1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức liên hệ bản thân, cá nhân tôi thấy được rằng bản thân phải luôn phát huy tính năng động sáng tạo

15 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức Liên Hệ Bản Thân, Cá Nhân Tôi Thấy Được Rằng Bản Thân Phải Luôn Phát Huy Tính Năng Động Sáng Tạo
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 168,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức liên hệ bản thân, cá nhân tôi thấy được rằng bản thân phải luôn phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nhân tố con người để tác độn

Trang 2

II Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 10

2.1 Vật chất có vai trò quyết định ý thức 10

2.2 Ý thức tác động trở lại vật chất 11

III Ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ 11

3.1 Ý nghĩa phương pháp luận 11

IV Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất 12

4.1.Tác động tích cực 12

4.2 Tác động tiêu cực 13

4.3 Phát huy tính năng động, tích cực của ý thức 13

PHẦN KẾT LUẬN 14

Trang 3

Mở đầu

1.Lý do chọn đề tài

 trong quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải coi trọng thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm cho căn cứ cho mọi hoạt động của mình

 Bên cạnh đó, cần phải phát huy tính năng động chủ quan, tức là phát huy vai trò tích cực của ý thức, vai trò tích cực của nhân tố con người Như vậy, để đạt được thành công trong mọi lĩnh vực, con người cần trang bị các tri thức cần thiết và xác định đúng đắn mục tiêu, phương hướng hoạt động và tổ chức thực hiện Cùng với nỗ lực và

ý chí mạnh mẽ của mình để đạt được mục tiêu đề ra Từ mối quan hệ giữa vật chất và

ý thức liên hệ bản thân, cá nhân tôi thấy được rằng bản thân phải luôn phát huy tính

năng động sáng tạo của ý thức, phát huy nhân tố con người để tác động cải tạo thế giới khách quan Đặc biệt cần tránh tình trạng bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại

2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

●Mục tiêu

Tìm hiểu về vật chất là gì? Nguồn gốc và bản chất của ý thức? Từ đó tìm ra mối quan

hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, nêu ra ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ Qua đó liên hệ với bản thân chứng minh sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất

Phạm vi nghiên cứu Thông qua các tài liệu giáo trình, bài giảng của giảng viên, các trang mạng, bài báo trong và ngoài nước kết hợp với kiến thức của bản thân

Trang 4

I Vật chất và ý thức

1.1 Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất 1.1.1 Định nghĩa phạm trù vật chất

Vật chất với tính cách là một phạm trù triết học ra đời trong triết học Hy Lạp cổ đại Ngay từ đầu, xung quanh phạm trù này đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Nhưng phạm trù vật chất được hiểu rất khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động nhận thức và thực tiễn trong từng thời kỳ lịch sử của nhân loại

1.1.2 Quan niệm duy vật

Coi vật chất là thực thể, cơ sở đầu tiên, bất biến của tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan

- Quan niệm duy vật cổ đại về vật chất mang tính trực quan, cảm tính, thể hiện ở

sự đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của nó, tức là những sự vật cụ thể, coi đó là cơ

sở đầu tiên của mọi tồn tại như: Đất, nước, lửa, không khí, apâyrôn Đỉnh cao trong quan niệm vật chất cổ đại là thuyết nguyên tử của Lơxip và Đêmôcrit, thừa nhận thực thể

của thế giới là nguyên tử.

Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng thuyết nguyên tử cổ đại là một bước phát triển mới của chủ nghĩa duy vật trên con đường hình thành phạm trù vật chất, tạo cơ sở triết học cho nhận thức khoa học sau này Tuy nhiên, đó mới chỉ là những phỏng đoán giả định

- Từ cuối thế kỷ XVI và đặc biệt là trong thế kỷ XVII - XVIII: Việc coi nguyên tử

là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia được, tách rời vận động, không gian và thời gian vẫn là một quan niệm phổ biến Chính Galilê, Đềcác, Bêcơn,

Hôpxơ đã khẳng định và phát triển quan niệm này

- Sang thế kỷ XIX, các nhà triết học và khoa học tự nhiên do không hiểu phép biện chứng duy vật vẫn đồng nhất vật chất với nguyên tử, hoặc với một thuộc tính phổ

Trang 5

biến của các vật thể là khối lượng.

- Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trong vật lý học hiện đại xuất hiện những phát minh quan trọng đem lại cho con người những hiểu biết mới, sâu sắc về cấu trúc của thế giới vật chất

Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ

Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử

Năm 1901, Kaufman đã phát hiện ra rằng trong quá trình vận động, khối lượng của điện tử thay đổi khi vận tốc của nó thay đổi

Những phát minh đó chứng minh rằng sự đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể của vật chất, với những thuộc tính của vật chất như quan niệm duy vật trước Mác đã không còn phù hợp nữa và trở thành căn cứ để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng chống lại chủ

nghĩa duy vật Họ cho rằng "vật chất đã tiêu tan", và toàn bộ nền tảng của chủ nghĩa duy vật đã bị sụp đổ hoàn toàn Cuộc “khủng hoảng của vật lý học” xuất hiện.

