ" tạo nên sự "thần kỳ Châu Á"

Trang 3

Tuy nhiên, ngoài những nét tương đồng của khu vực Đông Nam Á, lợi thế

so sánh của các nước ASEAN-5 cũng có sự khác nhau, do vậy dẫn đến những công cụ chính sách thực hiện để phát huy lợi thế so sánh của mỗi nước cũng có những khác biệt Đó cũng là một trong những lý do giải thích cho sự chênh lệch tương đối về trình độ phát triển của các nước tính đến cuối thập kỷ 90 Trong bối cảnh toàn cầu hoá và cạnh tranh kinh tế quốc tế gay gắt như hiện nay, Singapo Nam suy nghĩ từ kinh nghiệm của các nền kinh tế mới công nghiệp hoá” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (Nhà xuất bản khoa học xã hội, năm 1996); “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: phát huy lợi thế so sánh Kinh nghiệp của các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á” của tác giả Đỗ Đức Định (chủ biên; Nhà xuất bản chính trị quốc gia 1999); "Cạnh tranh kinh tế" của tác giả Trần Văn Tùng (Nhà xuất bản thế giới; năm 2004) Các tác phẩm này đã tập trung phân tích những chính sách

và kinh nghiệm công nghiệp hoá của một số nền kinh tế Đông Á, trong đó có nhấn mạnh đến mô hình “đàn nhạn bay”, sự tận dụng nguồn tài nguyên và nhân

3

lực rẻ để phát triển thương mại và thu hút FDI của một số nước trong khu vực,

sự khác nhau giữa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, thực trạng công nghiệp hoá và lựa chọn các sản phẩm xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay, và những bài học, những biện pháp thiết thực rút ra từ các nước Châu Á mà Việt Nam nên tham khảo học tập Một số giáo trình giảng dạy kinh tế quốc tế của Việt Nam như “ Quan hệ kinh tế quốc tế” của tác giả Võ Thanh Thu (xuất bản năm 2003);

"Kinh tế học quốc tế" của tác giả Tô Xuân Dân (chủ biên) (xuất bản năm 1995);

“Kinh tế học phát triển: những vấn đề đương đại” do nhà xuất bản khoa học xã hội phát hành năm 2003 đã đề cập đến những xu hướng chủ yếu của thời đại ngày nay, lợi ích của việc phát huy lợi thế so sánh đối với các nước đang phát triển, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, kinh nghiệm phát huy lợi thế so sánh của một số nước Châu Á trong thời gian qua Các tác giả đều cho rằng thương mại theo hướng thúc đẩy xuất khẩu ở Đông Á cũng như ở Việt Nam có vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như góp phần tăng cường sự hội nhập quốc tế của các nước

Về các thể loại báo, tạp chí, có rất nhiều tác giả đề cập đến việc phát huy lợi thế so sánh của một số nước Châu Á và kinh nghiệm cho Việt Nam Điển hình là các bài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm: một số kinh nghiệm quốc tế” của tác giả Vũ Anh Tuấn; (tạp chí Cộng sản số 10/2004); “Áp dụng phương pháp phân tích lợi thế so sánh để nghiên cứu tiềm năng hội nhập kinh tế của các bài học cụ thể cho các nước đi sau trong đó có Việt Nam Vì lẽ đó, với việc lấy chiến lược phát huy lợi thế so sánh của các nước ASEAN-5, những tác động cơ bản của nó đối với nền kinh tế các nước làm đối tượng nghiên cứu chính, luận văn sẽ là một công trình nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện các chính sách kinh tế nhằm phát huy lợi thế so sánh ở các nước ASEAN-5, đánh giá thành công và hạn chế trong việc phát huy lợi thế so sánh của các nước ASEAN-5, và rút ra những kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam

Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào việc thực hiện nhiệm

vụ cụ thể sau:

- Phân tích các lý thuyết về lợi thế so sánh, những thay đổi trong quan niệm

về lợi thế so sánh trong bối cảnh toàn cầu hoá

5

- Những lợi thế cơ bản của các nước ASEAN-5, những tương đồng và khác biệt về lợi thế so sánh của các nước

