Phạm trù vật chất có quá trình phát sinh phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người và sự hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên .Việc tìm hiểu, khám phá về bản chất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Viện đào tạo Tiên tiến, Chất lượng cao và POHE
TIỂU LUẬN
TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
Đề tài 4: Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức Từ đó xây dựng phương pháp luận chung và liên hệ thực tế đổi mới ở Việt Nam
Họ và tên: Phạm Hồng Nhung
Mã sinh viên: 11203045 -Lớp Quản trị Marketing CLC 62C - Khóa 62 (A2-716)
Hà Nội-2020
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Thời gian qua, những thành tựu trong công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra một lợi thế để đất nước ta bước vào một thời kỳ phát triển mới Mối quan hệ hợp tác song phương giữa nước ta và các quốc gia khác trên thế giới đang ngày càng được
mở rộng, nhiều tiền đề cần thiết về công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã được tạo ra
để phục vụ cho nhu cầu phát triển nền kinh tế đất nước Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục với những bước tiến lớn với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội
Các nước đều có cơ hội để phát triển, tuy nhiên do ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước đang phát triển khiến cho các nước chậm phát triển đang phải đối mặt với những thách thức hết sức to lớn Là một đất nước có xuất phát điểm thấp,phải đi lên từ môi trường cạnh tranh khốc liệt,chính vì vậy nguy cơ tụt hậu của đất nước ta là vô cùng cao
Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và nhà nước ta cần tiếp tục tiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Đổi mới đất nước sẽ góp phần đưa đất nước ta ngày càng phát triền và khẳng định được vị thế của mình trên khắp các châu lục Việc đổi mới xã hội có mối quan hệ chặt chẽ giữa vật chất và ý thức sẽ cho phép ta vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giúp cho công cuộc đổi mới ngày càng diễn ra mạnh mẽ, đưa đất nước phát triển ngày càng giàu mạnh
Với ý nghĩa trên, em đã lựa chọn đề tài “Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Từ đó xây dựng phương pháp luận chung và liên hệ thực tế đổi mới ở Việt Nam ” Do kiến thức bản thân còn hạn chế cho nên bài viết sẽ không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót Vậy kính mong sự góp ý của thầy giáo cùng toàn thể bạn đọc
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I Lí luận chung về mối quan hệ vật chất và ý thức.
Để hiểu rõ về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trước tiên ta phải tìm hiểu phạm trù vật chất và ý thức
1.Phạm trù vật chất và ý thức.
* Phạm trù vật chất
a Định nghĩa vật chất.
Vật chất là 1 phạm trù triết học có lịch sử khoảng 2500 năm, xuất hiện cùng với
sự xuất hiện của triết học trong lịch sử Ngay từ ki mới ra đời, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra nhiều cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy vật coi thực thể thế giới là vật chất tồn tại vĩnh cửu, tạo nên mọi sự vật hiện tượng và các thuộc tính của chúng Chủ nghĩa duy tâm lại cho rằng cơ sở tồn tại của thế giới có thể là do ý Chúa, do ý niệm tuyệt đối tạo nên
Vì vậy, họ cho rằng vật chất chỉ là một phạm trù trống rỗng, phi hiện thực, một ý niệm tưởng tượng của các nhà duy vật Phạm trù vật chất có quá trình phát sinh phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người và sự hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên Việc tìm hiểu, khám phá về bản chất, cấu trúc của thế giới xung quanh con người luôn luôn là một vấn đề được quan tâm trong các trường phái triết học duy vật Vào thời kỳ trước khi có sự xuất hiện của triết học Mác thì người ta quan niệm, tìm mọi cách để tìm hiểu , để giải thích nguyên thể cơ bản đầu tiên cấu tạo nên thế giới Và vì vậy, phạm trù vật chất được xuất hiện từ khá sớm và được đặc biệt quan tâm Chủ nghĩa duy vật khẳng định thực thể tạo nên thế giới khách quan và các vật thể nói riêng đó là vật chất và nó tồn tại vĩnh cửu Tuy nhiên, việc lập luận và lý giải về vật chất của các nhà triết học ở thời kỳ trước Mác là không đồng nhất với nhau
