Ông đọc rất nhiều về triết học và lịch sử và đặc biệt quan tâm đến những nhà tư tưởng bắt đầu nhận thức và theo dõi một số trật tự trong lịch sử xã hội loài người.. Năm 1822, ông xuất bả
Trang 1MÔN: LỊCH SỬ VÀ LÝ THUYẾT XÃ HỘI HỌC
ĐỀ TÀI: XÃ HỘI HỌC CỦA AUGUSTE COMTE
HỌ VÀ TÊN
LỚP
MÃ SINH VIÊN
LÊ PHƯƠNG ANH
XÃ HỘI HỌC K40 2053010001
Trang 2I Tiểu sử của Auguste Comte 2
II Các học thuật, lý thuyết của Auguste Comte 4
2.1 Khái niệm xã hội học 4
2.2 Phương pháp luận xã hội học 4
2.3 Quan niệm về cơ cấu của xã hội học 5
2.4 Suy nghĩ về tôn giáo 7
2.5 Hệ thống triết học tích cực (System of Positive Philosophy) 7
2.6 Phát triển chủ nghĩa thực chứng và đối tượng của nó 8
2.7 Ý tưởng triết học khác 8
2.8 Chức năng luận 8
3.1 Vận dụng tĩnh học xã hội 9
3.2 Vận dụng động học xã hội 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3Auguste Comte được xem là cha đẻ của ngành Xã hội học Với những đóng góp của mình, Comte đã có công lao rất lớn đối với sự ra đời và phát triển của Xã hội học Ông là một nhà
tư tưởng Pháp, nhà lý thuyết xã hội, người tạo ra ngành xã hội học, nhà thực chứng luận đã đưa ra thuật ngữ "Xã hội học" ("Sociology") Ông đã đóng góp không nhỏ vào lĩnh vực xã hội học của thế giới
I Tiểu sử của Auguste Comte.
Auguste Comte (tên đầy đủ: Isidore Auguste Marie François Xavier Comte; 17 tháng 1 năm
1798 – 5 tháng 9 năm 1857) Ông sinh tại Montpellier, trong một gia đình kitô giáo và theo
xu hướng quân chủ, ở tây nam nước Pháp Comte lớn lên ngay từ đầu Cách mạng Pháp Cha của Comte, Louis Comte, một quan chức thuế và mẹ của ông, Rosalie Boyer, là những người theo chủ nghĩa bảo hoàng và người Công giáo La Mã chân thành sâu sắc Nhưng sự đồng cảm của họ trái ngược với chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hoài nghi tràn qua nước Pháp sau cuộc Cách mạng Pháp Comte đã giải quyết những xung đột này ngay từ khi còn nhỏ bằng cách từ chối tôn giáo và hoàng gia, ông trở thành một người có tư tưởng tự do và cách mạng rất sớm tập trung vào nghiên cứu xã hội từ khi còn trẻ Ông là người có trí tuệ thông minh Năm 1814, Sau khi học xong phổ thông, ông trúng tuyển vào Trường Bách khoa Paris
- được thành lập năm 1794 để đào tạo các kỹ sư quân sự nhưng nhanh chóng được chuyển đổi thành một trường tổng hợp dành cho các ngành khoa học tiên tiến Đây là ngôi trường nổi tiếng với những đào tạo chuyên sâu về Chủ nghĩa cộng hòa và tiến bộ Trường học tạm thời bị đóng cửa vào năm 1816, nhưng Comte nhanh chóng rời trường và tiếp tục học tại trường Y ở Montpellier Khi trường Bách khoa mở lại ông cũng không xin quay lại học Sau khi trở về Montpellier, Comte nhận ra sự khác biệt với gia đình và quyết định trở lại Paris, ông kiếm sống những công việc vun vặn, bấp bênh ở đó bằng việc thỉnh thoảng giảng dạy toán học và báo chí Ông đọc rất nhiều về triết học và lịch sử và đặc biệt quan tâm đến những nhà tư tưởng bắt đầu nhận thức và theo dõi một số trật tự trong lịch sử xã hội