Bản chất của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa thông qua việc chuyển hóa giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh,
Trang 1BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề bài:
Tích lũy tư bản là gì? Vì sao phải tích lũy tư bản? Hãy tưởng tượng bạn là một nhà tư bản (một doanh nhân), bạn phải làm gì để quy mô tư bản của mình ngày càng phát triển
Họ và tên: Trần Ngọc Linh Lớp: Quản trị Marketing 63D
Mã SV: 11218592
HÀ NỘI, NĂM 2022
Trang 2đất nước trên cảnh quốc tế Đó là những thành quả rất đáng tự hào mà chúng ta
có được nhờ sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng sáng tạo các phương pháp, nguyên lý cơ bản của phát triển kinh tế vào điều kiện Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta dễ dàng nhận thấy chỉ có đường lối, kế hoạch đúng đắn để xây dựng và phát triển kinh tế
là chưa đủ, còn cần nguồn lực vật chất tương ứng đi kèm Vốn có được từ tích lũy tư bản là cơ sở để tạo ra việc làm, để có công nghệ tiên tiến, để tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế Nhận thức được tầm quan trọng và tính thực tiễn của việc tích lũy tư bản mà em chọn đề tài này
Trang 3I Tích lũy tư bản là gì? Tại sao phải tích lũy tư bản?
Để chỉ ra bản chất của tích lũy tư bản, cần nghiên cứu về tái sản xuất
Trong thực tế nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, quá trình sản xuất liên tục được lặp đi lặp lại không ngừng Quá trình sản xuất được lặp đi, lặp lại không ngừng được gọi là tái sản xuất
Tái sản xuất có hai hình thức chủ yếu là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Tái sản xuất giản đơn là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô như cũ Trong trường hợp này, ứng với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, toàn bộ giá trị thặng dư
đã được nhà tư bản tiêu dùng cho cá nhân
Tuy nhiên, tư bản không những được bảo tồn mà còn phải không ngừng lớn lên
Để thực hiện tái sản xuất mở rộng, nhà tư bản phải biến một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm Sự chuyển hóa một phần giá trị thặng dư thành
tư bản gọi là tích lũy tư bản
Bản chất của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa thông qua việc chuyển hóa giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục
mở rộng sản xuất kinh doanh, giành thắng lợi trong cạnh tranh thông qua mua thêm hàng hóa sức lao động, mở mang nhà xưởng, mua thêm nguyên vật liệu, trang bị thêm máy móc thiết bị… Nghĩa là, nhà tư bản không sử dụng hết giá trị thặng dư thu được cho tiêu dùng cá nhân mà biến nó thành tư bản phụ thêm Cho nên, khi thị trường thuận lợi, nhà tư bản bán được hàng hóa, giá trị thặng
dư vì thế sẽ ngày càng nhiều, nhà tư bản trở nên giàu có hơn
Thực chất, nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thặng dư Nhờ có tích lũy tư bản, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không những trở thành thống trị, mà còn không ngừng mở rộng sự thống trị đó
Trang 4II Nếu như bạn là một nhà tư bản (một doanh nhân), bạn phải làm gì để quy mô tư bản của mình càng ngày càng phát triển
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, với nhiều thành phần kinh tế trong đó có thành phần kinh tế tư nhân, không thể phủ nhận chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và nâng cao mức sống của người lao động
Đối với các doanh nghiệp hiện nay, việc vận dụng quy luật của tích lũy tư bản vào trong huy động vốn và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả là vô cùng quan trọng và cần thiết Doanh nghiệp cũng cần phải tiết kiệm sao cho hợp lý, việc xây dựng cơ sở sản xuất và thiết bị cũng cần phải được tính toán kỹ càng Nếu như em là một nhà tư bản (một doanh nhân), để quy mô tư bản của mình ngày càng phát triển, em có thể áp dụng những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản để có phương hướng phát triển doanh nghiệp của mình
Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào
tỷ lệ phân chia giữa tích lũy và tiêu dùng Nếu tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng đã được xác định thì quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng
dư
Dựa trên các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quy mô tích lũy, em có thể đưa ra các phương hướng để mở rộng quy mô tích lũy tư bản
1 Nhân tố thứ nhất là trình độ khai thác sức lao động
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến để sản xuất ra giá trị thặng dư đó Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư tăng sẽ tạo tiền đề tăng quy mô giá trị thặng dư Từ đó mà tạo điều kiện để tăng quy mô tích lũy Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư, ngoài sử dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối, các nhà
tư bản còn có thể sử dụng các biện pháp cắt xén tiền công, tăng ca tăng kíp, tăng cường độ lao động
Trước hết, các nhà tư bản nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách cắt
Trang 5xén vào tiền công Khi nghiên cứu sự sản xuất giá trị thặng dư, C.Mác giả định rằng sự trao đổi giữa công nhân và nhà tư bản là sự trao đổi ngang giá, tức là tiền công bằng giá trị sức lao động Nhưng trong thực tế, công nhân không chỉ
bị nhà tư bản chiếm đoạt lao động thặng dư, mà còn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, tức cắt xén tiền công, để tăng tích lũy tư bản
Bên cạnh đó, các nhà tư bản còn nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động để tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhờ đó tăng tích lũy tư bản C.Mác đã khẳng định giá trị thặng dư không phải do tư bản (tiền) được đầu tư vào sản xuất sinh ra, hoặc do máy móc tạo ra Giá trị thặng dư là do lao động thặng dư của người lao động tạo ra Cái lợi ở đây còn thể hiện ở chỗ nhà tư bản không cần ứng thêm tư bản để mua thêm máy móc, thiết bị mà chỉ cần ứng tư bản để mua thêm nguyên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất, tận dụng được công suất của máy móc, thiết
bị, nên giảm được hao mòn vô hình và chi phí bảo quản của máy móc, thiết bị Điều đó có nghĩa là thời gian công nhân sáng tạo ra giá trị càng được kéo dài ra nhưng chi phí càng được cắt giảm, do vậy khối lượng giá trị thặng dư càng lớn
và quy mô của tích lũy tư bản càng lớn
2 Nhân tố thứ hai tác động đến quy mô tích lũy tư bản là sử dụng hiệu quả máy móc
C.Mác gọi việc này là chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Tư bản sử dụng là giá trị của máy móc, thiết bị và tư liệu sản xuất được sử dụng trong quá trình tạo ra giá trị thặng dư Tư bản tiêu dùng là giá trị tiêu hao của máy móc, thiết bị, sự xuống cấp của chúng sau mỗi quá trình sử dụng Sự chênh lệch giữa hai yếu tố này càng lớn sẽ càng làm ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ đến quy mô tích lũy tư bản
Theo C.Mác, máy móc được sử dụng toàn bộ tính năng của nó, song giá trị chỉ được tính dần vào giá trị sản phẩm qua khấu hao Sau mỗi chu kỳ như thế, máy móc vẫn hoạt động toàn bộ nhưng giá trị của bản thân nó đã giảm dần do tính
Trang 6giá khấu hao để chuyển vào giá trị sản phẩm
Hệ quả là, mặc dù giá trị đã bị khấu hao, song tính năng hay giá trị sử dụng thì vẫn nguyên như cũ, như lực lượng phục vụ không công trong sản xuất Sự phục
vụ không công ấy được lao động sống nắm lấy và làm cho chúng hoạt động Chúng được tích lũy lại cùng với tăng quy mô tích lũy tư bản Đồng thời, sự lớn lên không ngừng của quỹ khấu hao trong khi chưa cần thiết phải đổi mới tư bản
cố định cũng trở thành nguồn tài chính có thể sử dụng cho mở rộng sản xuất Như vậy, nhà tư bản thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết
bị và tư liệu sản xuất được sử dụng trong quá trình sử dụng để tăng quy mô tích lũy tư bản cho doanh nghiệp
3 Nhân tố thứ ba là đại lượng tư bản ứng trước
Để sản xuất ra giá trị thặng dư, nhà tư bản phải ứng trước tư bản ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động Nếu thị trường thuận lợi, hàng hóa luôn bán được,
tư bản ứng trước càng lớn sẽ là tiền đề cho tăng quy mô tích lũy
Công thức tính quy mô tư bản ứng trước là M = m’.V Khi trình độ khai thác sức lao động (chính là yếu tố tỷ suất giá trị thặng dư m’) không thay đổi thì khối lượng giá trị thặng dư (M) do khối lượng tư bản khả biến (V) sẽ quyết định Trong quy mô của tư bản ứng trước, nếu bộ phận tư bản khả biến càng lớn thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột càng tăng theo để tạo điều kiện tăng thêm quy mô cho tích lũy tư bản
Nhà tư bản căn cứ vào thị trường để đưa ra quyết định về quy mô của tư bản ứng trước Thị trường thuận lợi, hàng hóa bán được, nhà tư bản sẽ tăng đại lượng tư bản ứng trước, tạo tiền đề tăng quy mô tích lũy tư bản
4 Nhân tố thứ tư là năng suất lao động xã hội
Năng suất lao động tăng làm cho giá trị tư liệu sinh hoạt giảm xuống, làm giảm giá trị sức lao động giúp cho nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn, góp phần tạo điều kiện cho phép tăng quy mô tích lũy Sự giảm này đem lại hai
Trang 7hệ quả cho tích lũy tư bản:
Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích lũy có thể tăng lên, nhưng tiêu dùng của các nhà tư bản không giảm, thậm chí có thể cao hơn trước
Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích lũy có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm lớn hơn trước
Do đó, quy mô của tích lũy không chỉ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư được tích lũy, mà còn phụ thuộc vào khối lượng hiện vật do khối lượng giá trị thặng dư đó có thể chuyển hóa thành
Như vậy năng suất lao động xã hội tăng lên sẽ có thêm những yếu tố vật chất để biến giá trị thặng dư thành tư bản mới, nên làm tăng quy mô của tích lũy Nếu năng suất lao động cao, thì lao động sống sử dụng được nhiều lao động quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới hình thái có ích mới, được sử dụng làm chức năng của tư bản ngày càng nhiều, do đó cũng làm tăng quy mô của tích lũy tư bản
Ngoài ra, dựa trên quan điểm của C.Mác, nhà tư bản có thể vận dụng các nhân
tố ảnh hưởng đến năng suất lao động để tăng năng suất lao động
Trước hết là trình độ khéo léo của người lao động Đây là nhân tố đầu tiên
C.Mác đề cập trong hệ thống các nhân tố tác động đến năng suất lao động Theo C.Mác, người lao động có trình độ thành thạo càng cao, thì năng suất lao động càng cao Điều này không chỉ xảy ra đối với những người lao động thủ công, mà còn xảy ra đối với những người lao động bằng máy móc Bởi vì, tốc độ làm việc của máy móc rất cao, đòi hỏi người lao động phải có trình độ thành thạo tương ứng, thì mới theo kịp được tốc độ làm việc của máy móc
Đồng thời, mức độ thành thạo của người lao động sẽ được nâng lên khi người lao động được đào tạo hoặc được làm một công việc nào đó thường xuyên Bởi
vì, khi thường xuyên làm một việc sẽ giúp người lao động làm việc trơn tru, liền
Trang 8mạch và tiêu tốn ít thời gian hơn Do đó, với độ dài ngày lao động như nhau, trình độ thành thạo của người lao động càng cao, thì năng suất lao động càng tăng
Như vậy, một nhà tư bản cần có những giải pháp nâng cao chất lượng của người lao động như: chú trọng công tác tuyển dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học tập, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: thúc đẩy việc nhân viên