Vào thời kỳ cổ đại, ở Hy Lạp nói riêng, ở phương Tây nói chung các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể nào đó của nó Ở phương Đông, quan niệm vật chất thể hiện qua một số trường phái triết học Ân Độ
và Trung hoa về thế giới Ấn Độ có Trường phái Lokāyata cho rằng tất cả được tạo
ra bởi sự kết hợp trong 4 yếu tố Đất- Nước - Lửa - Khí Những yếu tố này có khả năng tự tồn tại, tự vận động trong không gian và cấu thành nên vạn vật.Trung Hoa
có Thuyết Âm Dương cho rằng nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật là tương tác của những thế lực đối lập nhau đó là Âm và Dương Hai thế lực
Trang 4này thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau tạo thành vũ trụ và vạn vật Ngoài ra có thuyết Ngũ Hành của triết học Trung Quốc cũng quan niệm “kim, mộc, thủy, hỏa, thổ”là những tố chất vật chất xây dựng nên thế giới
Ở phương Tây, các nhà triết học quy thế giới vào 1 chỉnh thể thống nhất từ đó đi tìm bản nguyên vật chất đầu tiên cấu tạo nên thế giới đó Một số quan điểm điển hình thời kỳ này là: Taket coi vật chất là nước, Anaximen coi vật chất là không khí, Heraclitus coi vật chất là lửa Các nhà duy vật thế kỉ 17 cho rằng nguyên tử là đơn
vị nhỏ nhất không thể chia nhỏ, là những viên gạch đầu tiên xây nên vật chất Đây
là quan niệm siêu hình vì nếu như vậy thì thế giới không phải là vô cùng mà có giới hạn, có khởi đầu từ những nguyên tử đồng nhất, bất biến
Vào thế kỷ 17, thế kỷ 18 sự phát triển nền khoa học tự nhiên, thực nghiệm ở châu
âu diễn ra mạnh mẽ Đặc biệt là trên lĩnh vực vật lý học với phát minh của Newton, phương pháp nghiên cứu ở trong vật lý đã xâm nhập ảnh hưởng rất lớn vào trong triết học Thế kỷ 18 các nhà triết học Pháp đã phát triển phạm trù vật chất lên một tầm cao mới Đitơro cho rằng vũ trụ trong con người, trong mọi sự vật chỉ có 1 thực thể duy nhất là vật chất Quan niệm ấy đã chi phối sự hiểu biết, nhận thức về vật chất, mọi hiện tượng tự nhiên đã được giải thích là được tác động qua lại giữa lực hút và lực đẩy, giữa các phần tử của vật chất, các phần tử ấy là bất biến Vì vậy, các nhà triết học duy vật thời kỳ này đã đồng nhất vật chất với khối lượng và coi vận động của vật chất chỉ là vận động cơ học và nguyên nhân của sự vận động đó
là do tác động từ bên ngoài
Cuối thế kỉ XIX, khoa học kỹ thuật phát triển, các thành tựu khoa học ra đời
đã bác bỏ những quan điểm của các nhà duy vật trước Mac: Beccoren phát hiện ra tia phóng xạ (năm 1896), Tômson phát hiện ra điện tử (1897), phát hiện ra hạt Quắc (năm 1964) Trên cơ sở ra đời của các phát minh khoa học đó, Lênin khẳng
định: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.” Đây là định nghĩa khoa học nhất, hoàn chỉnh
nhất của Lênin Theo định nghĩa trên, vật chất là phạm trù rộng lớn nhất mà nhận thức luận chưa vượt qua được Do vậy, chúng ta không thể đồng nhất vật chất với vật thể hay một thuộc tính cụ thể, cũng không thể quy về phạm trù rộng lớn hơn Vật chất không phải là một lực lượng siêu nhiên tồn tại lơ lửng ở đâu đó như Chủ nghĩa duy tâm khách quan đã khái niệm Mà vật chất dùng để chỉ thực tại khách quan, là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức,
Trang 5bất kể sự tồn tại ấy con người nhận thức được hay chưa nhận thức được Vật chất
là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hay gián tiếp tác động lên giác quan con người, được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh Chúng ta sẽ cùng xét
ví dụ sau:
“Hỡi Cô tát nước bên đường,
Sao Cô múc Ánh trăng vàng đổ đi.”
Ở đây, Ánh trăng chính là vật chất bởi nó có thể nhìn thấy (được đem lại cho con người trong cảm giác) Nhớ lại và tả lại cho người khác (được cảm giác của con người chép lại, chụp lại, phản ánh).Ánh trăng vẫn tồn tại dù không có Cô tát nước hay bất kỳ ai (nó tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác)
b Hình thức và phương thức tồn tại của vật chất:
Lênin từng viết: “Trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không ở đâu ngoài không gian và thời gian.”