loài người Vào tháng 8 năm 1817, ông tìm thấy một căn hộ trên đường Bonaparte, ở Paris, nơi ông sống đến năm 1822, và sau đó trở thành một sinh viên và thư ký của Henri de Saint-Simon, người quen quan trọng nhất của Comte ở Paris, người đã đưa Comte tiếp xúc với xã hội trí thức, một nhà cải cách xã hội người Pháp và là một trong những người sáng lập chủ nghĩa xã hội, người đầu tiên thấy rõ tầm quan trọng của tổ chức kinh tế trong xã hội hiện đại
Ý tưởng của Comte rất giống với Saint-Simon’s Chính trong thời gian này Comte đã cho xuất bản những tiểu luận trong rất nhiều ấn bản đỡ đầu bởi Saint-Simon, L'Industrie, Le Politique, Le Censeur Européen và L'Organisateur, dù không xuất bản dưới tên riêng cho tới tận tác phẩm "La séparation générale des entre les opinions et les désirs" ("Sự tách biệt chung giữa ý kiến và mong muốn") năm 1819 Tư tưởng của một số triết gia chính trị quan
Trang 4trọng của Pháp trong thế kỷ 18 - như Montesquieu, Marquis de Condorcet, A.-R.-J Turgot,
và Joseph de Maistre, ông đã nghiên cứu một cách nghiêm túc về hệ thống tư tưởng của mình
Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ rệt, không thể dung hòa trong quan điểm và nền tảng khoa học của hai người đàn ông, và cuối cùng Comte đã tách khỏi Saint-Simon vào năm 1824 Comte sau đó đã nhận ra những gì ông muốn làm - đó là tiếp tục nghiên cứu thuyết thực chứng Năm 1822, ông xuất bản Kế hoạch của khoa học travaux nécessaires đổ réorganiser la société (Kế hoạch nghiên cứu khoa học cần thiết cho việc sắp xếp lại xã hội), dù vậy ông vẫn không nhận được một công việc ổn định, cuộc sống của Comte phải dựa vào tiền hỗ trợ từ bạn bè Năm 1825, ông kết hôn với Caroline Massin nhưng cuộc hôn nhân không hạnh phúc
và họ ly thân vào năm 1842 Năm 1826, ông bắt đầu giảng giáo trình triết học thực chứng Năm 1826, Comte bắt đầu một loạt bài giảng về "hệ thống triết lý tích cực" của mình cho một khán giả riêng, nhưng ông sớm bị suy nhược thần kinh nghiêm trọng Cũng cùng năm
1826 Comte được đưa tới bệnh viện thần kinh nhưng rời viện trong tình trạng chưa được chữa trị hoàn toàn vì ông muốn tiếp tục công việc dang dở Nhưng ông đã hồi phục gần như hoàn toàn các triệu chứng của mình vào năm sau, và vào năm 1828 - 1829, ông lại tiếp tục loạt bài giảng dự kiến của mình Điều này đã được kết luận thành công đến nỗi ông đã phân phối lại nó tại Royal Athenaeum trong thời gian 1829 – 1830 12 năm sau từ 1832 đến 1842 ông được dành cho việc xuất bản (sáu tập) triết học của mình trong một tác phẩm có tựa đề Cours de Philosophie positive (“Course of Positive Philosophy”; dịch Tiếng Anh “The Positive Philosophy of Auguste Comte”) Cũng trong khoảng thời gian đó, ông là gia sư và sau đó là giám khảo của École Polytechnique hồi sinh Sau đó, vào năm cuối, ông đã cãi nhau với giám đốc của trường và bị mất chức, cùng với phần lớn thu nhập của Comte Trong phần còn lại của cuộc đời, ông đã được hỗ trợ một phần bởi những