tự tìm tòi, học hỏi và tự nâng cao trình độ bản thân thông qua các khóa đào tạo trực tuyến, internet và tạo môi trường học tập ngay tại doanh nghiệp Điển hình như việc sắp xếp nhân viên mới cùng bộ phận với những nhân viên kỳ cựu để
họ có thể học việc nhanh nhất,…
Tiếp theo là khả năng áp dụng khoa học vào quá trình sản xuất Khi nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác thấy rằng, khoa học tách ra khỏi lao động trở thành “tiềm lực sản xuất độc lập” Tuy nhiên, để thực sự trở thành động lực thúc đẩy nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, thì những thành tựu khoa học
đó phải được đem vào ứng dụng trong quá trình sản xuất
Theo C.Mác, biểu hiện rõ nét của việc ứng dụng khoa học vào quá trình sản xuất đó là việc đổi mới quy trình sản xuất và đưa ngày càng nhiều máy móc vào các quá trình sản xuất Trong hệ thống các nhân tố tác động đến năng suất lao động, C.Mác thấy rằng, “máy móc là phương tiện mạnh nhất để tăng năng suất lao động”
Theo C.Mác, “máy móc chứa đựng lao động ít bao nhiêu, thì giá trị mà chúng chuyển vào sản phẩm lại càng ít bấy nhiêu” Vì vậy, nếu sử dụng ngày càng nhiều máy móc với quy mô ngày càng lớn kết quả là “… chẳng những sản xuất
ra đủ bảo đảm sự tiêu dùng dồi dào cho tất cả mọi người trong xã hội và gây một quỹ dự trữ quan trọng ”
Như vậy, một nhà tư bản cần đổi mới quy trình sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và thiết bị máy móc vào quá trình sản xuất để tăng năng suất lao
Trang 9động, dẫn đến tăng quy mô tích lũy tư bản
Ngoài ra, phải kể đến sự phân công lao động và sự kết hợp xã hội của quá trình
sản xuất Trước khi xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, các hoạt động
sản xuất là độc lập, mỗi người phụ trách các công đoạn của quá trình sản xuất Nhưng khi phương thức tư bản chủ nghĩa xuất hiện, quá trình sản xuất được tổ chức thành nhiều công đoạn, người lao động chỉ hoạt động ở một công đoạn của quá trình sản xuất này và chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm
Nhờ chỉ chuyên môn làm một công việc, mà mỗi người công nhân bộ phận dùng ít thời gian hơn người thợ thủ công lần lượt làm cả một chuỗi công việc
Vì rút ngắn được thời gian sản xuất của từng công đoạn, nên thời gian sản xuất
một sản phẩm hoàn chỉnh cũng được rút ngắn
Chính vì vậy, C Mác coi phân công lao động chính là “phương tiện để sản xuất
ra được nhiều hàng hóa hơn với một số lượng lao động như cũ”, hay phân công lao động chính là một nhân tố quan trọng nâng cao năng suất lao động
Tuy nhiên, để nâng cao năng suất lao động, theo C.Mác, không chỉ có phân công lao động, mà còn phải gắn phân công lao động với kết hợp xã hội trong quá trình sản xuất Theo đó, phải đưa người lao động đơn lẻ, làm việc trong những khâu, những bước khác nhau vào một không gian chung, có sự liên kết với nhau trong quá trình sản xuất
Theo C.Mác, thì sự kết hợp không chỉ xảy ra ở các công trường thủ công, mà ngay cả khi bước vào giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, khi mà sản xuất bằng máy móc ngày càng nhiều hơn, thì càng cần đến sự kết hợp xã hội ấy “Vì bản thân tổng thể máy móc là một hệ thống gồm nhiều chiếc máy khác nhau, hoạt động cùng một lúc và kết hợp với nhau, cho nên sự hiệp tác dựa trên hệ thống máy móc đó cũng đòi hỏi phải phân chia những nhóm công nhân khác loại cho những máy móc khác loại”
Trang 10Như vậy, nhà tư bản cần phân công công việc phù hợp cho người lao động, phải đưa người lao động riêng lẻ, làm việc ở những công đoạn khác nhau vào một không gian chung, có sự liên kết với nhau trong quá trình sản xuất