Vận động là phương thức tồn tại, là thuộc tính cố hữu của vật chất.Ph.Ăngghen viết: "Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến
tư duy " Vận động là phương thức tồn tại của vật chất nghĩa là vật chất tự tồn tại thông qua vận động và nhờ vật chất vận động mà con người nhận biết được thế giới Trong sự tồn tại của mình, mỗi một sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khác nhau Tuy nhiên bản thân sự tồn tại của sự vật ấy bao giờ cũng đặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản Đứng im là trạng thái bảo tồn những thuộc tính vốn có của vật chất và được xác định trong một giới hạn thời gian mà ở
đó sự vật chưa thay đổi thành sự vật khác Đứng im có tính tương đối và tạm thời (còn vận động là tuyệt đối) bởi vì đứng im chỉ diễn ra trong một hình thức vận động nhất định, trong một quan hệ nhất định và trong một thời gian nhất định Như vậy, đứng im chính là một trạng thái đặc biệt của vận động của vật chất.Do đó vận động bao hàm sự đứng im Ph.Ăngghen kết luận:" mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời "
Vật chất luôn vận động và phát triển, sự vận động không đâu khác ngoài
“không gian và thời gian” Không gian, thời gian là thuộc tính của vật chất tồn tại gắn liền với nhau và gắn liền với vật chất Vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thời gian cũng tồn tại khách quan Theo Ph.Ăngghen, vật chất vĩnh cửu và vô tận trong không gian và trong thời gian.Trong không gian tồn tại tính ba chiều, lần lượt là chiều dài, chiều rộng và chiều cao Tính một chiều của thời gian
Trang 6là chiều từ quá khứ đến tương lai.Như vậy, không gian, thời gian và vận động là những hình thức, phương thức tồn tại tất yếu, vốn có của vật chất Chỉ có vật chất tồn tại, vận động vĩnh viễn trong thời gian và không gian, và chỉ có không gian, thời gian của vật chất đang vận động Con người nhận thức vật chất thông qua các hình thức và phương thức tồn tại của nó
* Phạm trù ý thức
a.Nguồn gốc ý thức
Theo triết học duy vật biện chứng, ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển của cả tự nhiên và lịch sự xã hội
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan Như vậy, ý thức chính là sự phản ánh của con người về thế giới khách quan Bộ óc con người là cơ quan vật chất của ý thức Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh
lí thần kinh của bộ óc con người Ý thức không thể tách rời khỏi hoạt động của bộ óc
Nguồn gốc tự nhiên là yếu tố cần để cho ra đời ý thức Xong, như vậy vẫn là chưa đủ Nhân tố cơ bản nhất và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức chính là lao động và ngôn ngữ
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới khách quan bộc lộ ra những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng
mà con người có thể quan sát, nhận thức được.Thông qua hoạt động của các giác quan, những hiện tượng ấy đã tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của
bộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung của ý thức Ngôn ngữ còn là phương tiện giao tiếp trong xã hội, là phương tiện của tư duy Nhờ có ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội
Trang 7b.Bản chất của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất Ý thức ra đời trong quá trình con người lao động để cải tạo thế giới nên sự phản ánh của ý thức không phải thụ động như sao chép, chụp ảnh mà có tính năng động,
sáng tạo Theo CácMac và Ăngghen, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong óc con người và được cải biến đi trong đó”
Tính sáng tạo của ý thức thể hiện rất phong phú Nếu xét theo bình diện cắt ngang, ý thức bao gồm tri thức, tình cảm, niềm tin, ước muốn Trong đó, tri thức
là hạt nhân của ý thức Còn nếu xét theo chiều sâu của ý thức, ý thức bao gồm tiềm thức, vô thức và tự ý thức
Trên cơ sở những cái đã có, thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thểý
tưởng tượng ra cái không có trong thực tế Nó có thể tiên đoán, dự báo tương lai một cách tương đối chính xác, hoặc có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại Thậm chí, một số người còn có khả năng tiên tri, ngoại cảm, thấu thị
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
Theo chủ nghĩa duy tâm thì ý thức quyết định vật chất Thuyết nhị tâm một mặt thừa nhận vật chất là thực tại khách quan, mặt khác thừa nhận ý thức là một khởi nguyên độc lập không phụ thuộc vào vật chất Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
là mối quan hệ biện chứng Trong mối quan hệ này, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song ý thức không hoàn toàn phụ thuộc mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Quan điểm này đã được đề cập tới ngay trong định nghĩa của Lênin
về vật chất Với định nghĩa này, Lênin đã phân biệt Chủ nghĩa duy vật biện chứng với Chủ nghĩa duy tâm đồng thời cũng nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thể hiện qua vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức và tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
a.Vai trò của vật chất đối với ý thức
Trang 8Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
+ Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự nhiên, nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau
+ Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức , hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức
+ Nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất vì ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật tự nhiên, các quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức
b Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v
để thực hiện mục tiêu của mình Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiền của con người.Ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu:
+ Nếu ý thức phản ánh đúng điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy, tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất Trong trường
Trang 9hợp này, ý thức có tác động trở lại tích cực đối với thực tiến, đặc biệt là sự tác động của khoa học, lí luận Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu, phương hướng và biện pháp chính xác trong hành động và thực tiễn
Ngược lại, nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách +
quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan, con người sẽ dẫn tới phạm phải những sai lầm trong cuộc sống
Ví dụ, thuyết nhật tâm phản ánh đúng thế giới sẽ giúp khoa học phát triển Còn thuyết địa tâm của Aristot coi Trái Đất là trung tâm của vũ trụ đã kìm hãm sự phát
triển của thế giới vật chất, làm cho “loài người ngủ trong giấc ngủ triền miên của những đêm dài trung cổ”
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa có tình tuyết đối vừa có tính tương đối Vật chất quyết định ý thức là tuyệt đối Nhưng trong một số trường hợp cụ thể hoặc trong một giai đoạn ngắn, ý thức lại quyết định vật chất Mác chỉ rõ lí luận sẽ trở thành lực lượng vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,ta nhận thấy rằng : vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ nhận thức của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người hành động
c, Ý nghĩa phương pháp luận
Do vật chất là nguồn gốc và là cái quyết định đối với ý thức, cho nên để nhận thức cái đúng đắn sự vật, hiện tượng, trước hết phải xem xét nguyên nhân vật chất
để giải quyết tận gốc vấn đề chứ không phải tìm nguồn gốc, nguyên nhân từ những nguyên nhân tinh thần nào.“tính khách quan của sự xem xét” chính là ở chỗ đó Mặt khác, ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với vật chất, cho nên trong nhận thức phải có tính toàn diện, phải xem xét đến vai trò của nhân tố tinh thần Trong hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ những điều kiện khách quan và giải quyết những nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra trên cơ sở tôn trọng sự thật Đồng thời cũng phải nâng cao nhận thức, sử dụng và phát huy vai trò năng động của các
Trang 10nhân tố tinh thần,tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp cho hoạt động của con người đạt hiệu quả cao Không chỉ có vậy, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ trên khắc phục thái độ tiêu cực bị đông, chờ đợi, chùn bước trước hoàn cảnh
II Liên hệ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức với thực tế đổi mới ở Việt
Nam.
Như chúng ta đã biết, sau khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, nền kinh tế miền Bắc còn nhiều nhược điểm Cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, cơ cấu kinh tế nhiều mặt mất cân đối, năng suất lao động thấp, sản xuất chưa bảo đảm nhu cầu đời sống, sản xuất nông nghiệp chưa cung cấp đủ thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng hoá cho xuất khẩu Mặt khác nền kinh tế miền Bắc còn bị chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ tàn phá nặng nề
Ở miền Nam, sau 20 năm chiến tranh, nền kinh tế bị đảo lộn và suy sụp, nông nghiệp nhiều vùng hoang hoá, lạm phát trầm trọng…
Trước tình hình đó, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế hoạch năm 1976-1980 quá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất vượt quá khả năng của nền kinh tế, như năm 1975, phấn đấu đạt 20 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển, 1 triệu ha khai hoang, 1 triệu 200 ha rừng mới trồng… 10 triệu tấn than sạch, 2 triệu tấn xi măng… Đặc biệt là đề ra việc xây dựng thêm nhiều cơ sở mới
về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí và đặt nhiệm vụ hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam
Những chủ trương sai lầm đó cùng với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã tác động xấu tới nền kinh tế, ảnh hưởng không tốt đến đời sống của nhân dân… Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế đề ra chỉ đạt khoảng 50%-60% mức đề ra, nền kinh tế tăng trưởng rất chậm chạp: tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%
Đại hội Đảng lần thứ V cũng chưa tìm ra được đầy đủ những nguyên nhân đích thực của sự trì trệ trong nền kinh tế của nước ta và cũng chưa đề ra được các chủ trương chính sách và toàn diện về đổi mới, nhất là kinh tế Trong năm 1981-1985 chúng ta chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lí kinh tế, lại phạm những sai lầm mới trong lĩnh vực phân phối lưu thông Nhìn chung, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát
do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế- xã hội, ổn định đời sống nhân dân