người ngưỡng mộ người Anh như John Stuart Mill và các môn đệ người Pháp, đặc biệt là nhà ngữ văn và từ điển học Maximilien Littré Năm 1845 Comte có một trải nghiệm lãng mạn và tình cảm sâu sắc với Clotilde de Vaux, từ 1844, Comte sống với bà, nhưng bà đã chết vào năm sau vì bệnh lao Sau khi bà mất năm 1846, Comte đã lý tưởng hóa tình tiết tình cảm này, nó gây ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng và tác phẩm sau này của ông, đặc biệt là liên quan đến vai trò của phụ
nữ trong xã hội thực chứng mà ông định thành lập Ông cùng Stuart Mill phát triển một cái gọi là "tôn giáo nhân văn" mới Comte dành nhiều năm sau cái chết của Clotilde de Vaux để sáng tác tác phẩm lớn khác của ông, Système de politique positive, 4 vol (1851 - 1854; Hệ thống Chính sách Tích cực), trong đó ông đã hoàn thành việc xây dựng xã hội học của mình Toàn bộ tác phẩm nhấn mạnh đạo đức và tiến bộ đạo đức là mối quan tâm trung tâm của tri thức và nỗ lực của con người và đưa ra giải trình về chính thể, hoặc tổ chức chính trị, mà điều này đòi hỏi phải có Comte đã sống để xem các tác phẩm của mình được xem xét kỹ lưỡng trên khắp châu Âu Nhiều trí thức Anh đã bị ảnh hưởng bởi ông, và họ đã dịch và công bố tác phẩm của ông Những người sùng đạo tiếng Pháp của ông cũng tăng lên, và một lượng lớn thư từ được phát triển với các xã hội thực chứng trên khắp thế giới Tác phẩm cuối
Trang 5cùng, tập đầu tiên của "La Synthèse Subjective" được xuất bản năm 1856 Comte qua đời vì bệnh ung thư dạ dày vào ngày 5 tháng 9 năm 1857 ở Paris và được chôn cất ở nghĩa trang nổi tiếng Père Lachaise, được bao quanh bởi các đài kỷ niệm để tưởng nhớ mẹ của ông, Rosalie Boyer và Clotilde de Vaux Căn hộ mà ông sống từ 1841-1857 hiện được bảo tồn và đổi tên thành Maison d'Auguste Comte, tòa nhà nằm ở số 10 rue Monsieur-le-Prince, Paris Comte có tính cách khá u ám, vô ơn, tự cao và ích kỷ, nhưng ông đã bù đắp cho điều này bằng lòng nhiệt thành đối với lợi ích của nhân loại, sự quyết tâm về trí tuệ và sự chăm chỉ áp dụng vào công việc của cuộc đời mình Ông đã cống hiến không mệt mỏi cho việc thúc đẩy
và hệ thống hóa các ý tưởng của mình và ứng dụng chúng vào sự nghiệp cải thiện xã hội Tác phẩm chính: "Giáo trình triết học thực chứng" (1830 - 1842), "Những bài diễn văn về toàn bộ chủ nghĩa thực chứng" (1848), "Hệ thống chính trị thực chứng chủ nghĩa" (1851 -1854) Các tác phẩm khác của ông bao gồm Catéchisme positiveviste (1852; Giáo lý về tôn giáo tích cực) và Synthèse subjective (1856; “Tổng hợp chủ quan”) Nhìn chung, văn bản của Comte được sắp xếp tốt, và việc trình bày nó diễn ra một cách có trật tự một cách ấn tượng, nhưng văn phong của ông lại nặng nề, tốn nhiều công sức và khá đơn điệu Các tác phẩm chính của Comte được chú ý chủ yếu vì phạm vi, tầm quan trọng và tầm quan trọng của dự án của ông và sự kiên trì tận tâm mà ông đã phát triển và thể hiện ý tưởng của mình
II Các học thuật, lý thuyết của Auguste Comte.
