Với ý nghĩa đó, sau một thời gian nghiên cứu và học tập, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo, em đã lựa chọn đề tài: "Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất v
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VỚI Ý THỨC VÀ VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỒI
MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện: Hà Mai Linh
MSV: 2012140029
Lớp Anh 2, CTTT Kinh tế, Khóa 59
Giảng viên giảng dạy: TS Bùi Thị Thuỷ
Hà Nội, tháng 3 năm 2021
MỤC LỤC
Trang 21.1 Phạm trù vật chất 4 1.1.1 Định nghĩa 4 1.1.2 Các đặc tính của vật chất 5 1.1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới 7 1.2 Phạm trù ý thức 9
1.2.1 Nguồn gốc của ý thức 9 1.2.2 Bản chất và kết cấu của ý thức 12 1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 13
2 Ý nghĩa phương pháp luận & sự vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay ……….…
14
2.1 Ý nghĩa phương pháp luận 14
2.2 Sự vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 15
III KẾT LUẬN 17
KHẢO……… 18
Trang 3MỞ ĐẦU
Thế giới xung quanh ta có vô vàn sự vật và hiện tượng phong phú, đa dạng Tuy nhiên, dù phong phú và đa dạng đến đâu thì chúng đều được quy về hai lĩnh vực: vật chất và ý thức Vật chất là nguồn gốc khách quan sản sinh ra ý thức, ý thức chỉ là sản phẩm, là phản ánh thế giới khách quan, vì vậy trong hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan, biết tạo điều kiện và phương tiện vật chất tổ chức lực lượng thực hiện biến khả năng thành hiện thực
Với sự khởi xưởng và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn ba mươi năm, đất nước và dân tộc ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng và có những thay đổi lớn lao cho đất nước và dân tốc Để đạt được kết quả quan trọng đó, Đảng
và nhà nước ta đã vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của triết học Mác -Lênin, trong đó có mối quan hệ biện chứng duy vật giữa vật chất và ý thức Vì vậy, tìm hiểu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép chúng ta vận dụng nó vào công cuộc đổi mới đất nước
Với ý nghĩa đó, sau một thời gian nghiên cứu và học tập, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo, em đã lựa chọn đề tài: "Quan điểm duy vật biện chứng
về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và vận dụng vào công cuộc đồi mới ở nước
ta hiện nay" Do kiến thức của em còn hạn chế cho nên tiểu luận sẽ không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót Do vậy, em kính mong sự góp ý của cô để tiểu luận có thể đầy
đủ và hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 4NỘI DUNG
1 Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1.1 Phạm trù vật chất 1.1.1 Định nghĩa Vật chất là phạm trù rất phức tạp và có rất nhiều quan niệm khác nhau về vật
chất đúng, nhưng Lênin đã định nghĩa: "Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Lênin định nghĩa vật chất là một “phạm trù triết học” chỉ cái chung nhất, chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học
cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn Với định nghĩa này, vật chất không thể bị quy chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể của vật chất như các nhà triết học duy vật trong lịch sử Cổ đại và Cận đại Định nghĩa vật chất như vậy khắc phục được những quan niệm siêu hình của chủ nghĩa duy vật
cũ, đồng nhất vật chất với hình thức biểu hiện cụ thể của nó
Định nghĩa trên đã khẳng định tính khách quan của vật chất “dùng để chỉ thực tại khách quan” Điều đó có nghĩa là vật chất tồn tại bên ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người, cho dù sự tồn tại ấy con người nhận thức được hay chưa nhận thức được Do vậy, Lênin đã cho rằng bản chất vật chất là vốn
tự nó có, không do ai sinh ra, không thể tiêu diệt được, nó tồn tại bên ngoài và không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức con người Vật chất là một thực tại khách quan, khác với quan niệm "Ý niệm tuyệt đối" của chủ nghĩa duy tâm khách quan Vật chất “được đem lại cho con người trong cảm giác” có nghĩa là vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hay trực tiếp tác động lên giác quan của con người Đồng thời, cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất Với
Trang 5định nghĩa này, Lênin đã khẳng định vật chất có trước, cảm giác tư duy có sau; vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác
Vật chất “được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, do dó khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới hiện thực khách quan Vật chất không tồn tại một cách vô hình mà tồn tại một cách hiện, được ý thức con người phản ánh Về nguyên tắc, không có đối tượng vật chất không thể nhận thức được, mà chỉ có những đối tượng vật chất chưa nhận thức được mà thôi Khẳng định như vậy, một mặt Lênin muốn nhất mạnh tính thứ nhất của vật chất, vai trò quyết định của nó với ý thức, và mặt khác khẳng định phương pháp và khả năng nhận thức thế giới khách quan của con người Điều này không chỉ phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, với thuyết không thể biết mà còn phân biệt chủ nghĩa duy vật với nhị nguyên luận Như vậy, chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là một định nghĩa toàn diện và triệt để nó giải đáp được cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phân biệt về nguyên tắc với chủ nghĩa duy tâm, bất khả trị luận, nhị nguyên luận Đồng thời nó cũng khắc phục thiếu sót siêu hình trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ
1.1.2 Các đặc tính của vật chất
Vận động được hiểu theo nghĩa chung nhất, là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất và bao gồm mọi sự biến đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho tới tư duy.