Lênin đã phân tích tình hình phức tạp ấy và chỉ rõ: Những phát minh có giá trị to lớn của vật lý học cận đại không hề bác bỏ chủ nghĩa duy vật mà chỉ bác bỏ quan

niệm cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về mặt cấu trúc, rằng nguyên tử hay khối lượng là giới hạn cuối cùng, bất biến của giới tự nhiên Lênin đã chỉ ra rằng, không

phải "vật chất tiêu tan" mất, mà chỉ có giới hạn hiểu biết của con người về vật chất là tiêu tan Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc cuộc “khủng hoảng của vật lý học” và phê

phán những quan niệm duy tâm, siêu hình về phạm trù vật chất, Lênin đã đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về phạm trù vật chất mà cho đến nay các khoa học hiện đại vẫn thừa nhận

1.1.3 Định nghĩa vật chất của Lênin

"Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".

Trang 6

- Theo Lênin, phạm trù vật chất là một phạm trù “rộng đến cùng cực, rộng nhất

mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt qua được” nên không thể định

nghĩa vật chất bằng phương pháp thông thường, đem quy nó về một vật thể, một thuộc tính hoặc vào một phạm trù rộng lớn hơn được Vì vậy, Lênin đã sử dụng phương pháp

mới để định nghĩa vật chất là đem đối lập vật chất với ý thức và xác định nó “ là cái mà

khi tác động lên giác quan của chúng ta thì gây nên cảm giác”.

Trước tiên, cần phải phân biệt vật chất với tư cách là một phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các dạng vật chất Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi

- Trong định nghĩa, Lênin đã chỉ rõ khi vật chất đối lập với ý thức trong nhận thức

luận thì cái quan trọng nhất để nhận biết nó chính là thuộc tính khách quan "Vật chất là

thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác".

Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:

1 Vật chất có trước, ý thức có sau; vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức

2 Vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức; cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên giác quan con người

3 Cảm giác, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của vật chất Ý thức con người là sự

phản ánh thực tại khách quan, nghĩa là con người có khả năng nhận thức được thế giới

- Định nghĩa vật chất của Lênin đã bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học

trên lập trường duy vật biện chứng, thừa nhận trong nhận thức luận thì vật chất là tính thứ

nhất, và con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Như vậy, định nghĩa vật chất

của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, khắc phục được tính chất siêu hình, trực quan

trong các quan niệm về vật chất.

- Định nghĩa vật chất của Lênin còn chống lại các quan điểm duy tâm về vật chất, tạo cơ sở lý luận để khắc phục quan điểm duy tâm về đời sống xã hội

Trang 7

- Định nghĩa vật chất của Lênin còn có vai trò định hướng cho sự phát triển của nhận thức khoa học

1.2 Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức.

1.2.1.Nguồn gốc của ý thức.

1.2.1.1.Nguồn gốc tự nhiên.

Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người

Bộ óc con người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội và có cấu tạo rất phức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tế bào thần kinh Các tế bào này tạo nên nhiều mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài thông qua các phản xạ có điều kiện và không điều kiện

Hoạt động ý thức con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ

óc người Sự phụ thuộc của ý thức vào hoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Ý thức là chức năng của bộ óc người, là hình ảnh tinh thần phản ánh thế giới khách quan; nhưng ý thức không diễn ra ở đâu khác ngoài hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người

Ngược lại, chủ nghĩa duy tâm tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc, thần bí hoá hiện tượng tâm lý, ý thức Còn chủ nghĩa duy vật tầm thường lại đồng nhất vật chất với ý thức

Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ

óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức

Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phản ánh là

năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác.

Trang 8

Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao với nhiều hình thức khác nhau

- Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thể hiện

qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá

- Phản ánh sinh học trong giới hữu sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứng

với mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật:

+ Tính kích thích: Thể hiện ở thực vật, động vật bậc thấp, đã có sự chọn lọc trước những tác động của môi trường

+ Tính cảm ứng: Thể hiện ở động vật bậc cao có hệ thần kinh, xuất hiện do những tác động từ bên ngoài lên cơ thể động vật và cơ thể phản ứng lại Nó hoàn thiện hơn tính kích thích, được thực hiện trên cơ sở các quá trình thần kinh điều khiển mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường thông qua cơ chế phản xạ không điều kiện

+ Tâm lý động vật: Là hình thức cao nhất trong giới động vật gắn liền với các quá trình hình thành các phản xạ có điều kiện, thông qua các cảm giác, tri giác, biểu tượng ở động vật có hệ thần kinh trung ương

- Phản ánh ý thức: Gắn liền với quá trình chuyển hoá từ vượn thành người Đó là

hình thức phản ánh mới, đặc trưng của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người

Như vậy, sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

1.2.1.2.Nguồn gốc xã hội.