Những đóng góp của Auguste Comte (1798-1857) trong các lĩnh vực xã hội học và triết học rất đa dạng và có tầm quan trọng lớn
2.1 Khái niệm xã hội học.
Đóng góp được công nhận nhất của Comte và đóng góp được liên kết nhiều nhất với tên của
nó là việc sử dụng, lần đầu tiên của thuật ngữ "Xã hội học" vào năm 1824 Ông là người tạo
ra ngành xã hội học, nhà thực chứng luận đã đưa ra thuật ngữ "Xã hội học" ("Sociology") Ông đã đóng góp không nhỏ vào lĩnh vực xã hội học của thế giới, những đóng góp của ông
về mặt lý thuyết như quan niệm về xã hội học xem xã hội học là khoa học nghiên cứu về các quy luật của sự tổ chức xã hội Nhờ vào khả năng phân tích và chất lượng tổng hợp tuyệt vời của mình, Comte có thể thu thập tất cả các nghiên cứu có trong thời gian của ông về xã hội
và về các hiện tượng xã hội Những nghiên cứu này đã đạt đến độ chín muồi nhất định và chính Comte đã tìm cách liên kết tất cả chúng theo cùng một thuật ngữ Với quan niệm coi đối tượng nghiên cứu của xã hội học là quy luật của hiện tượng xã hội, Comte đã có công đầu đối với việc đặt nền móng cho khoa học xã hội học Chủ yếu là do công lao này chứ không chỉ là việc sử dụng thuật ngữ xã hội học mà Comte được các nhà khoa học khắp nơi trên thế giới suy tôn là người khai sinh ra xã hội học
2.2 Phương pháp luận xã hội học.
Công lao thứ hai của Comte gắn liền với việc xác định phương pháp luận khi ông tách xã hội học ra khỏi triết học tư biện, kinh viện, giáo điều Ông phê phán tính chất chung chung, trừu
Trang 6tượng, xa rời thực tiễn của triết học duy tâm, giáo điều lúc bấy giờ Ông cho rằng triết học cũng cần phải tìm hiểu các bằng chứng thu thập được bằng các phương pháp của khoa học
tự nhiên Auguste Comte cho rằng xã hội học phải có nhiệm vụ góp phần tổ chức lại xã hội
và lập lại trật tự xã hội dựa vào các quy luật tổ chức và biến đổi xã hội do xã hội học nghiên cứu phát hiện được Đó cũng là tinh thần chủ yếu của triết học thực chứng do ông khởi xướng và chủ trương thực hiện Comte đòi hỏi khoa học xã hội cũng phải theo thực chứng luận của khoa học tự nhiên, trong đó quan trọng nhất là vật lý học và sinh lý học Theo quan điểm của Auguste Comte, xã hội học là khoa học nghiên cứu về xã hội cũng cần áp dụng các phương pháp giống như khoa học tự nhiên, khoa học thực chứng, tương tự như cá phương pháp cân đo thử nghiệm mà vật lý học, sinh vật học vẫn sử dụng để nghiên cứu các sự kiện vật lý trong việc vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu để tìm hiểu bản chất của xã hội
Vì vậy, Comte còn gọi xã hội học là vật lý học xã hội Nguyên tắc nghiên cứu của xã hội học
là kinh nghiệm luận và thực chứng luận Theo chủ nghĩa kinh nghiệm, mọi tri thức xã hội học phải bắt nguồn từ các kinh nghiệm rút ra từ quan sát những gì xảy ra trong cuộc sống xã hội của con con người Theo chủ nghĩa thực chứng, mọi tri thức xã hội học phải có căn cứ và các bằng chứng thu được một cách khoa học nhưng không phải dựa vào sự suy diễn hay sự tưởng tượng tách rời khỏi thực tế cuộc sống Xã hội học nghiên cứu xã hội bằng các phương pháp thực chứng, tức là thu thập và xử lý thông tin, kiểm tra giả thuyết và xây dựng lý thuyết, so sánh và tổng hợp cứ liệu
Auguste Comte phân loại các phương pháp xã hội học thành những nhóm:
1 Quan sát
2 Thực nghiệm
3 So sánh
4 Phân tích lịch sử
Quan điểm thực chứng luận của Comte về xã hội học thể hiện đặc biệt rõ qua việc trình bày các phương pháp này Theo đó, ông quan niệm rằng xã hội học là khoa học sử dụng các phương pháp khoa học thực chứng để nghiên cứu các quy luật biến đổi của xã hội Các quan điểm của Comte đã mở đầu cho thời kỳ xây dựng và phát triển một khoa học mới mẻ mà
Comte gọi là xã hội học hay vật lý học xã hội.
2.3 Quan niệm về cơ cấu của xã hội học.
Đóng góp thứ ba của Comte là việc xác định rõ thành phần cơ cấu của bộ môn xã hội học Theo Auguste Comte, xã hội học, còn gọi là vật lý học xã hội (Social Physics), hợp thành từ hai bộ phận chính là Tĩnh học xã hội (Social Statics) và Động học xã hội (Dynamics) Mỗi
bộ phận tập trung vào nghiên cứu một loại đối tượng, một loại hiện tượng xã hội
Trang 7Tĩnh học xã hội là bộ phận xã hội học chuyên nghiên cứu về trật tự xã hội, sự ổn định xã hội
và sự đồng thuận xã hội, cơ cấu xã hội, các thành phần và các mối liên hệ của các nhóm xã hội, gia đình và cộng đồng xã hội Chính vì những đối tượng nghiên cứu này tương đối ổn định nên bộ phận tri thức xã hội học về chúng cũng được Comte gọi là tĩnh học Tên gọi này bắt nguồn từ vật lý học mà một bộ phận của nó nghiên cứu trạng thái tĩnh, đứng im của các hiện tượng vật lý Với tĩnh học xã hội, Comte đã nêu ra được những câu hỏi nghiên cứu cơ bản của xã hội học: Trật tự xã hội là gì? Cái gì tạo nên sự ổn định, thống nhất xã hội? Làm thế nào duy trì, củng cố sự trật tự xã hội? Tĩnh học xã hội có đối tượng nghiên cứu cụ thể là thành phần cấu trúc của gia đình, là thể chế xã hội, là các nhóm và các tổ chức xã hội
Động học xã hội là một bộ phận xã hội học chuyên nghiên cứu các quy luật biến đổi xã hội
trong các hệ thống xã hội theo thời gian Comte đưa ra quy luật ba giai đoạn để giải thích sự phát triển của các hệ thống tư tưởng và hệ thống cơ cấu xã hội tương ứng Các câu hỏi nghiên cứu của động học xã hội là: xã hội biến đổi như thế nào? Lịch sử xã hội đã trải qua các giai đoạn nào? Cái gì làm cho xã hội biến đổi? Biến đổi xã hội không phải là sự rối loạn
xã hội mà là một quá trình vận động của xã hội Biến đổi xã hội là một quá trình thay đổi từ trạng thái xã hội này sang trạng thái xã hội khác, từ kiểu trật tự xã hội này sang kiểu trật tự
xã hội khác Do đó, tĩnh học xã hội – chuyên nghiên cứu trật tự xã hội giúp động học xã hội trả lời được phần nào các câu hỏi về sự biến đổi xã hội Động học xã hội sử dụng triệt để phương pháp so sánh và phương pháp lịch sử để xem xã hội đã biến đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác như thế nào
Với động học xã hội, Comte đã nêu ra “quy luật ba giai đoạn” của lịch sử xã hội loài người, Theo quy luật này, xã hội loài người phát triển lần lượt qua ba giai đoạn:
1 Giai đoạn thần học tương ứng với xã hội chiếm hữu nô lệ
2 Giai đoạn siêu hình tương ứng với xã hội phong kiến
3 Giai đoạn thực chứng tương ứng với xã hội tư bản chủ nghĩa
Mỗi giai đoạn lịch sử xã hội này đều đặc trưng bởi một kiểu nhận thức, một kiểu quan niệm: giai đoạn thần học đặc trưng bởi sự nhận thức mang tính thần bí và niềm tin vào các thế lực siêu tự nhiên, siêu nhân Giai đoạn siêu hình đặc trưng bởi nhận thức cảm tính, kinh nghiệm chứ không nặng về niềm tin vào thần thánh như giai đoạn trước Giai đoạn thực chứng đặc trưng bởi nhận thức của khoa học và vận dụng tri thức khoa học vào sản xuất kinh doanh Theo quy luật ba giai đoạn, mỗi giai đoạn trước là điều kiện phát triển của mỗi giai đoạn sau
Ví dụ, trong xã hội hiện đại, dòng họ không mất đi, cũng như các tư tưởng thần bí, siêu tự nhiên không hoàn toàn bị biến mất Việc biến đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác thường trải qua thời kỳ bất ổn định, mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới Comte cho rằng, hệ thống văn hóa bao gồm đạo đức và tinh thần quy định sự phát triển của hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội Quan niệm của Comte về lịch sử xã hội loài người có vẻ duy tâm nếu xét từ góc
Trang 8độ triết học duy vật Tuy nhiên, nếu xét nó trong bối cảnh xã hội Châu Âu lúc bấy giờ thì quan niệm này đánh dấu một sự tiến bộ nhất định Bởi vì lúc bấy giờ sự biến đổi xã hội trong lịch sử vẫn là một điều đầy bí ẩn cần có lời giải đáp Dựa vào quy luật ba giai đoạn, Comte cho rằng việc "xã hội học" ra đời ở giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa là một tất yếu lịch sử; và xã hội học là khoa học đứng trên tất cả các khoa học khác Xã hội học ra đời ở giai đoạn cuối của quá trình tiến hóa - giai đoạn thực chứng và đó là khoa học phức tạp nhất, phải dựa trên nền tảng khoa học khác Vì ra đời muộn nên xã hội học ngay lập tức đã phải là một khoa học thực chứng và chiếm vị trí cao nhất trong hệ thống thứ bậc các khoa học
2.4 Suy nghĩ về tôn giáo.
Auguste Comte cho rằng tôn giáo phát triển qua ba giai đoạn:
Một là, người tiền sử cho rằng những gì họ không hiểu được là một dạng sức mạnh siêu nhiên nào đó
Hai là, họ phát triển thành khái niệm về một vị thần trừu tượng
Ba là, con người dần gạt bỏ suy nghĩ như trên, tiến tới việc nghiên cứu hiện tượng một cách khoa học và chỉ tin vào những điều đã được kiểm nghiệm
Tuy nhiên, Comte đã lo ngại rằng nếu như tôn giáo là một phần không thể thiếu của cuộc sống thì việc phá bỏ nó sẽ gây ra tai họa Vì vậy, ông có đề xuất về một tôn giáo mang tính nhân loại, gồm từ thiện, trật tự và khoa học Tư tưởng đó của ông cũng được một số nhà triết học tiếp nhận như John Stuart Mill hay Alain de Botton Nhưng việc xây dựng thành công một tôn giáo như vậy là rất khó nếu không muốn nói là bất khả thi
2.5 Hệ thống triết học tích cực (System of Positive Philosophy).
Comte đã sống trong một trong những thời kỳ hỗn loạn nhất trong lịch sử châu Âu Vì vậy,
là một triết gia, mục đích của ông không chỉ là để hiểu xã hội loài người mà còn là quy định một hệ thống mà chúng ta có thể tạo ra trật tự thoát khỏi sự hỗn loạn, và do đó thay đổi xã hội theo hướng tốt đẹp hơn Cuối cùng, ông đã phát triển cái mà ông gọi là "hệ thống triết học tích cực", trong đó logic và toán học, kết hợp với kinh nghiệm giác quan, có thể hỗ trợ tốt hơn trong việc hiểu các mối quan hệ và hành động của con người, giống như cách mà phương pháp khoa học đã cho phép hiểu được tự nhiên thế giới Năm 1826, Comte bắt đầu một loạt bài giảng về hệ thống triết lý tích cực của mình cho một khán giả riêng, nhưng ông sớm bị suy nhược thần kinh nghiêm trọng Ông phải nhập viện và sau đó hồi phục với sự giúp đỡ của vợ mình, Caroline Massin, người mà ông kết hôn vào năm 1824 Ông tiếp tục giảng dạy khóa học vào tháng 1 năm 1829, đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ thứ hai trong cuộc đời của Comte kéo dài 13 năm Trong thời gian này, ông đã xuất bản sáu tập của Khóa học về Triết học Tích cực từ năm 1830 đến năm 1842 Toàn bộ tác phẩm nhấn mạnh đạo đức và tiến bộ đạo đức là mối quan tâm chính của kiến thức và nỗ lực của con người, và đã coi trọng tổ chức chính trị rằng điều này đòi hỏi Auguste Comte đặt nền móng cho một triết
Trang 9lý mới Với dòng suy nghĩ mới này, Comte đã rửa tội cho nó cùng tên với tác phẩm của mình và sau đó nó đã được đặt tên là "positivismo" Nhiều trí thức tiếng Anh đã bị ảnh hưởng bởi ông, và dịch và ban hành công việc của ông Tín đồ Pháp của ông cũng đã gia tăng và xã hội thực chứng phát triển trên khắp thế giới
2.6 Phát triển chủ nghĩa thực chứng và đối tượng của nó.
Đóng góp của Comte cho chủ nghĩa thực chứng không chỉ là đặt tên và mô tả nó, mà còn tìm kiếm ứng dụng của nó để cải thiện xã hội
Nhờ những đóng góp của Comte trong lĩnh vực này, các đối tượng của chủ nghĩa thực chứng
có thể được xác định:
1 Cung cấp tinh thần cá nhân với một hệ thống niềm tin thống nhất tinh thần tập thể
Thiết lập các quy tắc phối hợp về niềm tin chung của hệ thống niềm tin
2 Xác định một tổ chức chính trị, được tất cả đàn ông chấp nhận và đáp ứng nguyện vọng trí tuệ và khuynh hướng đạo đức của họ
3 Ý tưởng của Comte đã cho phép phát triển chủ nghĩa thực chứng sau này, một triết lý vẫn còn hiệu lực
2.7 Ý tưởng triết học khác.
Những đóng góp triết học của Comte không chỉ xảy ra trong các chủ đề của chủ nghĩa thực chứng Việc tạo ra triết lý tích cực của ông đòi hỏi Comte phải giải quyết các vấn đề triết học liên quan khác, đóng góp quan trọng cho sự phát triển lịch sử của chúng Trong số các chủ
đề triết học trong đó các ý tưởng của Comte đã được thảo luận rộng rãi là các khái niệm "ý thức hệ" và "không tưởng", và mối liên hệ của chúng với lý thuyết tách rời tâm linh khỏi thời gian Ngay cả chủ đề của nghệ thuật cũng được Comte đối xử rộng rãi trong các lý thuyết triết học của ông
2.8 Chức năng luận.
Là người tiếp thu có chọn lọc những quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và sau
đó là tư tưởng khai sáng của Hobbe, Rousseau và các nhà khoa học tự nhiên, Comte cho rằng, xã hội như cơ thể sống (biological organism) có cấu trúc bởi ba bộ phận rất quan trọng
đó là các thành phần (elements), chuỗi liên kết mô (tissues) và các cơ quan (organs) Xã hội cũng là một loại cơ thể sống được cấu trúc bởi gia đình với tư cách là tế bào sống (cells) của
cơ thể; sau đó là các giai cấp, giai tầng (castes) với tư cách là chuỗi liên kết các tế bào thành các mô thích hợp của cơ thể sống; cuối cùng là các thành phố hoặc các cộng động dân cư (real organs) Comte coi xã hội như một cơ thể thống nhất bởi các bộ phận, mỗi bộ phận có chức năng riêng đảm bảo sự tồn tại, phát triển của mình và có liên quan tới các bộ phận khác trong cơ thể xã hội, Comte đề cao tính thống nhất chức năng để duy trì một trật tự xã hội Tuy nhiên., khái niệm chức năng của Comte còn rất đơn giản và xã hội cũng được hiểu một
Trang 10cách đơn giản như cơ thể sống, cơ thể sinh học Sự tiến hóa của cơ thể xã hội lại được giải thích trên cơ sở tiến hóa tinh thần thông qua thuyết ba giai đoạn: thần học, siêu hình và thực chứng
III Vận dụng giải quyết hiện tượng xã hội Việt Nam đương đại.
3.1 Vận dụng tĩnh học xã hội.
Phương pháp luận
Lúc đầu, Comte nghiên cứu các cá nhân với tư cách là những thành phần hay đơn vị cấu thành của cơ cấu xã hội Comte xem cá nhân với tư cách là một tập hợp, một hệ thống gồm:
1 Các năng lực và nhu cầu đã có sẵn bên trong cá nhân;
2 Các nhu cầu, năng lực được tiếp thu từ bên ngoài qua quá trình cá nhân tham gia vào xã hội
Cấu trúc và trật tự xã hội.
Ở Việt Nam, cấu trúc xã hội thường được gọi là “Cơ cấu xã hội” biến đổi từ cấu trúc xã hội
“hai giai một tầng” gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức biến đổi sang cấu trúc xã hội nhiều thành phần mà hiện nay chính thức được gọi là các giai tầng xã hội Những giai tầng mới xuất hiện và phát triển như “doanh nhân”, “người sản xuất nhỏ”
Để giữ cho cấu trúc đó ổn định thì cần phải có một trật tự xã hội Theo Comte, các yếu tố gắn kết các cá nhân, các nhóm người lại với nhau thành một cấu trúc ổn định và trật tự là các mối quan hệ vật chất và các quy tắc pháp luật, quy tắc đạo đức, tinh thần Trật tự lao động, trật tự giao tiếp, tôn ti đạo đức và trật tự tôn giáo và nhiều yếu tố khác đều đóng góp vào việc thiết lập và duy trì trật tự xã hội Sau đó, quan niệm xã hội của Comte thay đổi, ông cho rằng cá nhân không phải là "đơn vị xã hội đích thực" Comte coi nghiên cứu về cá nhân là nghiên cứu thuộc về lĩnh vực sinh vật học, khác hẳn với nghiên cứu xã hội học chủ yếu phân tích các "đơn vị xã hội" Đơn vị xã hội cơ bản nhất, sơ đẳng nhất có mặt trong tất cả các đơn
vị xã hội khác là "gia đình" Điều thực sự có ý nghĩa về lý luận xã hội học là quan niệm của Comte về cơ cấu xã hội Cơ cấu xã hội bao giờ cũng được tạo nên từ các cơ cấu xã hội khác đơn giản hơn, gọi là tiểu cơ cấu xã hội Do đó, hiểu cơ cấu xã hội có nghĩa là nắm bắt được các đặc điểm, các thuộc tính và các mối liên hệ của các tiểu cơ cấu xã hội Cơ cấu xã hội phát triển theo con đường tiến hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Sự phát triển của xã hội biểu hiện ở mức độ phân hóa, đa dạng hóa và chuyên môn hóa chức năng, cũng như mức độ liên kết giữa các tiểu cơ cấu xã hội Comte đặt vấn đề nghiên cứu xem làm thế nào duy trì được mối liên kết giữa các bộ phận (các tiểu cơ cấu xã hội) khi mức độ phân hóa chức năng ngày một tăng lên trong xã hội Comte đưa ra cách giải quyết nhấn mạnh tới vai trò của nhà nước và yếu tố văn hóa, tinh thần xã hội