Vận động được hiểu theo nghĩa chung nhất – tức là thuộc phạm trù triết học Nó
là phương thức tồn tại của vật chất có nghĩa là vật chất và vận động tồn tại không tách rời nhau, ở đâu có vật chất thì ở đó có vận động và ngược lại Vật chất chỉ có thể tồn tại được bằng cách vận động và thông qua sự vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình Vận động của vật chất chính là tự thân vận động
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất tức là vận động tồn tại cùng với sự tồn tại của vật chất, chỉ khi nào vật chất biến đổi thì vận động của vật chất sẽ
Trang 6chuyển từ dạng này sang dạng khác Vận động của vật chất không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi
Vận động không chỉ là sự thay đổi vị trí trong không gian mà bao gồm tất cả sự thay đổi, từ thay đổi vị trí đơn giản đến phức tạp Có 5 hình thức vận động cơ bản của vật chất:
- Vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian)
- Vận động vật lý (vận động của các phần tử, các hạt cơ bản, vận động điện
tử, các quá trình nhiệt, điện, v.v…)
- Vận động hoá học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp và phân giải các chất)
- Vận động sinh học (trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường) Vận động
xã hội (sự thay đổi, thay thế của các quá trình xã hội của các hình thái kinh tế -xã hội)
Chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận quá trình vận động không ngừng của thế giới vật chất chẳng những không loại trừ mà còn bao hàm hiện tượng đứng im tương đối Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bẳng chỉ xảy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không xảy ra với tất cả các mối quan hệ Đứng im, cân bẳng chỉ xảy ra trong một hình thức vận động chứ không phải tất cả các hình thức vận động Trái lại, đứng im là tạm thời vì đứng im không tồn tại vĩnh viễn mà đứng im chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định hoặc trong một mối quan hệ nhất định Ngay trong sự đứng im vẫn diễn ra những quá trình biến đối nhất định Đứng
im còn là trạng thái đặc biệt của vận động Đứng im chính là vận động trong thế cân bằng, ổn định hay còn là vận động chưa làm thay đổi căn bản về chất, vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật
Trong triết học duy vật biện chứng cùng với phạm trù vận động thì không gian và thời gian cũng là những phạm trù đặc trưng cho phương thức tồn tại của vật chất V.I.Lênin đã nhận xét rằng: “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất
Trang 7đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian.”
Trong không gian, mọi sự vật tồn tại khách quan đều có vị trí, kết cấu quảng tính nhất định Còn đối với thời gian, mọi sự vật hiện thượng tồn tại luôn ở trạng thái không ngừng biến đổi, mà mọi sự biến đổi diễn ra đều có quá trình nhanh chậm, kế tiếp nhau
Không gian và thời gian là thuộc tính khách quan, nội tại của bản thân vật chất Không gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động về mặt vị trí, quảng tính, kết cấu; còn thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động về mặt độ dài diễn biến, sự kế tiếp nhau của quá trình
Thời gian và không gian mang tính khách quan Không gian, thời gian là thuộc tính của vật chất tồn tại gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất Vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan Bên cạnh đó, thời gian và không gian còn mang tính vĩnh cữu và vô tận Tính ba chiều của không gian và tính một chiều của thời gian: tính ba chiều của không gian là chiều dài, chiều rộng và chiều cao, tính một chiều của thời gian là chiều từ quá khứ đến tương lai Không gian mà chúng ta đang nói tới ở đây là không gian hiện thực, không gian ba chiều Nên chú ý rằng, trong toán học ngoài phạm trù không gian ba chiều còn có phạm trù không gian n chiều, v.v… Đó là sự trừu tượng hoá toán học, một công cụ toán học dùng để nghiên cứu các đối tượng đặc thù
1.1.3 Tính thống nhất vật chất của thế giới
Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tính thống nhất vật chất của thế giới khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất, nghĩa là chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế
giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người Bên cạnh đó, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau: biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra, cùng chịu sự chi phối của những
Trang 8quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra và không bị mất đi Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau
Tính vật chất của thế giới đã được kiểm nghiệm bởi chính cuộc sống hiện thực của con người và nó trở thành cơ sở cho cuộc sống và hoạt động của con người Con người không thể bằng ý thức mà sản sinh ra các đối tượng vật chất được Con người chỉ có cải biến thế giới vật chất theo những quy luật vốn có của nó
Những thành tựu của khoa học tự nhiên đã chứng minh cho các luận điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về tính thống nhất vật chất của thế giới Sự phát