Để ý thức có thể ra đời, những nguồn gốc tự nhiên là rất cần thiết nhưng chưa đủ Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội

- Lao động đem lại cho con người dáng đi thẳng đứng, giải phóng 2 tay Điều này cùng với chế độ ăn có thịt đã thực sự có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển hoá từ

vư-ợn thành người, từ tâm lý động vật thành ý thức Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý

Trang 9

nghĩa to lớn là con người đã có ý thức về mục đích của hoạt động biến đổi thế giới.

- Trong quá trình lao động, con người tác động vào các đối tượng hiện thực, làm chúng bộc lộ những đặc tính và quy luật vận động của mình qua những hiện tượng nhất định Những hiện tượng đó tác động vào bộ óc con người gây nên những cảm giác, tri giác, biểu tượng Nhưng quá trình hình thành ý thức không phải là do tác động thuần túy

tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ óc con người, mà chủ yếu là do hoạt động lao

động chủ động của con người cải tạo thế giới khách quan nên ý thức bao giờ cũng là ý thức của con người hoạt động xã hội Quá trình lao động của con người tác động vào thế giới đã làm cho ý thức không ngừng phát triển, mở rộng hiểu biết của con người về những thuộc tính mới của sự vật Từ đó, năng lực tư duy trừu tượng của con người dần dần hình thành và phát triển

- Lao động ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mối liên hệ tất yếu, khách quan Mối liên hệ đó không ngừng được củng cố và phát triển đến mức làm

nảy sinh ở họ một nhu cầu "cần thiết phải nói với nhau một cái gì đó", tức là phương tiện

vật chất để biểu đạt sự vật và các quan hệ của chúng Đó là ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Theo Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của

tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng; không có ngôn ngữ thì con người không thể có

ý thức

Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội

1.2.2.Bản chất của ý thức.

- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ

quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động

vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng

Trang 10

định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động Vì vậy, ý thức là cái vật chất

đ-ược đem chuyển vào trong đầu óc con người và đđ-ược cải biến đi ở trong đó”.

Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú Trên cơ sở những cái đã

có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có tính khái quát cao

Tuy nhiên, sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, bởi vì ý thức bao giờ cũng chỉ là

sự phản ánh tồn tại

- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên về bản chất là có tính xã hội

II Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

Vật chất và ý thức có quan hệ 2 chiều và tác động qua lại lẫn nhau Mối quan hệ

giữa vật chất và ý thức được thể hiện qua nhận thức và thực tiễn như sau:

2.1.Vật chất có vai trò quyết định ý thức

 Do tồn tại khách quan nên vật chất là cái có trước và mang tính thứ nhất Ý thức là sự phản ánh lại của vật chất nên là cái có sau và mang tính thứ hai Nếu không có vật chất trong tự nhiên và vật chất trong xã hội thì sẽ không có ý thức nên ý thức là thuộc tính, là sản phẩm của vật chất, chịu sự chi phối, quyết định của vật chất Bên cạnh đó,

ý thức có tính sáng tạo, năng động nhưng những điều này có cơ sở từ vật chất và tuân theo những quy luật của vật chất

 Vật chất quy định nội dung và hình thức biểu hiệu của ý thức Điều này có ý nghĩa là

ý thức mang những thông tin về đối tượng vật chất cụ thể Những thông tin này có thể đúng hoặc sai, đủ hoặc thiếu, sự biểu hiện khác nhau đều do mức độ tác động của vật chất lên bộ óc con người

Trang 11

2.2 Ý thức tác động trở lại vật chất

 Mặc dù vật chất sinh ra ý thức nhưng ý thức không thụ động mà sẽ tác động trở lại cật chất thông qua các hoạt động thực tiễn của con người Ý thức sau khi sinh ra sẽ không

bị vật chất gò bó mà có thể tác động làm thay đổi vật chất

 Vai trò của ý thức đối với vật chất thể hiện ở vai trò của con người đối với khách quan Qua hoạt động của con người, ý thức có thể thay đổi, cải tạo hiện thực khách quan theo nhu cầu phát triển của con người Và mức độ tác động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhu cầu, ý chí, điều kiện, môi trường… và nếu được tổ chức tốt thì ý thức

có khả năng tác động lớn đến vật chất

 Ý thức không thể thoát ly hiện thực khách quan, sức mạnh của ý thức được chứng tỏ qua việc nhận thức hiện thực khách quan và từ đó xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu ý chí để hoạt động của con người có thể tác động trở lại vật chất Việc tác động tích cực lên vật chất thì xã hội sẽ ngày càng phát triển và ngược lại, nếu nhận tức không dùng, ý thức sẽ kìm hãm lịch sử

III Ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ

3.1 Ý nghĩa phương pháp luận.

– Phải luôn xuất phát từ hiện thực khách quan trong mọi hoạt động

 Tri thức mà con người thu nhận được sẽ thông qua chu trình học tập, nghiên cứu từ các hoạt động quan sát, phân tích để tác động vào đối tượng vật chất và buộc những đối tượng đó phải thể hiện những thuộc tính, quy luật

 Để cải tạo thế giới khách quan đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải căn cứ vào hiện thực khách quan để có thể đánh giá, xác định phương hướng biện pháp, kế hoạch mới có thể thành công

Ngày đăng: 23/12/2023, 18:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w