- Những công cụ chính sách để thực hiện việc phát huy những lợi thế so

Trang 4

sánh đó và tác động của nó đối với nền kinh tế của mỗi nước Những nhìn nhận đánh giá mới về việc tận dụng lợi thế so sánh của các nước này sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997

- Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những chính sách của chính phủ các nước nhằm phát huy lợi thế so sánh: như chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu, chính sách thị trường, chính sách phát triển công nghệ, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách tài chính tiền tệ, phát triển thể chế Luận văn cũng tập trung nghiên cứu những tác động

cơ bản của việc phát huy lợi thế so sánh đối vơí các nước ASEAN-5 như: tác động đến tăng trưởng GDP, giải quyết công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu

6 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lợi thế so sánh và vai trò của việc khai thác lợi thế so sánh ở các nước đang phát triển

Chương 2: Lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở các nước

ASEAN-5

Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của các nước ASEAN-5 trong phát huy lợi thế so sánh nhằm phát triển kinh tế ở Việt Nam 7

Chương 1

LÝ THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC KHAI

THÁC LỢI THẾ SO SÁNH Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

1.1 Các lý thuyết về lợi thế so sánh

Ngay từ giữa thế kỷ 16, trường phái trọng thương đã chú ý đến vai trò quan trọng của ngoại thương trong việc làm tăng của cải quốc gia Đến thế kỷ 18, nhà kinh tế chính trị học cổ điển Anh Adam Smith đã đưa ra khái niệm lợi thế so sánh tuyệt đối để lý giải cho tầm quan trọng của ngoại thương Ông cho rằng các nước trên thế giới buôn bán với nhau là vì họ khác nhau và vì họ cùng có lợi Trên thế giới, các nước đều khác nhau về điều kiện tự nhiên, địa lý, tài nguyên,

và sự khác nhau này buộc các nước phải chuyên môn hoá vào việc sản xuất một

số mặt hàng nhất định Nước có khoáng sản thì tập trung chuyên môn hoá vào phát triển công nghiệp, còn nước có đất đai phì nhiêu thì tập trung vào sản xuất nông sản Thông qua chuyên môn hoá, sản lượng của hai nước sẽ tăng lên, và thông qua trao đổi thương mại thì cả hai nước cùng có lợi

Quan điểm về lợi thế so sánh tuyệt đối chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt

giữa các nước trong trao đổi thương mại, tuy nhiên quan điểm này đã mở đầu Khi đó, trong trao đổi thương mại giữa hai nước, Trung Quốc sẽ có lợi

nhiều hơn nếu xuất khẩu giấy sangViệt Nam, và Việt Nam sẽ có lợi nhiều hơn khi xuất khẩu hàng dệt may sangTrung Quốc

Có thể minh hoạ mô hình Ricardo bằng ví dụ sau đây:

Trung Quốc

Việt Nam

Giấy (tấn/1 giờ công)

10

40

Vải (mét/1 giờ công)

15

20

Số liệu trên cho thấy Trung Quốc có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai

Trang 5

mặt hàng bởi vì yêu cầu chi phí đầu tư vào cả hai mặt hàng đó đều thấp hơn nếu

so sánh với Việt Nam Tuy nhiên, nếu phân tích theo mô hình lợi thế so sánh tương đối của Ricardo, ta thấy Lgiấy Trung Quốc/Lgiấy Việt Nam bằng 10/40 và Lvải Trung Quốc/Lvải Việt Nam bằng 15/20 Do 10/40 < 15/20, nên Trung Quốc

9

được đánh giá là có lợi thế so sánh tương đối trong sản xuất giấy và Việt Nam có lợi thế tương đối trong sản xuất vải Việt Nam sẽ chuyên môn hoá sản xuất vải

và đem đổi vải lấy giấy củaTrung Quốc, bởi vì nếu không có sự trao đổi này, Việt Nam sẽ phải chi phí 40 giờ lao động thay vì 20 giờ lao động Còn với Trung Quốc, mặc dù có lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng nhưng vẫn chuyển lao động sang sản xuất giấy để thu lợi nhiều hơn

Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của Ricardo vì vậy còn có tên gọi là lý

thuyết lợi thế chi phí tương đối Lý thuyết này đặt ra vấn đề là một sản phẩm có thể được sản xuất ở trong nước nhưng cũng có thể được nhập khẩu hoặc xuất

nhiều vốn ở cả hai quốc gia

- Cả hai hàng hoá được sử dụng trong điều kiện tỷ lệ thu hồi theo quy mô là không đổi ở cả hai quốc gia

- Không có sự chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn ở hai quốc gia

- Sở thích của hai quốc gia là như nhau

- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo

- Có sự dịch chuyển linh hoạt của các yếu tố lao động và vốn trong phạm vi quốc gia nhưng không có sự dịch chuyển quốc tế

- Không xét chi phí vận tải, thuế nhập khẩu hoặc các trở ngại thương mại

khác (thương mại tự do)

- Toàn bộ tài nguyên được sử dụng triệt để ở cả hai nước

- Thương mại quốc tế giữa hai quốc gia được cân đối

Theo giả định trên, ngành dệt là ngành sử dụng nhiều lao động hơn, trong

khi ngành giấy sử dụng nhiều vốn hơn nếu:

(K/L) để sản xuất giấy > (K/L) để sản xuất vải

Cho rằng, giá chi phí vay vốn (hay còn gọi là lãi suất) là (r) được tính bằng USD và tiền lương là (w) được tính bằng USD/giờ, Trung Quốc sẽ là nước dồi dào vốn hơn và Việt Nam dồi dào lao động hơn, nếu:

(r/w) ở Trung Quốc < (r/w) ở Việt Nam

Điều này có nghĩa là Trung Quốc (nơi có vốn tương đối rẻ, hay còn gọi là

lãi suất tương đối thấp) sẽ có lợi thế so sánh trong sản xuất các hàng hoá sử dụng

11

nhiều vốn (chẳng hạn như giấy) và Việt Nam(nơi có vốn đắt hơn và khan hiếm hơn) sẽ có lợi thế trong sản xuất các hàng hoá sử dụng nhiều lao động (như dệt vải) Do vậy, khi quan hệ buôn bán với nhau, Trung Quốc sẽ xuất khẩu giấy và Việt Nam sẽ xuất khẩu vải

Theo Heckscher – Ohlin, ở cả Trung Quốc và Việt Nam, lao động và vốn

được sử dụng để sản xuất ra các mặt hàng Tiền lương được trả cho công nhân và lãi suất được trả cho việc sử dụng vốn Như vậy, chi phí sản xuất vải và giấy ở không thể xảy ra và sự thay đổi công nghệ đã khiến cho các quốc gia có những thay đổi khác nhau về lợi thế so sánh Cũng giống như Ricardo, Heckscher – Ohlin cũng mới chỉ chú ý đến nhân tố cung tương đối của hàng hoá trên thị trường, mà chưa chú trọng đến sự thay đổi trong cầu tương đối, đặc biệt khi nó

bị hạn chế bởi khả năng thu nhập của dân chúng, do vậy nó chưa sát với thực tiễn của thương mại quốc tế, mà ở đó thương mại được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu dùng

1.1.3 Lý thuyết cầu tương hỗ của Stuart Mill

Khắc phục những hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo, nhà

Trang 6

kinh tế học người Anh Stuart Mill (1806 - 1873) đã đưa ra lý thuyết cầu tương

hỗ (hay cầu đối ứng), trong đó nhấn mạnh đến yếu tố cầu trong thương mại quốc

tế Ông cho rằng trong hoạt động trao đổi thương mại giữa hai nước, cung và cầu đều cần thiết, do vậy lợi thế so sánh không thể dựa trên chi phí so sánh mà dựa vào giá trị trao đổi Dựa trên những lý luận mà Ricardo đã nêu ra, Stuart Mill cho rằng một nước nếu mà sản phẩm của mình có nhu cầu, được ưa chuộng ở nước ngoài, thì nước đó thu được nhiều lợi nhuận nhất trong trao đổi hàng hoá Chẳng hạn, nếu sản phẩm giấy của Trung Quốc được dân chúng Việt Nam ưa chuộng, thì giá trị của nó sẽ tăng Nhờ đó, Trung Quốc có thể mua được nhiều hàng dệt may ở Việt Nam hơn và ngược lại

Để trình bày quan điểm của Stuart Mill, có thể đưa ra một ví dụ sau đây:

Với mức tiền lương như nhau, công nhân ở Trung Quốc và Việt Nam sản xuất như sau:

Việt Nam

Trung Quốc

Vải (mét/1 giờ công)

5

10

Giấy (tấn/1 giờ công)

100

đưa ra những giả thuyết đơn giản hoá của lý thuyết giá trị lao động, thì Haberler (1936) lại đưa ra lý thuyết chi phí cơ hội để chứng minh cho quy luật lợi thế

14

tương đối Haberler cho rằng: trên thực tế lao động không bao giờ có sự đồng nhất: những ngành khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác nhau với mức lương khác nhau, năng suất lao động và trình độ tay nghề khác nhau Hơn nữa, hàng hoá làm ra không chỉ bởi lao động mà còn bao gồm cả các yếu tố sản xuất khác như đất đai, vốn, kỹ thuật Việc so sánh hàm lượng lao động của các mặt hàng khác nhau sẽ đưa ra những nhận định sai lệch về giá trị tương đối, bởi vì việc sản xuất những mặt hàng đó đòi hỏi tỷ trọng khác nhau về các yếu tố sản xuất Theo Haberler thì chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lượng các hàng hoá khác phải cắt giảm để nhường lại đủ các nguồn tài nguyên để sản xuất thêm một đơn

vị hàng hoá thứ nhất Như vậy, nước nào có chi phí cơ hội thấp trong việc sản xuất một loại hàng hoá nào đó thì họ có lợi thế tương đối (lợi thế so sánh) trong việc sản xuất hàng hoá đó và không có lợi thế tương đối trong việc sản xuất hàng hoá thứ hai

Để chứng minh cho luận điểm này, Haberler giả định khi không có thương mại quốc tế, Trung Quốc phải bỏ đi 2/3 số đơn vị vải của mình để giành lại đủ các nguồn tài nguyên cho việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm giấy Như thế chi phí cơ hội về giấy của Trung Quốc là 1 giấy = 2/3 đơn vị vải Còn ngược lại chi phí cơ hội về giấy ở Việt Nam là 1 giấy = 2 vải Như vậy, Trung Quốc có lợi thế tương đối trong việc sản xuất giấy còn Việt Nam có lợi thế tương đối trong việc sản xuất vải Theo quy luật lợi thế tương đối, Trung Quốc sẽ chuyên môn hoá sản xuất giấy, còn Việt Nam sẽ chuyên môn hoá sản xuất vải Theo

Haberler, chi phí cơ hội 1 giấy = 2 vải ở Việt Nam và 1 giấy = 2/3 vải ở Trung quốc luôn là một hằng số Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí cơ hội rất ít khi là một hằng số Hầu hết các quốc gia đều ở trong tình trạng chi phí cơ hội tăng dần Bên cạnh lý thuyết lợi thế so sánh của Heckscher – Ohlin, nhà kinh tế học

Paul Samuelson phát triển rộng lý thuyết này tạo nên một lý thuyết chung là lý

Thương mại quốc tế sẽ tiếp tục được mở rộng cho đến khi giá cả tương đối của hàng hoá được cân bằng hoàn toàn

Khắc phục giả thuyết của Ricardo về thương mại quốc tế chỉ thực hiện gồm

Trang 7

hai nước, hai loại hàng hoá, vào năm 1965, nhà kinh tế học Balassa đã đưa ra

Trích đoạn Phát huy nội lực, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam Thách thức hiện nay trong việc phát huy lợi thế so sánh ở Việt Nam Không có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật% 92,4 90,7 93, Kinh nghiệm về công nghiệp hoá bền vững để phát huy tốt nhất những lợi thế so sánh

TaiLieuDaiHoc.com

Ngày đăng: 02/01/2024, 20:41

w