triển của khoa học đã bác bỏ những quan điểm duy tâm và tôn giáo tìm nguồn gốc, bản chất của thế giới từ thần thánh, từ những lực lượng siêu tự nhiên Khoa học tự nhiên và triết học duy vật đã chứng minh thế giới xung quanh ta từ những vật vô cùng lớn đến vật vô cùng nhỏ, từ tự nhiên đến xã hội, từ giới vô sinh đến giới hữu sinh, từ thực vật đến động vật, tuy rất khác nhau, song đều có cùng bản chất vật chất và thống nhất ở bản chất vật chất ấy Trong thế kỷ XIX, những phát minh vĩ đại của khoa học tự nhiên: thuyết tế bào, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tiến hoá các loài đã có ý nghĩa lớn lao để chứng minh luận điểm về
sự thống nhất vật chất của thế giới
Sự phát triển của khoa học hiện đại tiếp tục chứng minh nguyên lý về sự thống nhất vật chất của thế giới bằng những thành tựu mới Vật lý học đã đi sâu
vào thế giới vi mô, nghiên cứu cấu trúc phức tạp và chuyển hoá lẫn nhau của các hạt cơ bản Những thành tựu to lớn của hoá học cho phép tạo ra nhiều vật liệu tổng hợp mới và các sản phẩm khác nhau mà trước đây chưa gặp trong tự nhiên lại càng
làm củng cố niềm tin con người vào sự thống nhất vật chất của thế giới Góp phần
vào việc luận chứng vấn đề này còn có những nghiên cứu về sự sống ở trình độ phân tử, sự phát triển di truyền học, những nghiên cứu về cấu trúc của bộ não
Trang 9người và nghiên cứu những phương pháp điều khiển hoạt động tâm lý của con người, sự phát triển mạnh mẽ của điều khiển học và việc chế tạo các máy tính điện
tử Tất cả những thành tựu đó làm sâu sắc thêm nhận thức của chúng ta về thành phần, về kết cấu của thế giới vật chất, về những đặc điểm hoạt động và phát triển của nó trên các trình độ tổ chức khác nhau của vật chất
Có thể nói, những thành tựu của khoa học tự nhiên đã giúp cho chủ nghĩa duy vật biện chứng có cơ sở để khẳng định rằng các sự vật, hiện tượng đều có cùng bản chất vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất và thông qua tính vật chất Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn, vô tận cả bề rộng lẫn bề sâu Vật chất không được sinh ra và không bị mất đi mà chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác Trong thế giới, không có nơi nào và lúc nào có gì khác ngoài vật chất đang vận động, chuyển hoá và những cái do vật chất vận động, chuyển hoá mà sinh ra
Như vậy, thế giới - cả tự nhiên lẫn xã hội - về bản chất là vật chất, thống nhất ở tính vật chất của nó Thế giới vật chất có nguyên nhân tự nó, vĩnh hằng và
vô tận với vô số những biểu hiện muôn hình muôn vẻ.
1.2 Phạm trù ý thức 1.2.1 Nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên: “Ý thức là thuộc tính (thuộc tính phản ánh) của 1 dạng vật chất sống có tổ chức cao, đó là bộ não người”.
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc
Nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài
để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Thuộc tính này được biểu hiện ra trong sự liên hệ, tác động qua lại giữa các đối tượng vật chất với nhau Phản ánh là
sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác
Trang 10trong quá trình tác động qua lại của chúng Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào
cả hai vật - vật tác động và vật nhận tác động Đồng thời, quá trình phản ánh bao hàm quá trình thông tin Nói cách khác, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động Đây là điều kiện hết sức quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp dến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong giới tự nhiên vô sinh, chỉ có những phản ánh vật lý, hoá học Những phản ánh này có tính chất thụ động, chưa có sự định hướng,
sự lựa chọn Trong giới tự nhiên hữu sinh, sự phản ánh đã phát triển lên một trình
độ cao hơn là phản ánh sinh học Phản ánh sinh học trong các cơ thể sống đã có sự định hướng, sự lựa chọn, nhờ đó, các sinh vật thích nghi với môi trường để duy trì
sự tồn tại của mình Phản ánh sinh học được thực hiện thông qua các hình thức như
sự kích thích trong cơ thể do tác động của môi trường ở thực vật, các phản xạ ở động vật có hệ thần kinh và tâm lý ở động vật cấp cao có bộ óc Tâm lý động vật là trình độ cao nhất của sự phản ánh ở động vật Tuy nhiên, tâm lý động vật chưa phải
là ý thức, nó mới là sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh
lý cơ thể và do quy luật sinh học chi phối Phản ánh ý thức là sự phản ánh năng động sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ não của con người Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức chỉ là sự nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của con người Ý thức là
ý thức của con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người Ý thức
ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất, nội dung của nó là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh
Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào trong bộ óc người Bộ óc người
là cơ quan phản ánh, song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức Không có
sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra Như vậy, bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức