1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ văn xuôi việt nam 1975 - 2000

144 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ văn xuôi việt nam 1975 - 2000
Tác giả Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Ngọc Thiện
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 582,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tài.1.1. Cho đến nay sự tồn tại của thơ văn xuôi trong đời sống của thơ ca hiện đại là một thực tế không thể phủ nhận. Nó được nhìn nhận như một hiện tượng tự nhiên trong quá trình dân chủ hóa hình thức thơ mang tính toàn cầu, gắn với nhu cầu của con người thời hiện đại.Trong thơ ca Việt Nam, hình thức thơ văn xuôi xuất hiện khá sớm. Tuy nhiên giai đoạn được xem là nở rộ của nó là thời kì sau chiến tranh chống Mỹ. Nghiên cứu hình thức thơ văn xuôi thời kì này, vì vậy để góp phần tìm hiểu thêm về xu hướng vận động của hình thức thơ trong thơ ca Việt Nam hiện đại.1.2. Thơ văn xuôi được xem như là một trong ba hình thức cơ bản của thơ (Thơ cách luật, Thơ tự do, Thơ văn xuôi). Sự ra đời của nó được xem như là một nhu cầu tất yếu gắn liền với nhu cầu giải phóng con người cá nhân trong thời hiện đại, nhằm tìm kiếm một giọng điệu phức tạp, gai góc, vừa lắm lí sự, suy tư, vừa bộc lộ cảm xúc ào ạt, mãnh liệt, giải phóng tối đa sự dạt dào cảm xúc của chủ thể trữ tình. Nghiên cứu thơ văn xuôi không chỉ để hiểu đặc trưng về phương diện cấu trúc thơ mà mà còn gợi mở nhiều vấn đề về mối quan hệ giữa hình thức thơ văn xuôi và thời hiện đại.1.3. Trong những năm gần đây, hình thức thơ văn xuôi đã xuất hiện trong chương trình văn học từ bậc Phổ thông đến Đại học. Việc nghiên cứu thơ văn xuôi vì vậy có ý nghĩa thực tiễn, giúp cho người dạy, người học có thêm những tri thức về thể loại. Từ đó có được định hướng đúng đắn trong việc tiếp cận các tác phẩm thơ văn xuôi trong nhà trường.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.2.1. Mục đích nghiên cứu.Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khảo sát thơ văn xuôi Việt Nam 25 năm cuối thế kỷ XX từ góc nhìn thể loại.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.Tương ứng với mục đích, đề tài có nhiệm vụ: Chỉ ra được những cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của thơ văn xuôi giai đoạn 1975 2000. Chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của thơ văn xuôi giai đoạn 1975 2000 trên một số phương diện như: Cảm hứng, giọng điệu, nghệ thuật tổ chức lời thơ. Trong một chừng mực nhất định, chỉ ra được những đổi mới hình thức thơ so với các giai đoạn trước đó.3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu.3.1. Phạm vi nghiên cứu.Thơ văn xuôi 1975 2000 nở rộ, phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, sự thành công lại không có nhiều. Vì lẽ đó, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát của mình chủ yếu vào một số hiện tượng được tuyển chọn vào tuyển tập Thơ văn xuôi (Việt Nam và nước ngoài) của hai soạn giả Nguyễn Văn Hoa và Nguyễn Ngọc Thiện, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1997. Ngoài ra chúng tôi, còn sử dụng một số tác phẩm thơ văn xuôi được đăng trên các báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ trẻ làm đối tượng khảo sát.3.2. Đối tượng nghiên cứu.Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình thức thể loại thơ xét từ nhiều mối quan hệ (với thời đại, với chủ thể sáng tạo, ...).4. Phương pháp nghiên cứu.Xuất phát từ nhiệm vụ, mục đích của đề tài, chúng tôi đặt đối tượng trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong mối quan hệ nhiều chiều, từ đó trên cơ sở kế thừa các tài liệu nghiên cứu trước, chúng tôi sử dụng các phương pháp: đọc, phân tích, thống kê, so sánh đối chiếu, khái quát để thực hiện đề tài.5. Lịch sử vấn đề.Nhìn chung, cho đến nay thơ văn xuôi còn đang trên đường thể nghiệm, thành công chưa nhiều, cho nên, những công trình nghiên cứu công phu và chuyên sâu về thơ văn xuôi cũng chưa phong phú, đa dạng. Những bài viết thực sự tâm huyết về thơ văn xuôi theo chúng tôi được biết đó là:1. Thiếu Sơn (1934), “Lời phê bình Linh Phượng”, Đông Hồ, Linh Phượng, NXB Nam Ký, Hà Nội. 2. Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh (1942), Thơ.3. Huy Cận (1942), Lời nói đầu trong tập Kinh cầu tự.4. Xuân Diệu (1965), Vài ý kiến về thơ văn xuôi, Báo Văn nghệ số 88.5. Hà Minh Đức (1968), “Thơ văn xuôi”, Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.6. Hữu Đạt (1996), “Thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất của thơ tự do”, NXB Giáo dục. Hà Nội.7. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.8. Mã Giang Lân, “Xu hướng tự do hóa hình thức thơ”, Tạp chí khoa học, tháng 2 1990.9. Nguyễn Ngọc Thiện, “Tư duy và cấu trúc nghệ thuật thơ văn xuôi”, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, tháng 12 1996.10. Vũ Huy Thông (1996), “Từ thơ tự do đến thơ văn xuôi”, trích luận án PTS khoa học: Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam giai đoạn 1945 1975, Hà Nội.11. Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Ngọc Thiện (1997), Tuyển tập thơ văn xuôi (Việt Nam và nước ngoài), NXB Văn học, Hà Nội.12. Lưu Khánh Thơ, Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975.13. Vũ Văn Sỹ, “Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại”, Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001.14. Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình Việt Nam (1975 1990), NXB ĐHQG Hà Nội, 1998.15. Vũ Văn Sỹ, “Những thể nghiệm trong thơ Nguyễn Quang Thiều”, Thơ Việt Nam hiện đại, NXB Lao động Hà Nội, 2002.Ở các bài viết trên, các tác giả đã đề cập đến một số vấn đề của hình thức thơ văn xuôi từ góc độ khái quát và cũng có phản ánh được một số nét đặc trưng. Tuy nhiên trong dung lượng của những bài viết ngắn trên, các tác giả chưa có dịp đi sâu vào phân tích cụ thể về hình thức thơ văn xuôi, đặc biệt là thơ văn xuôi thời kỳ 1975 – 2000.Người đầu tiên ý thức được thơ văn xuôi như một thể loại và có những khả năng riêng so với các hình thức thơ khác là Thiếu Sơn (1934 1935) trong bài Lời phê bình Linh Phượng, nhà phê bình gọi cuốn nhật ký là một “Bài thơ trường thiên bằng văn xuôi”.Bàn về nguồn gốc của thơ văn xuôi, tác giả Xuân Diệu, nhà thơ có công đầu trong việc đóng góp những suy nghĩ, tìm tòi mang tính lí luận về sự hình thành và phát triển của thơ văn xuôi. Trong tiểu luận “Vài ý kiến về thơ văn xuôi” (in trên báo Văn nghệ số 88 – 1965) đã cho rằng: Thơ văn xuôi có nguồn gốc từ thể phú, một thể loại vừa là thơ, vừa là văn; nó là thơ vì nó âm thanh theo luật bằng trắc, có vần; mặt khác nó cũng là văn, vì câu dài, có đôi khi khá dài như một câu văn. Cũng trong tiểu luận Vài ý kiến về Thơ văn xuôi Xuân Diệu đã nêu lên được những luận điểm có cơ sở khoa học và giàu sức thuyết phục. Nhiều vấn đề lí luận được bàn đến trong bài viết cách đây đã nhiều chục năm vẫn còn thích hợp khi soi chiếu và tìm hiểu tình hình sáng tác và đặc điểm thơ văn xuôi trong giai đoạn hiện nay. Thơ văn xuôi buộc người viết phải tuân theo những quy luật nội tại nghiêm khắc của nó. Nhà thơ phải tìm được sự hài hòa bên trong của ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh. Ở bài thơ văn xuôi, cảm hứng tuy không biểu hiện ra ở những câu thơ có vần điệu quen thuộc, nhưng đòi hỏi người viết phải biết chọn lọc những hình thức phô diễn thích hợp. “Viết thơ văn xuôi cần phải nắm vững nhịp điệu, tiết tấu của câu thơ dài rộng phá thể, và phải tinh vi nghe được cái nhạc bên trong của câu thơ: khi nhạc ấy không thể hiện ra những vần mà lỗ tai cảm thấy ngay thì nó lại càng phải dồi dào, đầy căng như nhựa mật của trái làm nứt vỏ” (Xuân Diệu). Đó là đòi hỏi về phía người sáng tác. Còn đối với người đọc thì sao? Để cho thơ văn xuôi có đất phát triển rộng hơn thì vấn đề người đọc là một yếu tố quan trọng. Nhà thơ Xuân Diệu đã hơn một lần yêu cầu bạn đọc nên đa dạng hóa sự thưởng thức thơ ca quen thuộc của mình: “Trong thơ hiện nay của ta, tôi thấy bạn đọc nên có một rẻ quạt rộng mở trong việc thưởng thức các thể điệu thơ, sự thưởng thức đa dạng sẽ khuyến khích cho sự sáng tác đa dạng...Điệu thơ hơi lạ mắt lạ tai, khác với tập quán quen thuộc, thì nên rộng lượng nên để cho cách “xào nấu” mới có một thì giờ dần dần quen miệng với “người ăn”. Rõ ràng là khác với các thể thơ khác, thơ văn xuôi có phần kén chọn người đọc hơn. Đây cũng là một thách đố không nhỏ đối với người sáng tác.Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức trong chuyên luận Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam (1968) đã cho rằng: Các thể văn vần như phú và văn tế và các loại biền văn như hịch, cáo đều có dáng dấp của thơ văn xuôi...Và suy cho cùng thì thể văn xuôi cũ cũng là nguồn gốc gần xa của một thể thơ văn xuôi sau này. Theo ông, sự khác biệt của thơ văn xuôi với phú, cáo, hịch, văn tế là ở chỗ các thể văn truyền thống có quy tắc về vần và đối còn thơ văn xuôi thì không.Không nói đến khái niệm thơ văn xuôi, nhưng Huy Cận trong lời nói đầu trong tập Kinh cầu tự (1942) cũng đã ý thức được một cách rõ ràng sự tồn tại của hình thức thơ không cần đến vần luật mà ông gọi một cách hình ảnh là “Lớp xi măng thường dùng để chắp nối ý văn”. Ông cho rằng có những lối kiến trúc không cần đến mạch nối, các khối cứ tự liền nhau nhịp nhàng. Tuy nhiên thể loại đó là gì thì ông lại chưa ý thức được. Như trên đã nói, cho đến nay thơ văn xuôi còn đang trên đường thể nghiệm, thành công chưa nhiều, cho nên, những công trình nghiên cứu công phu và chuyên sâu về thơ văn xuôi cũng chưa phong phú, đa dạng. Vì vậy, việc dựng nên một bức tranh chung về thơ ca Việt Nam 1975 nói chung, thơ văn xuôi nói riêng là một công việc cực kỳ khó khăn,. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về các đặc điểm của thơ sau 1975. Ở một số cuốn sách như: 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996), Văn học Việt Nam trong thời đại mới (NXB Giáo dục, 2002), Văn học 1975 1985 tác phẩm và dư luận (NXB Hội nhà văn Hà Nội, 1997), và một số bài nghiên cứu, phê bình rải rác trên các báo và tạp chí từ những năm 90 lại nay đã đề cập đến một số vấn đề của thơ văn xuôi như Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975 của tác giả Lưu Khánh Thơ, Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại của tác giả Vũ Văn Sỹ, Thơ 1975 1995, sự biến đổi của thể loại,... Các công trình ấy đã nhận diện sự phát triển của thơ văn xuôi sau 1975. Trong công trình Thơ trữ tình Việt Nam 1975 1990 (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998), tác giả Lê Lưu Oanh đã tái hiện một cách khá đầy đủ các gương mặt nổi bật của thơ Việt Nam đương đại, nhận diện và phân loại những xu hướng phát triển chính của thơ sau 1975. Tuy nhiên ở công trình đó, tác giả trọng tâm đi sâu vào khai thác cái tôi trữ tình và một số phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình. Nhìn chung, các tác giả đi trước đã có những ý kiến khá sâu sắc và thú vị, song chưa có công trình nào nghiên cứu về hình thức thơ văn xuôi giai đoạn 1975 – 2000 một cách toàn diện và có hệ thống. Đặc biệt ở góc độ cảm hứng chủ đạo. Để rồi cho đến bây giờ, nó dường như vẫn còn là một “khối tươi nguyên”, chứ đựng nhiều điều mới mẻ.Luận văn của chúng tôi không bắt đầu từ “mảnh đất trống”. Tham khảo ý kiến của những người đi trước giúp chúng tôi định hướng cho luận văn, từ đó tiếp thu và tiếp tục khám phá những đặc điểm của thơ văn xuôi 1975 – 2000 để làm rõ hơn thành công và những ưu điểm của thơ văn xuôi trong thơ ca Việt Nam hiện đại.6. Cấu trúc của luận văn.Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, Nội dung, Kết luận.PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tài.2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu.4. Phương pháp nghiên cứu.5. Lịch sử vấn đề.6. Cấu trúc luận văn.PHẦN NỘI DUNGChương 1: Những tiền đề lịch sử xã hội cho sự phát triển thơ văn xuôi.1.1.Sự biến đổi thể loại trong thơ Việt Nam thế kỷ XX.1.2. Số phận, cuộc sống con người thời hậu chiến.1.3. Sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật thơ.1.4. Quá trình mở rộng giao lưu tiếp xúc và thức tỉnh cá nhân, cá tính.Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo thơ văn xuôi 1975 2000.2.1. Nhận thức lý giải những vấn để đời tư, thế sự.2.2. Số phận con người và tình yêu.2.3. Chiêm nghiệm suy tư về con người và cuộc sống trước hiện thực thời hậu chiến.Chương 3: Thơ văn xuôi 1975 2000 từ góc nhìn nghệ thuật tổ chức lời thơ.3.1. Ngôn ngữ thơ.3.2. Cấu trúc thơ.3.3. Một số thủ pháp nghệ thuật tổ chức lời thơ.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài.

1.1 Cho đến nay sự tồn tại của thơ văn xuôi trong đời sống của thơ cahiện đại là một thực tế không thể phủ nhận Nó được nhìn nhận như một hiệntượng tự nhiên trong quá trình dân chủ hóa hình thức thơ mang tính toàn cầu,gắn với nhu cầu của con người thời hiện đại

Trong thơ ca Việt Nam, hình thức thơ văn xuôi xuất hiện khá sớm Tuynhiên giai đoạn được xem là nở rộ của nó là thời kì sau chiến tranh chống Mỹ.Nghiên cứu hình thức thơ văn xuôi thời kì này, vì vậy để góp phần tìm hiểuthêm về xu hướng vận động của hình thức thơ trong thơ ca Việt Nam hiện đại

1.2 Thơ văn xuôi được xem như là một trong ba hình thức cơ bản củathơ (Thơ cách luật, Thơ tự do, Thơ văn xuôi) Sự ra đời của nó được xem như

là một nhu cầu tất yếu gắn liền với nhu cầu giải phóng con người cá nhântrong thời hiện đại, nhằm tìm kiếm một giọng điệu phức tạp, gai góc, vừa lắm

lí sự, suy tư, vừa bộc lộ cảm xúc ào ạt, mãnh liệt, giải phóng tối đa sự dạt dàocảm xúc của chủ thể trữ tình Nghiên cứu thơ văn xuôi không chỉ để hiểu đặctrưng về phương diện cấu trúc thơ mà mà còn gợi mở nhiều vấn đề về mốiquan hệ giữa hình thức thơ văn xuôi và thời hiện đại

1.3 Trong những năm gần đây, hình thức thơ văn xuôi đã xuất hiệntrong chương trình văn học từ bậc Phổ thông đến Đại học Việc nghiên cứuthơ văn xuôi vì vậy có ý nghĩa thực tiễn, giúp cho người dạy, người học cóthêm những tri thức về thể loại Từ đó có được định hướng đúng đắn trongviệc tiếp cận các tác phẩm thơ văn xuôi trong nhà trường

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

2.1 Mục đích nghiên cứu.

Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là khảo sát thơ văn xuôiViệt Nam 25 năm cuối thế kỷ XX từ góc nhìn thể loại

Trang 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Tương ứng với mục đích, đề tài có nhiệm vụ:

- Chỉ ra được những cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của thơ văn xuôigiai đoạn 1975 - 2000

Chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của thơ văn xuôi giai đoạn 1975

-2000 trên một số phương diện như: Cảm hứng, giọng điệu, nghệ thuật tổ chứclời thơ

- Trong một chừng mực nhất định, chỉ ra được những đổi mới hình thứcthơ so với các giai đoạn trước đó

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu.

3.1 Phạm vi nghiên cứu.

Thơ văn xuôi 1975 - 2000 nở rộ, phong phú và đa dạng Tuy nhiên, sựthành công lại không có nhiều Vì lẽ đó, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát

của mình chủ yếu vào một số hiện tượng được tuyển chọn vào tuyển tập Thơ

văn xuôi (Việt Nam và nước ngoài) của hai soạn giả Nguyễn Văn Hoa và

Nguyễn Ngọc Thiện, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1997 Ngoài ra chúngtôi, còn sử dụng một số tác phẩm thơ văn xuôi được đăng trên các báo Vănnghệ, Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ trẻ làm đối tượng khảo sát

3.2 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hình thức thể loại thơ xét từ nhiềumối quan hệ (với thời đại, với chủ thể sáng tạo, )

4 Phương pháp nghiên cứu.

Xuất phát từ nhiệm vụ, mục đích của đề tài, chúng tôi đặt đối tượngtrong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong mối quan hệ nhiều chiều, từ đó trên cơ

sở kế thừa các tài liệu nghiên cứu trước, chúng tôi sử dụng các phương pháp:đọc, phân tích, thống kê, so sánh đối chiếu, khái quát để thực hiện đề tài

Trang 3

5 Lịch sử vấn đề.

Nhìn chung, cho đến nay thơ văn xuôi còn đang trên đường thể nghiệm,thành công chưa nhiều, cho nên, những công trình nghiên cứu công phu vàchuyên sâu về thơ văn xuôi cũng chưa phong phú, đa dạng Những bài viếtthực sự tâm huyết về thơ văn xuôi theo chúng tôi được biết đó là:

1 Thiếu Sơn (1934), “Lời phê bình Linh Phượng”, Đông Hồ, LinhPhượng, NXB Nam Ký, Hà Nội

2 Đoàn Phú Tứ, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh (1942), Thơ

3 Huy Cận (1942), Lời nói đầu trong tập Kinh cầu tự

4 Xuân Diệu (1965), Vài ý kiến về thơ văn xuôi, Báo Văn nghệ số 88

5 Hà Minh Đức (1968), “Thơ văn xuôi”, Các thể thơ ca và sự pháttriển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, HàNội

6 Hữu Đạt (1996), “Thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất của thơ tựdo”, NXB Giáo dục Hà Nội

7 Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữhọc, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội

8 Mã Giang Lân, “Xu hướng tự do hóa hình thức thơ”, Tạp chí khoahọc, tháng 2 - 1990

9 Nguyễn Ngọc Thiện, “Tư duy và cấu trúc nghệ thuật thơ văn xuôi”,Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, tháng 12 - 1996

10 Vũ Huy Thông (1996), “Từ thơ tự do đến thơ văn xuôi”, trích luận

án PTS khoa học: Cái đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam giai đoạn 1945

-1975, Hà Nội

11 Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Ngọc Thiện (1997), Tuyển tập thơ vănxuôi (Việt Nam và nước ngoài), NXB Văn học, Hà Nội

Trang 4

12 Lưu Khánh Thơ, Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơsau 1975.

13 Vũ Văn Sỹ, “Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiệnđại”, Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, NXB Khoa học xã hội, HàNội, 2001

14 Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình Việt Nam (1975 - 1990), NXB ĐHQG

là thơ văn xuôi thời kỳ 1975 – 2000

Người đầu tiên ý thức được thơ văn xuôi như một thể loại và có nhữngkhả năng riêng so với các hình thức thơ khác là Thiếu Sơn (1934 - 1935)

trong bài Lời phê bình Linh Phượng, nhà phê bình gọi cuốn nhật ký là một

“Bài thơ trường thiên bằng văn xuôi”.

Bàn về nguồn gốc của thơ văn xuôi, tác giả Xuân Diệu, nhà thơ có côngđầu trong việc đóng góp những suy nghĩ, tìm tòi mang tính lí luận về sự hình

thành và phát triển của thơ văn xuôi Trong tiểu luận “Vài ý kiến về thơ văn

xuôi” (in trên báo Văn nghệ số 88 – 1965) đã cho rằng: Thơ văn xuôi có nguồn gốc từ thể phú, một thể loại vừa là thơ, vừa là văn; nó là thơ vì nó âm thanh theo luật bằng trắc, có vần; mặt khác nó cũng là văn, vì câu dài, có đôi khi khá dài như một câu văn Cũng trong tiểu luận Vài ý kiến về Thơ văn xuôi

Xuân Diệu đã nêu lên được những luận điểm có cơ sở khoa học và giàu sứcthuyết phục Nhiều vấn đề lí luận được bàn đến trong bài viết cách đây đã

Trang 5

nhiều chục năm vẫn còn thích hợp khi soi chiếu và tìm hiểu tình hình sáng tác

và đặc điểm thơ văn xuôi trong giai đoạn hiện nay Thơ văn xuôi buộc ngườiviết phải tuân theo những quy luật nội tại nghiêm khắc của nó Nhà thơ phảitìm được sự hài hòa bên trong của ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh Ở bài thơvăn xuôi, cảm hứng tuy không biểu hiện ra ở những câu thơ có vần điệu quenthuộc, nhưng đòi hỏi người viết phải biết chọn lọc những hình thức phô diễn

thích hợp “Viết thơ văn xuôi cần phải nắm vững nhịp điệu, tiết tấu của câu

thơ dài rộng phá thể, và phải tinh vi nghe được cái nhạc bên trong của câu thơ: khi nhạc ấy không thể hiện ra những vần mà lỗ tai cảm thấy ngay thì nó lại càng phải dồi dào, đầy căng như nhựa mật của trái làm nứt vỏ” (Xuân

Diệu) Đó là đòi hỏi về phía người sáng tác Còn đối với người đọc thì sao?

Để cho thơ văn xuôi có đất phát triển rộng hơn thì vấn đề người đọc là mộtyếu tố quan trọng Nhà thơ Xuân Diệu đã hơn một lần yêu cầu bạn đọc nên đadạng hóa sự thưởng thức thơ ca quen thuộc của mình: “Trong thơ hiện naycủa ta, tôi thấy bạn đọc nên có một rẻ quạt rộng mở trong việc thưởng thứccác thể điệu thơ, sự thưởng thức đa dạng sẽ khuyến khích cho sự sáng tác đadạng Điệu thơ hơi lạ mắt lạ tai, khác với tập quán quen thuộc, thì nên rộnglượng nên để cho cách “xào nấu” mới có một thì giờ dần dần quen miệng với

“người ăn” Rõ ràng là khác với các thể thơ khác, thơ văn xuôi có phần kénchọn người đọc hơn Đây cũng là một thách đố không nhỏ đối với người sángtác

Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức trong chuyên luận Các thể thơ ca và sự

phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam (1968) đã cho rằng: Các thể văn vần như phú và văn tế và các loại biền văn như hịch, cáo đều có dáng dấp của thơ văn xuôi Và suy cho cùng thì thể văn xuôi cũ cũng là nguồn gốc gần xa của một thể thơ văn xuôi sau này Theo ông, sự khác biệt

Trang 6

của thơ văn xuôi với phú, cáo, hịch, văn tế là ở chỗ các thể văn truyền thống

có quy tắc về vần và đối còn thơ văn xuôi thì không.

Không nói đến khái niệm thơ văn xuôi, nhưng Huy Cận trong lời nói

đầu trong tập Kinh cầu tự (1942) cũng đã ý thức được một cách rõ ràng sự tồn

tại của hình thức thơ không cần đến vần luật mà ông gọi một cách hình ảnh là

“Lớp xi măng thường dùng để chắp nối ý văn” Ông cho rằng có những lối

kiến trúc không cần đến mạch nối, các khối cứ tự liền nhau nhịp nhàng Tuynhiên thể loại đó là gì thì ông lại chưa ý thức được

Như trên đã nói, cho đến nay thơ văn xuôi còn đang trên đường thểnghiệm, thành công chưa nhiều, cho nên, những công trình nghiên cứu côngphu và chuyên sâu về thơ văn xuôi cũng chưa phong phú, đa dạng Vì vậy,việc dựng nên một bức tranh chung về thơ ca Việt Nam 1975 nói chung, thơvăn xuôi nói riêng là một công việc cực kỳ khó khăn, Cho đến nay, đã có một

số công trình nghiên cứu về các đặc điểm của thơ sau 1975 Ở một số cuốn

sách như: 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996), Văn học Việt Nam trong thời đại mới (NXB Giáo dục, 2002), Văn học 1975 - 1985 tác phẩm và dư luận (NXB Hội nhà văn Hà

Nội, 1997), và một số bài nghiên cứu, phê bình rải rác trên các báo và tạp chí

từ những năm 90 lại nay đã đề cập đến một số vấn đề của thơ văn xuôi như

Thơ văn xuôi trong sự vận động của thể loại thơ sau 1975 của tác giả Lưu

Khánh Thơ, Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại của tác giả Vũ Văn Sỹ, Thơ 1975 - 1995, sự biến đổi của thể loại, Các công trình ấy

đã nhận diện sự phát triển của thơ văn xuôi sau 1975 Trong công trình Thơ

trữ tình Việt Nam 1975 - 1990 (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998), tác giả

Lê Lưu Oanh đã tái hiện một cách khá đầy đủ các gương mặt nổi bật của thơViệt Nam đương đại, nhận diện và phân loại những xu hướng phát triển chính

Trang 7

của thơ sau 1975 Tuy nhiên ở công trình đó, tác giả trọng tâm đi sâu vào khaithác cái tôi trữ tình và một số phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình

Nhìn chung, các tác giả đi trước đã có những ý kiến khá sâu sắc và thú

vị, song chưa có công trình nào nghiên cứu về hình thức thơ văn xuôi giaiđoạn 1975 – 2000 một cách toàn diện và có hệ thống Đặc biệt ở góc độ cảmhứng chủ đạo Để rồi cho đến bây giờ, nó dường như vẫn còn là một “khốitươi nguyên”, chứ đựng nhiều điều mới mẻ

Luận văn của chúng tôi không bắt đầu từ “mảnh đất trống” Tham khảo

ý kiến của những người đi trước giúp chúng tôi định hướng cho luận văn, từ

đó tiếp thu và tiếp tục khám phá những đặc điểm của thơ văn xuôi 1975 –

2000 để làm rõ hơn thành công và những ưu điểm của thơ văn xuôi trong thơ

ca Việt Nam hiện đại

6 Cấu trúc của luận văn.

Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu, Nội dung, Kết luận

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

1.1.Sự biến đổi thể loại trong thơ Việt Nam thế kỷ XX

1.2 Số phận, cuộc sống con người thời hậu chiến

1.3 Sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật thơ

Trang 8

1.4 Quá trình mở rộng giao lưu tiếp xúc và thức tỉnh cá nhân, cá tính.

Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo thơ văn xuôi 1975 - 2000.

2.1 Nhận thức lý giải những vấn để đời tư, thế sự

2.2 Số phận con người và tình yêu

2.3 Chiêm nghiệm suy tư về con người và cuộc sống trước hiện thựcthời hậu chiến

Chương 3: Thơ văn xuôi 1975 - 2000 từ góc nhìn nghệ thuật tổ chức lời thơ.

Trang 9

Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ - XÃ HỘI

CHO SỰ PHÁT TRIỂN THƠ VĂN XUÔI

1.1 Sự biến đổi thể loại trong thơ Việt Nam thế kỉ XX.

Từ đầu thế kỉ XX đến cuối thế kỉ XX các thể loại thơ có sự phát triểnmạnh mẽ, phong phú: thơ trữ tình, thơ châm biếm đả kích, thơ trí tuệ, thơ dài,trường ca, thơ không vần, thơ văn xuôi Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sửthường sử dụng thể loại thích hợp mà ở đây chúng ta có thể thấy được sự vậnđộng trong tư duy sáng tạo của nhà thơ Sự vận động này thể hiện nhiều cấpđộ: quan niệm về quan hệ giữa thơ và cuộc sống, thái độ của nhà thơ vớicuộc đời, tư thế cảm thụ và cách bộc lộ cảm xúc thông qua một hệ thốngnghệ thuật (đối tượng thẩm mĩ ngôn ngữ, giọng điệu, ) Đồng thời cũng nóilên trình độ, thị hiếu thẩm mỹ của người đọc, của cộng đồng, thời đại

Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chuyển động và vận động theo mộthướng mới Quá trình này không tách rời quá trình biến đổi lịch sử dân tộc,trong một tình thế tất yếu khách quan: cách tân đất nước Và cũng nằm trong

xu hướng chung của khu vực, của châu Á Đối với thơ, một thể loại truyềnthống, những hình thức cổ điển như song thất, Đường luật gò bó được thaythế trước hết những biến thể thơ ca dân tộc, từ khúc, rồi tiến đến sáng tạonhững bài thơ tự do hơn Nhưng nhìn chung dấu vết thơ ca trung đại vẫn còn

in rõ Đó cũng là tình trạng chung ở các nước Đông Nam Á khi bước vào thế

kỷ XX Về loại hình, phương Đông coi thơ ca là hình thức hàng đầu, nhưng

dù đã tham gia vào quỹ đạo của thế giới hiện đại, hình thức này vẫn chưacách tân được bao nhiêu

Cách tân thơ ca văn học nói chung là một yêu cầu cần thiết ở ĐôngNam Á, khi mà các nước trong khu vực đang muốn đoạn tuyệt với nhữngràng buộc của thể chế xưa cũ, hướng về văn minh, văn học phương Tây

Trang 10

Tự trong ý thức, tiềm thức, tình cảm, các nhà thơ Việt Nam đã phá vỡkhuôn khổ câu thơ xưa cũ bó buộc để tự do hơn trong việc thể hiện cảm xúc.Báo Lục tỉnh tân văn, năm 1907 đăng những bài thơ nội dung mới trong hìnhthức cũ có “xô xệch” hơn : “Tính làm sao cho quốc thới gia hưng - Nếu thuasút ngoại bang hoài thêm hổ - Ngày trước đã có nhật trình Nông cổ, Lại mới

đây - Lục tỉnh tân văn ” (Dục minh tân - Phạm Công Thạch) Theo Tản Đà, vào khoảng năm 1914 ông viết bài thơ Hoa rụng trong Khối tình con : “Đang

ở trên cành bỗng chốc rơi - Nhị mềm cánh úa - Hương nhạt màu phai - Sốngchữa bao lâu đả hết đời - Thế mà hoa lại sướng hơn người” Và, liên tục, dù ýthức hay không, những năm tiếp theo, Tản Đà luôn có những bài thơ phá vỡcâu thơ, bài thơ Ông khẳng định : “những điệu thơ đó thật tự tôi đặt ra, không

theo niêm luật ở đâu hết” (Tiểu thuyết thứ bảy, ngày 30 - 11 - 1934) Cũng năm 1914, trên Đông Dương tạp chí, số 40, Nguyễn Văn Vĩnh đăng bài Con

ve sầu và con kiến (La cigale et la fourmi) dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine,

không theo thể cách của lối thơ cũ : “Ve sầu kêu ve ve - suốt mùa hè - Đến kỳgió bấc thổi - Nguồn cơn thật bối rối - Một miếng cũng chẳng còn - Ruồi bọkhông còn một con ”

Thế nhưng, cũng phải đến năm 1917, trên báo chí mới có những lời chỉtrích thơ cũ, chê luật thơ cũ trói buộc, tù hãm cảm xúc Phạm Quỳnh bàn về

thơ Nôm (Nam phong, số 5 năm 1917) xem “luật thơ nghiêm như luật hình” Mãi sau đó đến chục năm, Trịnh Đình Rư mới viết bài trên Phụ nữ tân văn

kịch liệt bài bác thơ Đường: “Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khócho đến kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều ý tưởng mới lạ muốn phá ra lời,song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tưởng dầu hay song đành

bỏ bớt Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là tẩn mẩn Nếu ta còn ưachuộng mà theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không bao giờ

mong phát đạt như vậy”(Có nên ưa chuộng thơ Đường luật không? Phụ nữ

Trang 11

tân văn, số 26, năm 1929) Như thế đủ biết yêu cầu đổi mới thơ, tự do thể

hiện cảm xúc, tư tưởng, trước hết là yêu cầu nội tại, bức thiết của nhữngngười sáng tác

Những năm đầu của thế kỷ XX, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,Huỳnh Thúc Kháng, vẫn sử dụng rất nhiều thơ thất ngôn Đường luật, songthất lục bát, lục bát, có khi là sử dụng phú tế, ca trù: “Tháng ngày bao quảnthân sành sỏi - Mưa nắng càng bền dạ sắt son - Những kẻ vá trời khi lỡ bước -

Gian nan chi kẻ sự cỏn con!” (Đập đá ở Côn lôn- Phan Châu Trinh); “Trăng

trên trời có khi tròn khi khuyết - Người ở đời đâu khỏi tiết gian nan - Đấng

trượng phu tùy ngộ nhi an - Tố hoạn nạn hoành hồ hoạn nạn” (Bài hát lưu

biệt - Huỳnh Thúc Kháng).

Thơ ca của các nhà nho chí sĩ yêu nước và cách mạng nhìn chung đã có

sự biến đổi về nội dung tư tưởng, về ý thức hệ, nhưng hình thức vẫn chưa có

gì thay đổi Có chăng là từ ngữ bớt phần uyên bác, gần với tiếng nói hằngngày hơn để dễ đi vào quần chúng nhân dân Đại đa số các tác phẩm có nộidung tuyên truyền, cổ động phong trào yêu nước, chưa hề có báo hiệu cần đập

vỡ hình thức biểu hiện cũ Sau này, trước sự phát triển rần rộ của phong tràothơ mới, “Ông già Bến Ngự” mới phát triển quan điểm của mình về đổi mới

hình thức trên Văn học tuần san, số 2 ngày 1 - 10 -1933 và in kèm thơ ông

mới sáng tác: “Ta say, mà say, chẳng bao giờ rời - Chốc lại trông trăng, trăngmỉm cười - Mình với trăng, với bóng thành ba người - Chén đầy, chén vơi,chén đầy rồi lại chén vơi - Mình dậy múa, bóng theo hoài - Mình ngồi hát,

trăng nghe chơi” (Uống rượu dưới trăng - Phan Bội Châu).

Nới rộng thể thơ, câu chữ sáng rõ, dễ hiểu, không niêm luật gòbó, nhưng rung động, cảm hứng vẫn chưa đi vào quỹ đạo mới, cố gắng cáchtân thể loại nhưng nội dung cảm xúc vẫn là cũ, vẫn in rõ dấu ấn thơ ca cổ điểnphương Đông: Nhà thơ một mình với thiên nhiên, với vũ trụ để cảm nhận cái

Trang 12

vĩnh viễn, cái vô tận, vô cùng của thời gian, không gian đối lập với kiếp ngườitrong trong một hệ đề tài quen thuộc: Nhà thơ - Trăng - Rượu, hướng tới côđơn và yên tĩnh.

Tản Đà, nhà nho tài tử, tiếp thu văn hóa phương Tây, đã bộc lộ “cái tôi”

cá nhân mạnh mẽ Chính ông đã chuyển thể loại phi chính đạo vào trung tâmvăn học, thị dân hóa các thể loại văn học truyền thống Đó là công lao lớn củaTản Đà về mặt cách tân thể loại văn học của nước nhà trên con đường pháttriển Cái tôi đa tình, mơ mộng thích hợp với nhịp điệu nhẩn nha, uyểnchuyển, man mác của những câu thơ, vần thơ, từ khúc, ca trù, đặc biệt làphong thi (ca dao) Các hình thúc này mới thể hiện đúng tâm hồn mới - Đôthị: Sống theo cá nhân, theo sở thích, nay đây mai đó, thưởng thức những của

ngon vật lạ và yêu thương Tản Đà viết Hoa rụng (1914), Tâm hồn náng Mỵ

Ê, Tống biệt(1917), Cảm thu, Tiễn thu(1920), theo từ khúc Có lúc ông phá

vỡ cấu trúc câu ca dao truyền thống (Chơi xuân kẻo hết xuân đi) Trang

nghiêm như thất ngôn, đến Tản Đà cũng trở nên xộc xệch, buông thả, mất đicái âm điệu khuôn thước, trở thành lời nói ngang ngang khác lạ: “Chơi lâu,nhớ quê về thăm nhà - Đường xa, người vắng bóng chiêu tà - Một dãnh lau

cao, làn gió chạy - Mấy cây thưa lá, sắc vàng pha” ( Thăm mã cũ bên đường).

Có thể thấy Tản Đà là người tiên phong mở đường cho việc chuyểndịch từ câu thơ ngâm sang câu thơ nói Với thơ cổ, người đọc thích độc thơlên ngâm ca, tận hưởng âm điệu của ngôn ngữ văn chương Đọc thơ là cái tìnhtrong ấy hơn là tìm cái sự buộc đời Thơ Tản Đà có nhiều chi tiết của cuộc đờitrần tục, đời sống thị thành đang tư sản hóa, cho nên nó làm biến dạng nhữnghình thức tự do hơn - hình thức dân gian với những phong thi (ca dao), cakhúc (dân ca) hoặc sáng tác những vần điệu mới hợp với tâm hồn đang dàodạt của mình Tản Đà tỏ ra thuần thục song thất, lục bát, thất ngôn bát cú,những điệu ca trù, hát xẩm, những ca khúc Việt Nam và cả từ khúc Trung

Trang 13

Quốc Trên cơ sở đó, ông cách tân, tạo nét riêng Nhưng rồi ông vẫn khôngbứt lên được để hòa vào dòng thơ hiện đại.

Trần Tuấn Khải lại nghiêng về cảm hứng yêu nước, thương nòi ThơTrần Tuấn Khải phong phú về hình thức biểu hiện, nhưng thành công nhất lànhững bài hát theo lối dân tộc, hiện đại Ông có thơ tú tuyệt, bát cú, thơtrường thiên, văn tế, ca trù, lục bát, những bài ca lý như Hành văn, Cổ bản,Nam ai và những bài hát xẩm, nhũng “câu hát vặt” Dựa trên cơ sở câu thơ lúcbát, “câu hát vặt” là lục bát biến thể thường kéo dài ngân nga, thêm từ, thêmngữ chậm rãi như giọng điệu sa mạc, có thể thêm vào nhiều ý tứ, rất linh hoạt

và vì tâm trạng được thể hiện cụ thể, sinh động tha thiết hơn:

Anh khóa ơi! Lúc đêm thâu ngồi tựa chốn buồng điều.

Một mình em mở quyển “Kim Vân Kiều”em đọc em ngâm Đọc đến câu : Đã nguyền đôi chữ đồng tâm

Giật mình tưởng khách xa xăm em lại sầu

(Mong anh khóa)

Trần Tuấn Khải không sở trường về Đường luật bát cú hay tứ tuyệt,trong năm tập thơ của ông có nhiều bài hát xẩm du dương và những bài ca lýđúng điệu, chứng tỏ ông rất sành về làn điệu dân ca Đặc biệt phong dao (cadao) ông sáng tác khá nhiều, điêu luyện, rất dân gian (cũng có nghĩa là dântộc), nhiều bài học được phổ biến rộng rãi, được ca dao hóa

Như vậy, đến Phan Bội Châu, nhất là đến Tản Đà, Trần Tuấn Khải, câuthơ truyền thống được tự do hơn, nhiều bài thơ được sử dụng hình thức thơ cadân gian và từ khúc, mở dầu cho những trào lưu cách tân mạnh mẽ trong

phong trào Thơ Mới sau này.

Đến Thơ mới, Xét tổng thể , giọng điệu thơ mới là giọng điệu của tiếng

nói đời sống hằng ngày phong phú, thoát khỏi những niêm luật của thơ cổ.Buổi đầu là hiện tượng văn xuôi hóa, văn xuôi biền ngẫu, câu thơ cốt giữ cái

Trang 14

nhịp nhàng, xóa đi những cái khô cứng, mòn cũ, ghi lại kịp thời những dòngcảm xúc, những cái gần gũi, cụ thể và mơ hồ, Những bài thơ đầu tiên là văn

xuôi nhịp điệu biền ngẫu như Tình già của Phan Khôi:

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,

Hai các đầu xanh, kề nhau than thở

“ - Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,

Mà lấy nhau hẳn là không đặng

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng

Sớm mà buông nhau ”

Hoặc Trên đường của Lưu Trọng Lư Nhưng nhiều bài thơ của Lưu Trọng Lư

có quan hệ với dân gian: “rồi ngày lại ngày - Sắc màu - Phai - Lá cành: Rụng-Ba gian : trống - Xuân đi - Chàng cũng đi - Năm nay xuân còn trở lại -

Người xưa không thấy tới” (Vắng khách thơ) Nguyễn Thị Manh Manh

(Nguyễn Thị Kiêm) bỏ thể thơ mòn cũ, tạo ra những câu thơ giọng điệu đồngdao : “Hai cô thiếu nữ đi ra đồng - (Một cô ở chợ, một cô ở đồng) - Hai cô

thiế nữ đi ra đồng - Một mảnh lụa hồng, một vóc vải đen”(Phụ nữ tân

văn-1993) Điều này chứng tỏ các nhà thơ muốn phá vỡ cái cũ, giọng điệu cũ

nhưng chưa kịp tạo ra cái mới cho nên dựa vào “vốn tự có” vốn có truyềnthống của dân tộc, dựa vào giọng điệu của ca dao, dân ca Đó là giọng điệu từtiềm thức, bất cứ lúc nào, chỉ cần một rung động nhỏ cũng có thể nổi bật lên,ngân nga Cái giọng điệu tự nhiên, hồn nhiên ấy vốn từ trong mỗi con ngườiViệt Nam, trong tâm thức cộng đồng, trước hết là các nghệ sĩ, các nhà thơ.Chính cái giọng điệu này làm thay đổi các dòng thơ, câu thơ, cũng có nghĩa làcác thể thơ trở nên bất ổn dù đó là những cách luật của dân tộc đã được ổnđịnh

Trang 15

Thơ mới sử dụng hầu hết các thể thơ truyền thống trong thơ ca dângian, thơ ca bác học, những dòng thơ, câu thơ đã khác, tức là đã sáng tạo,

nâng cao phù hợp với dòng cảm xúc Đến đây thì cả thể thơ và hồn thơ Trung

Quốc đều để lại dấu vết không nhiều Dưới áp lực của văn hóa Pháp, thơ caPháp tác động theo một đường gấp khúc, khúc xạ: “Hồn thơ Pháp hễ chuyểnđược vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn”1 Nhóm tao đàn Bạch Nga họctập thơ Pháp sử dụng câu thơ Alexandrin, 12 chữ:

Tôi đến đây, lữ khách ơi, lòng quạnh hiu như bóng xế Tôi sẽ còn đến đây với những cánh hoa đượm lệ

Để tôi nghe khóc hồn anh lam li suối chảy bên đồi

Để tôi nghe khóc hồn anh những giọt lệ suối lòng tôi.

(Mộng Sơn - Viếng mồ lữ khách)

Thế nhưng sau những câu thơ nặng nề, chậm chạp này chỉ xuất hiện ởvài bài, Mộng Sơn quay trở về và viết theo thể thơ dân tộc quen thuộc: nămchữ, bảy chữ, lục bát Nguyễn Vỹ cũng chỉ còn lại những bài bảy chữ, tám

chữ và thành công ở thể loại hai chữ (sương rơi), thất ngôn thường thiên (Gửi

Trương Tửu).

Các nhà thơ mới lúc này viết nhiều thơ 7 chữ và 8 chữ, một thể thơ có

nguồn gốc thơ ca dân tộc (ca trù) Thế Lữ với Mây vần mưa, Chế Lan Viên với Điêu tàn, Anh Thơ với Bức tranh quê, Tế Hanh với Hoa Niên, Trong

95 bài ở hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió, Xuân Diệu viết 46 bài thơ 7 chữ, 33 bài tám chữ Huy cận trong tập Lửa thiêng cũng chủ yếu sử dụng thơ

bảy chữ, tám chữ và một số bài lục bát đạt tới mức cổ điển Ngay như nhà thơ

cách mạng Tố Hữu, trong tập Từ ấy cũng “đã sử dụng nhiều nhất những thể

thơ phổ biến của phong trào thơ mới đặc biệt là tám từ” 2

1 Ho i Thanh, Ho i Chân, Thi nhân Vi ài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Vi ài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Vi ệt Nam, NXB Việt Nam, NXB Văn học, H., 1998, tr.38.

Trang 16

Hình thức thơ Pháp, thơ tự do, sản phẩm độc đáo của trường phái thơtượng trưng được thơ mới chú ý vận dụng Thơ tự do tôn trọng và khai tháctriệt để chất nhạc trong giọng điệu cảm xúc Và điều này cũng kông xa lạ vớithơ ca truyền thống: các bài ca dao, các bài hát ca trù, các bài dân ca Bắc,Trung, Nam Lấy từ bất cứ bài thơ nào của thơ mới, chúng ta đều thấy bóngdáng của thơ ca dân tộc Nói thế để thấy hồn dân tộc, giọng điệu, âm thanhtiếng Việt là bền vững và năng động, có khả năng mở rộng, tiếp thu và đồnghóa cái mới để tạo nên sự phong phú của mình Thơ tự do có nguyên quán ởPháp từ cuối thế kỷ XIX đã trở thành một thể thơ vừa dân tộc vừa hiện đạitrong nền thơ Việt Nam Các nhà thơ dù viết về vấn đề gì, với những tâmtrạng như thế nào thì vẫn nằm trong “văn mạch dân tộc” như Xuân Diệukhẳng định Đóng góp quan trong và trước hết của phần thơ mới là phần tưtưởng, tình cảm mới (Trên các cấp độ nội dung cảm hứng lãng mạn, hiện

thực, cách mạng) Và mặt khác, công lao của thơ mới là làm bùng nổ những

tư tưởng mới trong những cái áo khoác mới được kết bằng chất liệu quen thuộc truyền thống Như vậy, về thể loại, hình thức câu thơ, các nhà thơ mới

cùng chung một nhịp với Tản Đà, Trần Tuấn Khải, sử dụng nhiều cách luậtdân tộc, dân gian (ca dao, dân ca, hát nói, )

Sau năm 1945, các nhà thơ tiếp tục sử dụng một cách sáng tạo các thểthơ dân tộc Từ năm chữ, bảy chữ, tám chữ, lục bát đến các thể dặm vè dângian, các thể thơ văn xuôi cổ như câu đối, phú, văn tế, Từ kết cấu sử thi,truyện nôm dân gian đến những quy mô kịch thơ, trường ca hiện đại Bêncạnh việc đổi mới các thể thơ dân tộc, thơ tự do phát triển mạnh mẽ Thơ tự

do tiến dần đến thơ không vần, thơ văn xuôi Trong điều kiện chống Mỹ cứunước và xây dụng chủ nghĩa xã hội, đất nước không ngừng phát triển đã tácđộng đến nội dung và hình thức thơ

Trang 17

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thơ tự do phát triển, thànhcông và phát huy tác dụng nhiều trong quần chúng là dạng hợp thể và biếnthể Từ sau năm 1955, nhất là những ngày cả nước trực tiếp chống đế quốc Mĩ(sau năm 1964) thơ tự do chuyển mạnh sang phá thể.

Khả năng biểu hiện của thơ tự do rất lớn Nó hoàn toàn không bị gò bóbởi những quy tắc, những luật lệ như các thể thơ dân tộc Và càng về sau nócàng có những tìm tòi, thể nghiệm mới trong cấu trúc thơ Có người kéo dàicâu thơ bằng cách xuống dòng không viết hoa đầu dòng tạo ra những câu thơdài theo chiều dọc Câu thơ có khả năng thể hiện trọn vẹn một ý muốn nói mànếu chỉ riêng một câu thơ ngắn thì chưa thể nói hết được Có người dùng hìnhthức câu thơ bậc thang, coi trọng những nhịp ngắt trong câu thơ tạo ra khảnăng diễn đạt của từng từ, từng nhóm từ Ở cả hai phương diện nội dung và

hình thức, ý thơ được tăng thêm sức gợi cảm và nhạc điệu Trong bài thơ Với

Lênin, Tố Hữu đã sử dụng rất đạt lối ngắt nhịp theo bậc thang ở hai câu kết:

Và chiều nay trước phút vội đi xa Người còn nghe

Thánh thót

Krúpxkaia Đọc trong sách

“Tình yêu cuộc sống”.

Lại có những trường hợp kéo dài câu thơ theo chiều ngang thành nhữngcâu văn xuôi Hình thức câu thơ gần giống như câu văn xuôi Thơ văn xuôi là

một nẻo đường phát triển của thơ tự do Từ 1950, Chế Lan Viên viết Chào

mừng theo lối văn xuôi, sau đó lại thu gọn ở các bài khác theo cách đặt câu

ngắn hơn hoặc theo các thể thơ cách luật dân tộc Đến những năm sau này,thơ văn xuôi mới được cả người viết và người đọc chú ý Cấu trúc của câu thơvăn xuôi gần giống với cấu trúc của một câu văn xuôi Cái khác là những câu

Trang 18

thơ mang đầy đủ những phẩm chất cơ bản của thơ: Tính hình tượng, tính cáchđiệu hóa, rung động, liên tưởng và vận dụng ngôn ngữ đều trong quá trìnhchọn lọc, sáng tạo Thơ văn xuôi được sáng tác nhiều trong những năm cảnước trực tiếp chống Mĩ cứu quốc Những sự kiện nóng hổi, những suy nghĩ,cảm xúc mạnh mẽ ào ạt vào thơ Có khi phải mô tả, phải ghi nhanh, ghi nhiềuhình ảnh, sự việc, Tất cả những điều ấy đòi hỏi hình thức câu thơ phảichuyển biến, nới rộng, kéo dài mới có thể chứa nổi nội dung phản ánh.

Cùng với những tìm tòi, đổi mới cấu trúc thơ là những tìm tòi về vần vànhịp điệu trong thơ tự do Đối với thơ, vần là quan trong nhưng như thế không

có nghĩa vần quyết định cái gì là thơ, cái cái gì không phải là thơ Nhớ máu

của Trần Mai Ninh không vần mà vẫn gợi cảm, xúc động Nhiều bài thơ của

Nguyễn Đình Thi bỏ vần, gạt luật bên ngoài đi nhưng “có luật bên trong rất mạnh”, ấy là cái hồn, cái âm thanh, nhạc điệu phong phú của câu thơ Trong thực tế sáng tác ít có những bài thơ không hiệp vần trong toàn bài như Nhớ

máu (Trần Mai Ninh), Không nói (Nguyễn Đình Thi), Một bài thơ không vần

kể chuyện chụp ảnh ở một vùng giáp với mặt trận (Phạm Tiến Duật), Người

đọc thường gặp nhiều hơn là hiện tượng những đoạn thơ không vần trong mộtbài thơ có gieo vần

Phần lớn những bài thơ tự do đạt hiệu quả, truyền cảm là giữ được yếu

tố nhịp điệu Cách ngắt nhịp câu thơ sáng tạo làm tăng thêm khả năng diễnđạt, tạo điều kiện cho thơ bay bổng, phục vụ đắc lực cho nội dung Không chú

ý đúng mực đến nhịp điệu sẽ làm hạn chế tính nhạc và có khi phá vỡ âmthanh của câu thơ Và từ đó làm sai lệch nghĩa của nội dung Maiacốpxki nói:

“Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản , năng lực cơ bản của câu thơ, không giải thíchđược nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói về từ lực hay điện từ Từ lực

và điện từ là những dạng của năng lượng”3 Trong thơ nhịp điệu luôn giữ một

Trang 19

vai trò hết sức quan trọng Nó luôn luôn có tác dụng nâng đỡ cảm xúc, làmtăng thêm sự biểu đạt của câu thơ, bài thơ.

Thơ tự do ngày càng phát triển và trở thành một xu hướng quan trọngtrong thơ ca hiện đại Việt Nam Nó tạo nên những sắc thái biểu hiện mới chothơ Qua việc khảo sát các tập thơ của các thế hệ nhà thơ, các tập thơ của từnggiai đoạn, chúng ta sẽ thấy:

1 Từ kháng chiến chống thức dân Pháp qua hòa bình xây dụng chủnghĩa xã hội ở miền bắc chống đế quốc Mĩ cứu nước, tỉ lệ thơ tự do ngày càngtăng (44% ở thơ ca kháng chiến 1946 - 1954, 55% ở thơ đấu tranh thống nhất

1954 - 1964 và 58% ở thơ chống Mĩ cứu nước 1965 - 1967)4

2 Thơ tự do chiếm tỉ lệ cao nhất là ở các tập thơ của những cây bút trẻ(từ 60 - 70 %), thứ đến các nhà thơ hình thành trong thời kì kháng chiếnchống thực dân Pháp (từ 50 - 60%) Và cuối cùng là các nhà thơ sáng táctrước cách mạng tháng Tám 1945 (từ 30 đến 50 %)

Những ngày kháng chiến chống Mĩ cứu nước, thơ tự do tràn vào tất cảcác tập thơ nhưng những năm gần cuối thế kỉ, các nhà thơ trước cách mạngtháng Tám lại trở về với các thể thơ dân tộc Tỉ lệ thơ tự do trong các tập thơcủa những tác giả này là rất thấp, có khi không đáng kể Điều này cũng làthường tình Nhiều nhà thơ lớn trên thế giới như J.R Becher(1881-1958), A.Machađo (1875-1939) và R Desnos (1900 - 1945), qua những ngày sáng tạothơ tự do, những năm sau của chặng đường sáng tác lại tìm về với thể thơxônê5

Các nhà thơ trẻ vẫn là những tác giả xông xáo trong thơ tự do nhiềuhơn và phần nào đã đáp ứng được nhu cầu phản ánh cuộc sống phong phú, bềbộn Đó là sự thể hiện rõ quy luật nội dung thống nhất và gắn bó mật thiết vớihình thức Nội dung yêu cầu phải có hình thức thích hợp Thơ tự do có ưu thế,

Trang 20

có khả năng phản ánh cuộc sống rộng hơn bất cứ một thể thơ nào khác và nhờvậy nó gần gũi với cuộc sống hơn

Một hiện tượng cần chú ý là thời kì này xuất hiện rầm rộ các bài thơ dài

và trường ca, tức là trong thơ có sự mở rộng cấu trúc thể loại Thơ dài vàtrường ca thường vận dụng tổng hợp các thể thơ Cho nên, chính xác, đây là

thể loại thơ kết hợp nhiều thể thơ Tố Hữu viết Ba mươi năm đời ta có Đảng (1960), Theo chân Bác (1970), Nước non ngàn dặm (1973); Huy Cận viết

Người thợ ảnh (1963), Người bác sỹ (1963); Chế Lan Viên viết Cách mạng, chương đầu (1970), Những bài thơ đánh giặc (1972), Ngày vĩ đại (1975), Thơ bổ sung (1975); Tế Hanh viết Câu chuyện quê hương (1973): Hoàng

Trung Thông viết Như đi trong mơ (1975), Tiếp đến Thu Bồn có Bài ca

chim Chơrao (1963), Ba dan khát (1977), Lê Anh Xuân viết Nguyễn Văn Trỗi

(1967), Giang Nam có Người anh hùng Đồng Tháp (1968), Nguyễn Khoa Điềm có Mặt đường khát vọng (1974), Và còn hàng loạt tác phẩm thơ dài

hơi khác của các tác giả khác Điều này chứng tỏ các nhà thơ muốn tìm mộthình thức thích hợp có nhiều khả năng phong phú để truyền vào đó tất cảnhững màu sắc đa dạng và sục sôi khát vọng của những tháng năm nhiều biếnđộng, lôi cuốn, hấp dẫn, tự hào của dân tộc Đồng thời cũng chứng tỏ khảnăng của các nhà thơ là muốn vươn lên ở một tầm cao khái quát, ở một độ sâutriết học của tư tưởng nhận thức về nhân dân, đất nước và có một tay nghề đãtrải qua những thử thách

Ở đây thấy rõ nội dung được triển khai cả bề rộng lẫn bề sâu, phản ánhmột bức tranh rộng lớn toàn cảnh, tạo nên nhiều cảm xúc, nhiều suy nghĩ Nộidung lớn ở đề tài, tầm tư tưởng, ý nghĩa nhận thức thực tại Vậy có phải hìnhthức tốt nhất, hiệu quả nhất

Qua những tác phẩm dài hơi của mình, các nhà thơ đã thể hiện ý đồsáng tác trong những vẻ khác nhau Nhiều tác phẩm đã gây những chấn động

Trang 21

mạnh trong công chúng đọc giả như Theo chân Bác, Nước non ngàn dặm của

Tố Hữu, những bài thơ dài của Chế Lan Viên, các trường ca của Thu Bồn,Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, ở đây các thủ pháp nghệ thuậtcủa truyện kí, sân khấu, điện ảnh, được sử dụng Các thể thơ cùng hỗ trợ lẫnnhau tạo nên những sắc thái tình cảm khác nhau Những liên tưởng gần xalàm phong phú thêm cho suy nghĩ và giúp cho kết cấu tác phẩm có lí do tồntại

Sau năm 1975 trường ca vẫn tồn tại theo quán tính của nó, nhưng từsau năm 1985 trở đi trường ca thực sự thưa thớt Có thể văn hóa nghe nhìnchiếm nhiều thời gian, người đọc cần đến những hình thức ngắn gọn hơn.Cũng có thể và là chính, không khí trường ca đã nhạt Những vấn đề lớn,trọng đại của lịch sử đất nước, nhân dân vốn là nội dung cảm hứng của trường

ca, ít được các nhà thơ chú ý Vấn đề thế sự, đời tư chiếm hầu hết các trangthơ, tập thơ

Những bài thơ ngắn , có khi rất ngắn xuất hiện Thơ tự do, thơ khôngvần, thơ văn xuôi phát triển đem lại thuận lợi cho việc thể hiện cảm xúc Câuthơ xuôi dòng, vắt dòng, leo thang, tạo dáng mới Có thể thơ cổ phục hồi, tấtnhiên là được nâng cao, sáng tạo:

Ấy là đêm trăng thành phố Phồn Xương trai làng gái làng đất Nhã Nam

súng đón máy bay giặc bổ kích bao gạo bên sườn va lách cách vàng ươm mấy chiếc mũ rơm tròn hoa dẻ rừng thơm mái tóc ướt

và trăng đêm ấy khi hiện khuất trăng nhu ánh mắt gái dân quân

(Vũ Từ Trang - Trăng Phồn Xương)

Trang 22

Cái thể hành ấy trước đây từng vương vấn nhiều trong Tây tiến,

Những làng đi qua của Quang Dũng, rồi Người cụt tay ở làng Bình Triệu của

Huyền Kiêu, đến đây vẫn là kể, vẫn là tả, nhưng vui hơn và tự tin hơn

Đặc biệt thể thơ lục bát trở lại và thể hiện sức sống bền vững của mìnhvới nhiều biến hóa Có nhà thơ dành cả tập thơ cho lục bát, những cuộc thithơ lục bát Và có nhiều nhà thơ thành công ở thể loại này: Nguyễn Duy, LêĐình Cánh, Phạm Công Trứ, Người đọc sẽ cảm nhận ra rất nhiều những biếnthể tài hoa của lục bát:

Chia cho em một đời tôi một cay đắng

một niềm vui

một buồn.

(Nguyễn Trọng Tạo - Chia)Câu thơ lục bát được ngắt khi leo thang, khi thành nhiều dòng, cấu trúclại âm thanh, gây ấn tượng, thể hiện tâm trạng:

- Em mang hương lửa đi rồi Rêu phong

Phố cổ Tôi ngồi Hóa Đông

(Dương Trọng Dật - Tự khúc cuối mùa thu)

- Bướm non tơ Khóc trong chiềuvẫy tay Gửi một lời yêu

Lỡ làng.

(Phạm Ngọc Liên - Lục bát Đèo Ngang)

Trang 23

Thơ bảy chữ cũng tạo ra những biến thể phóng túng nhấn mạnh ý, hìnhảnh, cảm xúc thơ:

Thu đến Chiều đông Gió ngỡ ngàng

Lá bay vời vợi dọc thời gian

Áo em gom hết mùa thu chín Hồn phố dâng theo một dải vàng

(Ngô Văn Phú - Thu vàng)

Hình dáng cấu trúc bài thơ phong phú Có thơ ngắn và thơ cực ngắn

Cả bài thơ chỉ hai, ba câu, có khi một câu Có bài thơ còn ngắn hơn cả tên củachính nó:

- Tôi đứng về phe nước mắt

(Dương Tường - Đừng để sau này ghi lên mộ chí)

- Gió là gạch nối Bầu trời - đất đai.

- Em là muối ướp nỗi đau Tươi mãi.

nhiều nhà thơ thuộc các thế hệ thử sức ở thể thơ này: Chế Lan Viên (Nghĩ về

nghề, nghĩ về thơ, nghĩ ) Tế Hanh (Văn xuôi cho em), Nguyễn Đình Thi (Nơi

Trang 24

Nguyễn Đức Mậu (Hà Nội, Chiều nay), Nguyễn Quang Thiều (Những ví

dụ), “ Đêm đã khuya Chuyến tàu hẹn chưa về Em đã gặp những gì trong mấy tuần xa cách? Anh mở to cặp mắt, nhìn qua những mái đầu lô xô, nhìn qua đống ngổn ngang của những kiện hàng và những gói đồ, qua cảnh ga ồn

ào đua chen Cuộc đời như nhà ga, bao nhiêu điều ngẫu nhiên, bao nhiêu xao động, có kẻ lỡ tàu, có người lầm chuyến, bao số phận may rủi buồn vui ngược xuôi ” (Trước của ga - Bế Kiến Quốc).

Cũng có những bài hình thức là thơ văn xuôi, nhưng thực chất là nhữngbài nằm trong thể thơ quen thuộc, được viết dài thành câu gợi cảm giác mênhmang:

“Ta ngắt đi một chùm hoa Thạnh Thảo 6

Có ngờ đâu tình đã chết the rồi Em còn nhớ buổi chiều thu ngày ấy Apollinaire vưa khuất bóng trên đồi Tim tím trận mưa hoa kí ức Ta, em và mùa thu rơi rơi

Hành Thạch Thảo hương thời gian trĩu nặng Apollinaire lời vĩnh biệt u buồn Lá và lá cứ rơi rơi mãi Em và ta vàng rực nỗi cô đơn” (Trần

Ngọc Tuấn - Thu Apollinaire).

Như vậy sau năm 1975, cùng với việc tồn tại những thể thơ dân tộc,dựa vào các thể thơ dân tộc, các nhà thơ lại có những tìm tòi, sắng tạo về thểloại để thơ có dáng vẻ hiện đại hơn và nhất là để thơ biểu hiện đúng hơn vớinội dung cảm hứng đầy những phức tạp, có khi đối cực trong tâm trạng chủthể trữ tình trước cuộc sống sôi nổi, nhiều biến động

1.2 Số phận, cuộc sống con người thời hậu chiến.

Trang 25

Với thắng lợi vĩ đại mùa xuân năm 1975, đất nước ta chuyển từ chiếntranh sang hòa bình Xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc trênnhiều phương diện Song đây cũng là một thời kỳ khá đặc biệt Nếu như trongchiến tranh, con người Việt Nam sống với một lý tưởng son sắt, một niềm tin

vững chãi “ Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương

lai” thì khi đất nước hòa bình, con người phải đối diện với bao nhiêu vấn đề

nóng bỏng, phức tạp của cuộc sống thường nhật Chiến tranh đặt ra cho dântộc một sự chọn lựa khốc liệt: Sống - chết, được - mất, thắng - bại, tự do - nôlệ Sự lựa chọn giản dị mà tất yếu đó là tranh đấu đến cùng để bảo tồn sựsống, để giữ gìn dáng hình núi sông và bản sắc văn hóa ngàn đời Không khícủa thời chống Mỹ là cái không khí hừng hực tranh đấu với tinh thần lạc quan

và tinh thần chiến thắng: “Đã nghe gió ngày mai thổi lại, Đã nghe hồn thời

đại bay cao” Con người luôn tồn tại trong ý thức cộng đồng: “lúc riêng ta

thấy mình xấu hổ” , những mất mát, đau thương tạm thời nén lại, vón sâu vào

trong tâm thức Đặc biệt ở giai đoạn những năm đầu thập kỷ 60, dân tộc ta bắttay vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc và chi viện cho cuộcchiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, con người Việt Namcàng tỏ rõ khí phách hào hùng Bối cảnh lịch sử đó đã cho ra đời một nền vănhọc kháng chiến mang đậm chất sử thi

Sau năm 1975, xã hội Việt Nam chuyển mình sang một trạng thái tâm

lý mới Trong những năm đầu sau ngày thống nhất đất nước, dân tộc ta hânhoan trong khúc ca khải hoàn, và tin tưởng vào một tương lai tươi sáng phíatrước Song trước năm 1986, do duy trì mô hình quản lý quan liêu bao cấpnên xã hội Việt Nam gặp những khó khăn nhất định, cộng thêm vào đó là tìnhhình bất ổn của Liên Xô và Đông Âu đã tác động rất lớn đến tâm lý của ngườidân Việt Nam Năm 1986, Đảng và nhà nước ta chủ trương đổi mới đã thổimột luồng gió mới vào đời sống xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Nó làm thay da

Trang 26

đổi thịt, tạo những bước khởi sắc đưa Việt Nam hòa nhập với cộng đồng thếgiới Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, do những xáo trộn trong đời sống

xã hội, do cơ chế quản lý chưa đồng bộ cộng thêm các mặt trái cơ chế thịtrường và bối cảnh phức tạp của toàn cầu đã khiến cho tâm lý con người bịphân hóa Một mặt, con người Việt Nam lạc quan tin tưởng vào tương lai, gópphần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước Mặt khác, không ít người tỏ

ra bi quan, hoang mang trước sự đảo lộn các giá trị, trước sức mạnh ghê gớmcủa đồng tiền, trước sự trượt dốc, băng hoại của đạo đức, nhân cách Bứctranh xã hội hỗn độn những mảng màu tối sáng Thêm nữa, ở những năm cuốithế kỷ XX, thế giới cũng có biết bao nhiêu biến động dữ dội, nhân loại cũngđối mặt với bao nhiêu vấn đề nóng bỏng: Chiến tranh, huỷ diệt, môi trường,bệnh tật, toàn cầu hoá, những phát minh thần diệu về Internet, về công nghệsinh học Tất cả những biến động diễn ra trong nước và quốc tế đó đã tácđộng đến cách cảm, cách nghĩ của người Việt Nam Từ đó nảy sinh nhu cầunhận thức lại cuộc sống Con người thoát khỏi vòng hào quang của quá khứ,dũng cảm đối mặt với các vấn đề phức tạp mà đời sống đang đặt ra hằngngày, hằng giờ Từ đó con người bộc lộ tất cả những gì tích cực cũng như tiêucực, những khát khao và bất lực, những bản lĩnh và những sự tuyệt vọng,những sự bứt phá, kiếm tìm và cả những sự cô đơn và hoài nghi Ý thức dânchủ trỗi dậy mạnh mẽ và sâu sắc Con người hiện đại khao khát tìm về nhữnggiá trị nhân bản đích thực vĩnh cửu

Như vậy, sự chuyển biến xã hội đã dẫn đến sự thay đổi trạng thái tâm

lý, ý thức của con người Việt Nam sau 1975 Và từ bối cảnh đó đã nảy sinhnhững tiền đề thẩm mỹ dẫn đến sự phát triển phong phú đa dạng của diện mạovăn học sau 1975 nói chung, thơ văn xuôi nói riêng

Sau 1975, sự chuyển biến về hoàn cảnh xã hội, ý thức xã hội đã dẫnđến sự thay đổi về thị hiếu thẩm mỹ Trong hoàn cảnh đất nước ta đang dồn

Trang 27

toàn tâm toàn lực vào cuộc chiến đấu sống còn thì quan điểm thẩm mỹ có xuhướng nhất thể hoá Ở giai đoạn này, người ta có nhu cầu quan tâm đếnnhững vấn đề lớn lao, nóng bỏng của thời đại Giọng chủ âm của dàn đồng cacủa thơ ca kháng chiến là giọng sử thi tâm tình Văn học nghệ thuật mang sứmệnh thiêng liêng cao cả, đó là phục vụ cho công cuộc kháng chiến bảo vệđất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội Các sáng tác của văn nghệ sĩ nghiêng

về phản ánh cái chung, cái hào hùng, cái lý tưởng Con người trong quanniệm văn học 1945 - 1975 là những anh hùng lý tưởng, đẹp như những viênngọc không một chút tỳ vết Mỗi người nghệ sỹ hoà mình vào cuộc sống củanhân dân, hoà mình vào bản hùng ca của thơ ca kháng chiến Họ ý thức rất rõ

vị trí của mình “ Nhưng giọng anh đơn lẻ Sánh sao bằng đồng ca” (Phạm

Tiến Duật) Do vậy, văn học 1945 - 1975 như những khúc ca chung ít có

những đảo phách, nghịch âm phức tạp “ Tính mới lạ” không phải là tiêu

chuẩn đánh giá của văn học thời kỳ này

Từ tháng 4/1975, nhất là giữa thập niên 80 trở lại đây, những biến đổi

to lớn to lớn trong đời sống xã hội đã đưa đến sự thay đổi các thang chuẩnquan trọng trong khi nhìn nhận các giá trị của cuộc sống và của văn học nghệthuật Sự thức tỉnh về ý thức cá nhân, sự quan tâm nhiều hơn về con người cánhân cá thể, với những nhu cầu trong thời bình là bước chuyển biến tất yếucủa ý thức xã hội Khi đối diện với hiện thực cuộc sống ngổn ngang với baomối quan hệ phức tạp đa diện thì công chúng không còn ưa lối nói một chiềunữa mà đòi hỏi lý giải, cắt nghĩa nhiều dữ kiện của đời sống, nhận thức lạinhiều vấn đề Chúng ta có thể hiểu vì sao văn học thời kỳ này lại có xu hướngnhạt dần cảm hứng sử thi, chuyển hướng quan tâm nhiều hơn đến số phận đời

tư, đời thường Công chúng đòi hỏi văn học nghệ thuật phải phản ánh đượchiện thực đời sống hàng ngày, những quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, đa sự,phức tạp, chằng chịt được đan dệt bởi những mạch nổi, mạch ngầm Con

Trang 28

người được phản ánh trong giai đoạn này là con người đa diện, đa trị, lưỡngphân, con người đan cài, chen lẫn giao tranh giữa bóng tối và ánh sáng, rồngphượng lẫn rắn rết, thiên thần và quỹ dữ, cao cả và tầm thường trong một thếgiới tạp âm và nghịch lý Văn học bao giờ cũng rất mẫn cảm với không khítinh thần với nhu cầu thời đại “Qua nhà thơ, người ta thấy thời đại mà anh tađang sống” Bởi vậy, các nhà văn đã cố gắng nắm bắt, thể hiện những biếnđổi và những dòng mạch đang diễn biến của ý thức xã hội, hơn nữa nó còn có

sự tác động nhất định đến các xu hướng đã góp phần không nhỏ vào quá trìnhdân chủ hoá ý thức xã hội

Nhìn chung những tiền đề xã hội - thẩm mỹ đã góp phần tạo nên nhữngnét mới cho văn học giai đoạn sau 1975 Có thể thấy rằng, bước sang giaiđoạn này, quan niệm nghệ thuật về con người đã được bổ sung hoàn thiệnhơn, đi sâu vào khám phá nhiều mặt của hiện thực cuộc sống, của bản chấtcon người Giọng đơn thanh chuyển thành giọng đa thanh Đã có nhiều cáchtân, đổi mới trong tư duy nghệ thuật và biểu hiện Nhu cầu của cuộc sống đãbuộc văn học phải thay đổi Có thể nói, bức tranh đa dạng, đa sắc và đầy đủphức tạp của đời sống đã phản ánh vào văn học, đổ bóng xuống các tác phẩmthi ca

1.3 Sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật thơ.

1.3.1 Tư duy nghệ thuật thơ trước 1975.

Thế kỷ XX là cái mốc quan trọng trong cuộc hành trình của văn học nóichung, của thơ ca nói riêng Từ đây, văn học Việt Nam nói chung, thơ ca ViệtNam nói riêng bước vào thời kỳ hiện đại và hậu hiện đại với sự phong phúcủa hệ thống thể loại, sự đa dạng của hệ thống đề tài, với đông đảo người làmthơ và công chúng độc giả

Trong văn học những năm đầu thế kỷ XX đã nổi lên một dòng thơ rõrệt: dòng thơ ca của những người yêu nước và cách mạng đã lấy thơ ca làm

Trang 29

một công cụ để tuyên truyền những tư tưởng tiến bộ Những sáng tác nàythường được lưu hành bí mật hoặc nửa công khai như thơ ca của nhóm Đôngkinh nghĩa thục, của Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng,

Về ý thức, các nhà thơ có lẽ không có hẳn dụng ý làm thi sỹ mà thườngmượn lời thơ để giãi bày lòng yêu nước, hoặc để cổ vũ ý thức đoàn kết và tinhthần đấu tranh dân tộc Nhiều sáng tác mang một nội dung yêu nước sâu sắc,chứa chan sinh lực và tình cảm cách mạng, nhất là thơ văn của Phan BộiChâu Với ý thức lấy thơ văn phục vụ lý tưởng cách mạng, dùng thơ văn làmphương tiện phổ biến rộng rãi lý tưởng đó trong quần chúng nhân dân, thứctỉnh tinh thần yêu nước thương nòi của họ, các nhà thơ trong nhóm Đông kinhnghĩa thục đã khộng tự gò mình trong những hình thức chật hẹp của thơĐường, mà trở về với những hình thức thơ ca cổ truyền dân tộc được quầnchúng ưa thích, đã cố gắng vận dụng lối diễn đạt giản dị gần gũi với quầnchúng Hầu hết các bài thơ đều làm theo các thể thơ ca truyền thống của dântộc, đặc biệt là các thể lục bát, song thất lục bát hoặc hát nói Thể thơ Đườngluật rất ít được dùng Tinh thần yêu nước thiết tha và ý chí đấu tranh cáchmạng kiên cường là ngọn lửa rực cháy trong thơ thời kỳ này

Tuy sử dụng nhiều thể loại rộng rãi và vận dụng nhiều hình thức diễnđạt, nhưng thơ ca của các tác giả cũng bị hạn chế về giá trị nghệ thuật Câuthơ có lúc còn chưa được điêu luyện và hàm súc Giá trị chủ yếu và ý nghĩaquán triệt của những sáng tác này là tính chất tiến bộ của lý tưởng và nhiệttình cách mạng của tác giả

Nhìn chung, trên văn đàn công khai chúng ta nhận thấy tiếng nói yêunước của tầng lớp sĩ phu phong kiến đã thưa dần, hệ tư tưởng này đã thỏahiệp và đầu hàng Thơ ca công khai mất hẳn ký tưởng trong sáng tạo Tinhthần yêu nước chỉ còn thu hẹp lại ở hai chữ “non nước” và một tình cảm nhớthương, ai oán mơ hồ Những xúc cảm cá nhân về các vấn đề khác của cuộc

Trang 30

sống vẫn bị lễ giáo phong kiến ràng buộc nên không có điều kiện biểu hiện vàphát triển Chủ nghĩa nhân tư sản với những quan điểm đạo đức, thẩm mỹ vànhững thị hiếu mới đã được hình thành và phát triển nhưng chưa có tiếng nóivững chắc và chưa được dư luận công chúng công nhận.

Thơ ca công khai của thời kỳ này thoát ly thực tế xã hội là do thiếu một

cơ sở triết lý và một mục đích nghệ thuật tiến bộ; hơn nữa thoát ly cuộc sốngcòn do chính sự bất lực, nghèo nàn và trống rỗng của toàn bộ hệ thống cảmxúc của nó, do đó không có khả năng đáp ứng được tình cảm và nhu cầuthưởng thức của các tầng lớp xã hội rộng rãi Tình hình đó càng trở nên nặng

nề khi những phương tiện diễn đạt chủ yếu lại ở lối thơ Đường luật gò bó vàmột hệ thống từ ngữ rất ước lệ, khuôn sáo

Những đề tài và tiêu đề của các bài thơ đều bó lại trong những vấn đềchật hẹp và được lặp đi lặp lại nhiều lần Cảm xúc thơ dựa trên những hiệntượng vụn vặt bình thường và người viết cũng không vượt khỏi phạm vi thôngthường của đề tài để đề cập đến những vấn đề sâu sắc của cuộc sống Hệthống từ biểu biểu hiện trong thơ ca đã trở thành sáo rỗng và nghèo nàn vớinhững từ quen thuộc như: nhân gian, non nước, cạn, tàn, dãi dầu, đua chen,trần ai, bèo dạt mây trôi, lòng son,

Trở về với cơ sở xã hội, từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, sự hìnhthành và phát triển của các giai cấp tiểu tư sản và tư sản ở thành thị đã tạothành một lớp công chúng mới Lớp công chúng này có những yêu cầu riêng

về tư tưởng, tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ Họ đòi hỏi tiếng nói riêng trongvăn học và thơ ca, cũng như đòi hỏi những hình thức diễn đạt và phương tiệnbiểu hiện phù hợp và gần gũi với họ Trở lực đầu tiên và là mục tiêu hầu như

cố định đang chờ đón những mũi tên bắn phá, chính là xiềng xích gò bó củahình thức thơ Đường luật Thực ra thì bản thân hình thức thơ Đường luật, vớinhững qui tắc của nó, đã từng là một hình thức biểu hiện phù hợp với nội

Trang 31

dung tư tưởng và thị hiếu thẩm mỹ của một thời kỳ lịch sử nào đó; và lịch sửvăn học cũng đã để lại nhiều sáng tác thơ ca có giá trị làm theo thể Đườngluật Nhưng hình thức thơ Đường luật ở giai đoạn này đã trở thành một trởngại cho sự phát triển của tư tưởng và cảm xúc mới Hình thức đó quá nhiềuthế kỷ vốn được suy tôn như một thể loại thơ ca chính thống duy nhất nênviệc phê phán thể thơ Đường luật không chỉ là việc phê phán riêng những gò

bó về ý thức, mà còn là sự tấn công vào những giá trị tinh thần, và những tiêuchuẩn thẩm mỹ của tư tưởng phong kiến

Trong hoàn cảnh đó Thơ mới ra đời Cuộc đấu tranh giữa Thơ mới vàthơ cũ diễn ra tập trung và sôi nổi nhất từ sau 1932 đến 1935 dưới nhiều hìnhthức như viết báo và diễn thuyết, tranh luận và sáng tác Thơ mới đã thắng thế

vì nó phù hợp với sự phát triển tất yếu của trào lưu mới về tư tưởng cũng như

về văn học

Phong trào Thơ mới đã đem lại cho thi đàn một không khí hết sức mới

mẻ và sôi nổi Nhiều tài năng lần lượt xuất hiện với những phong cách sángtạo riêng Thơ mới là tiếng nói của tầng lớp tiểu tư sản, có thể nói họ tìm đếnnghệ thuật như tìm đến cứu cánh cho đời sống tình cảm Thiết tha với cuộcsống và cuộc đời ngoài kia, nhưng rồi chính họ lại từ chối nó, từ chối cái thựctại nhiều bất công và buồn tủi Buổi ban đầu họ sôi nổi và gắn bó với chủnghĩa cá nhân, và chủ nghĩa cá nhân tư sản đã giam hãm họ trong vòng vây tùtúng chật hẹp

Điều đáng chú ý trong phong trào Thơ mới là phần đóng góp về hìnhthức nghệ thuật Phong trào Thơ mới đã đem lại cho bộ mặt thơ ca nhiều đổimới đáng kể, như về các thể thơ về sự biểu hiện phong phú của các trạng tháicảm xúc hay về những yếu tố mới trong ngôn ngữ thơ ca Thơ mới đã chốnglại những lối cấu tứ và diễn đạt của thơ cũ Thơ cũ vận dụng nhiều lối diễn đạtước lệ khuôn sáo để diễn đạt những tứ thơ và cảm xúc chung chung Trái lại

Trang 32

hệ thống xúc cảm và những hình ảnh trong thơ mới nhìn chung đều mang rõnét tính chất cá thể hóa, cho nên có sắc thái riêng sinh động hơn Cảm xúc củanhà thơ được biểu hiện qua những hình thức phù hợp, nên tính chất trữ tìnhcàng nổi bật Nhờ có hình thức thơ thích hợp nên trạng thái cảm xúc và lốicấu tứ của các nhà thơ mới phong phú và đa dạng hơn Tính chất cá thể hóacủa tâm trạng và hình ảnh trong thơ luôn gắn liền với sự khẳng định vai tròcủa chủ thể trong nhận thức và cảm thụ thẩm mỹ Đối với thơ trữ tình,phương thức biểu của nó chủ yếu là thông qua vai trò chủ quan của nhà thơ.Tính chất chủ quan hóa của cảm xúc và tâm trạng trong thơ vẫn được xemnhư đặc trưng vốn có của thơ trữ tình Những tác giả trong phong trào Thơmới luôn giữ được đặc trưng đó của sự biểu hiện, do đó tránh được những lốidiễn đạt chung chung trừu tượng Nhưng vấn đề đặt ra quan trọng và có ýnghĩa quyết định đối với giá trị và tác dụng của thơ là sự thống nhất giữa chủquan và khách quan, giữa cái tôi và cái ta Mặt khác, sự cảm thụ thẩm mỹđược nâng lên mức tinh tế thông qua sự phát triển nhạy bén của nhiều giácquan Thơ mới đã mở rộng góc độ thụ cảm cái đẹp trong thiên nhiên và trongđời sống bằng sự lắng nghe tinh tế của thính giác, sự quan sát tài tình của thịgiác và sự hỗ trợ của nhiều giác quan khác như vị giác, khứu giác và xúc giác.Thơ mới cũng vận dụng nhiều cách sử dụng ngôn ngữ phong phú, từ nhữnglối so sánh bình thường đến các lối ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa Về mặt kết cấu,phong trào Thơ mới đã mở ra những hình thức kết cấu mới về thơ ca khác vớilối kết cấu của thơ Đường luật Trong khuôn khổ của bài thơ thất ngôn bát cúĐường luật, kết cấu của một bài thơ như một cái khuôn định sẵn gò nhữngsuy nghĩ và tình cảm của nhà thơ phát triển theo những nguyên tắc và định lệnhất định Còn kết cấu chung của các hình thức thơ mới đều tùy thuộc trạngthái của xúc cảm Hình thức kết cấu là kết quả, là phương thức biểu hiện nộidung cảm xúc chứ không phải là tiền đề, là khuôn mẫu định trước cho cảm

Trang 33

xúc Do đó kết cấu của thơ mới mang nhiều sắc thái và hình thức phong phú,phù hợp với các trạng thái suy nghĩ và cảm xúc của các nhà thơ Kết cấu thơ

ca là sự tổ chức nội dung cảm xúc và thi tứ Ngoài sự tổ chức trực tiếp nộidung cảm xúc, các nhà thơ đã sử dụng nhiều thủ pháp trong kết cấu thơ ca.Nhiều nhà thơ dùng hình ảnh tượng trưng cho toàn bài như một phúng dụ

(Nhớ rừng, Hy mã lạp sơn, Tình tự, ) Những thủ pháp như tăng cường

trùng điệp, so sánh, đối lập, biểu hiện, song song, được vận dụng rộng rãitrong các dòng thơ, các khổ thơ và có khi trong toàn bài thơ Những hình thứcđặc biệt trong cú pháp thơ ca như câu hỏi, lời tán thán, chỗ nghỉ đều đượcdùng một cách phổ biến Trong tổ chức kết cấu nhịp điệu cũng có những hiệntượng đáng chú ý Trong thơ ca cổ, câu thơ thường trùng lặp với dòng thơ,được coi như đơn vị của nhịp điệu Về cơ bản câu thơ mới cũng trùng lặp vớidòng thơ, nhưng lại có trường hợp một dòng thơ bao gồm nhiều câu thơ

Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi.

( Xuân Diệu)

Bên cạnh lối kết cấu nhiều câu thơ trong một dòng thơ là lối kết cấumột câu thơ trong nhiều dòng thơ và phổ biến nhất là hai dòng Câu thơ trênthường được gọi là câu thơ bắc cầu

Ai biết hôm nay là ngày hội

Của lòng ta Em trân thiết trang hoàng

(Huy Cận)

.Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ

Nghiêng xuống làn rêu một tối đầy.

( Xuân Diệu )

Đi đôi với những ưu điểm trên, thơ mới có những nhược điểm rất đáng

kể về hình thức biểu hiện

Trang 34

Thơ mới thuộc dòng thơ lãng mạn Thoát ly thực tế xã hội, cảm hứngcủa nhà thơ thường không gắn bó với những vấn đề đang trực tiếp được đặt ratrong đời sống, những cảnh sinh hoạt và những cuộc đời cụ thể Cảm hứng thi

ca chủ yếu là cảm hứng lãng mạn xuất phát từ tâm trạng chủ quan của nhàthơ Đề tài trong thơ mới thường tập trung vào những biểu hiện của tình cảmyêu đương, vào cái đẹp thơ mộng trong thiên nhiên Thơ mới là tiếng nói chảichuốt, thơ mộng của một lớp công chúng thành thị mà chưa phải là tiếng nóisâu kín và phổ biến của quảng đại quần chúng Thơ mới thường dùng những

từ nhẹ nhàng, gợi cảm, hoặc da diết đau thương mà thiếu hẳn tiếng nói giản dịphong phú, khỏe và chắc của cuộc đời thực

Trong nhiều trường hợp, Thơ mới đã rơi vào chủ nghĩa hình thức, hoặcchạy đuổi theo âm thanh và nhịp điệu, hoặc dùng nhiều sáo ngữ trong miêu tả

và biểu hiện

Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một con đường mới cho sựsáng tạo thơ ca Sau những năm dài sống trong cảnh nô lệ, giờ đây dân tộc tađược tự do, nhân dân ta thoát khỏi xiềng xích Cuộc sống mới đã chắp cánhcho thơ ca, dẫn thơ ca ra khỏi lối mòn heo hút của cuộc đời cũ Lý tưởng cao

cả của nhà thơ là phục vụ cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng Nội dung củathơ ca không hướng về những tâm trạng cô đơn nằm trong vòng vây của chủnghĩa cá nhân tư sản, mà bắt nguồn từ sự nghiệp lao động sáng tạo của quầnchúng cách mạng

Văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám là một hiện tượngnghệ thuật sâu sắc và rộng lớn trong đời sống tinh thần xã hội Cội nguồnnuôi dưỡng thi ca của nền văn học mới là hiện thực xã hội đang biến đổi, làcuộc sống mới đang hình thành, và đặc biệt là ý thức tự giác lịch sử của cộngđồng được chuyển hóa thành ý thức nghệ thuật, bộc lộ trong nhận thức về mối

Trang 35

quan hệ giữa thơ ca và đời sống; bộc lộ trong sự lý giải về con người, về vaitrò của nó đối với sự tiến bộ của xã hội và sự vận động của lịch sử.

Sự định hướng và ưu tiên cho nội dung thể tài lịch sử dân tộc đã mởrộng khả năng phạm vi chiếm lĩnh con người bằng nghệ thuật, cải tạo lại hệthống nhân vật, mở rộng phạm vi biểu hiện của cái tôi trữ tình trong cuộc đờichung và số phận lớn của dân tộc

Vẫn là cái tôi trong thơ, nhưng nhà thơ cảm nhận cuộc đời trên cấp độcủa cái tôi chung và số phận lớn của dân tộc Đó là cái tôi hoàn toàn mớitrong lịch sử thơ trữ tình Việt Nam Cái tôi trong thơ trữ tình Việt Nam từ saucách mạng dù được gọi bằng nhiều tên: cái tôi công dân, cái tôi thế hệ, cái tôicộng đồng, nhưng hạt nhân của nó là cái tôi chung

Hiện tượng thơ trữ tình đặc biệt hướng tới các mối quan hệ xã hội, nhấnmạnh chất liệu đời sống, tái hiện sự kiện và biến cố cách mạng, phát hiệnbằng nghệ thuật ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của chúng là một đặc trưng thi pháp

có cơ sở trong tâm thức của các thế hệ thơ Việt Nam, và hơn nữa có cơ sởtrong ý thức của nền văn học mới Thơ trữ tình cách mạng là sản phẩm củathời đại cách mạng Nhu cầu bộc lộ mình trong sự kiện, nhu cầu nhận thức sứmệnh lịch sử của con người trong biến cố đã in dấu ấn vào hình thức nghệthuật bóng dáng tinh thần của nhà thơ, làm thay đổi diện mạo và cấu trúc thơtruyền thống

Những cách tân thi ca kiểu như Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Đêm mít

tinh của Nguyễn Đình Thi, Nhớ của Hồng Nguyên là những mẫu mực của

nền thi ca cách mạng Đó được xem là hình thức thơ văn xuôi xuất hiện trongnhững ngày đầu của cuộc kháng chiến Trong số đó, đặc biệt Nguyễn ĐìnhThi với sự đột phá vào khâu “thơ không vần”, có ảnh hưởng rất lớn đến sựsáng tạo thơ sau này Đó là tiếng nói biểu cảm của trí tuệ, của giác quan, gầnvới tiếng nói tự nhiên của con người thể hiện

Trang 36

Sự thành công của lớp nhà thơ đầu tiên đại diện cho nền thi ca mới nhưTrần Mai Ninh, Nguyễn Đình Thi, Hồng Nguyên, là ở chỗ họ đã phát hiện ranhững khía cạnh mới của con người và cuộc sống, và tự giác hòa mình vào sựkiện, trình bày nó với tình cảm trữ tình hồn nhiên trong sáng.

Nhìn tổng quát thì xu hướng phát triển của thơ ca từ sau cách mạngtháng Tám có những điểm cơ bản sau:

1 Quy luật hài hòa và thống nhất giữa nội dung và hình thức dần đượcthực hiện trong thơ ca Ở những năm đầu của Cách mạng, các nhà thơ còn vậndụng nhiều phương tiện biểu hiện cũ

2 Hình thức biểu hiện ngày càng có một vẻ đẹp lành mạnh mang tínhchất dân tộc và đại chúng Truyền thống tốt đẹp của hình thức thơ ca dân tộcđược phát triển Những khuynh hướng vị nghệ thuật, hình thức chủ nghĩa, cầu

kỳ, lai căng dần dần bị đào thải

3 Nhiều phong cách mới trong thơ được phát triển Cá tính sáng tạođược thể hiện trong cả nội dung lẫn hình thức Khuynh hướng sơ lược, dễ dãidần dần được khắc phục Tính chất sáng tạo về hình thức biểu hiện ngày càng

rõ nét

4 Sự mở rộng và giãn ra của các thể thơ Một số hình thức thơ truyềnthống được khôi phục, nhiều hình thức mới xuất hiện Qui luật hình thức phục

vụ nội dung được vận dụng triệt để, làm cho hình thức phù hợp với nội dung

Những đặc điểm trên của hình thức được biểu hiện trên nhiều mức độkhác nhau ở từng giai đoạn cách mạng và qua từng tác giả cụ thể

Quá trình đi đến một vẻ đẹp chân thực, giản dị trong thơ ca là một quátrình đấu tranh chống lại những xu hướng hình thức chủ nghĩa Và chính cuộcchiến đấu gian khổ và vinh quang của dân tộc đã có tác dụng quyết định chobước chuyển biến đó Thơ ca kháng chiến đã để lại nhiều sáng tác có giá trị,chân thực và phong phú về nội dung, giản dị trong sáng về hình thức Hình

Trang 37

ảnh và ngôn ngữ thơ ca ở đây thật là gần gũi, thân thuộc như chính cuộc sống

ta vẫn gặp đây đó hằng ngày Thơ ca kháng chiến cũng khẳng định những tiêuchuẩn thẩm mỹ mới về nghệ thuật biểu hiện, các nhà thơ đã khéo léo kết hợptính hiện đại với nếp cảm nghĩ của dân tộc, luôn khai thác và phát triển truyềnthống thơ ca dân tộc về nội dung cũng như về hình thức

Hàng loạt tác phẩm thơ ca ra đời đánh dấu một bước trưởng thành mớicủa thơ ca và cũng là một hiện tượng chưa từng có trong thi ca thời hiện đại

Đó không phải là thành tựu có tính chất ngẫu nhiên mà là kết quả của một quátrình tích lũy và chuyển biến trong mười năm cách mạng về tình cảm, tưtưởng, vốn sống và kỹ thuật biểu hiện

Hiện tượng văn học đó chứng minh rằng các nhà thơ lớp trước đã thực

sự chín lại trong thực tế mới với những thay đổi có tính chất chất lượng trongquá trình sáng tạo và cũng chứng minh rằng các nhà thơ lớn lên với cáchmạng và kháng chiến đã trưởng thành và có một đội ngũ khá đông đảo Kếtquả của bước trưởng thành tốt đẹp đó là sự ra đời của những phong cách thơ,với bản chất sáng tạo riêng về nội dung cũng như hình thức

Qua hai cuộc kháng chiến của dân tộc, đặc biệt là trong kháng chiếnchống Mỹ, thơ ca đã phát huy được tính chiến đấu kịp thời và tính thời sựnhạy bén Trên tuyến lửa của lòng căm thù, và trong chiều sâu của mỗi tráitim yêu nước, thơ ca có mặt ở khắp mọi nơi Miêu tả nhiều mặt khác nhau củađời sống, từ một trận chiến chống máy bay địch đến xây dựng một cây cầu, từngười lái xe ngoài trận địa đến cô du kích trên mảnh đất xanh tươi của ruộngđồng, từ niềm vui chiến đấu đến phút chia ly quyến luyến yêu thương Thơchống Mỹ ngay từ những năm đầu đã khẳng định được những thành tựu củamột giai đoạn phát triển mới trong thơ ca

Thơ chống Mỹ cứu nước đã biểu hiện sâu sắc tư tưởng yêu nước, yêuchủ nghĩa xã hội Một khí thế mới thấm đượm dạt dào trong thơ ca Đó là

Trang 38

lòng tự hào về truyền thống của quá khứ, về thắng lợi của hiện tại và niềm tinvào tương lai Thơ chống Mỹ cứu nước là khúc ca chiến thắng, chất thơ quyệnhòa cùng chất thép, niềm lạc quan cách mạng vượt lên những tổn thất đauthương Không có những hạn chế trong tư tưởng như thơ ca những năm đầukháng chiến chống Pháp Thơ ca chống Mỹ cứu nước mang lý tưởng cao đẹpgiàu tính chiến đấu, chân thực nhưng không tự nhiên thô sơ, nói đến tổn thấtchia ly nhưng không ngậm ngùi bi lụy, luôn khẳng định niềm tin và ước mơnhưng không phiêu lưu ảo tưởng.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng như nội dung chủ yếu và cảm hứng chủđạo, đã được khai thác và biểu hiện với nhiều sắc thái phong phú Có thể cónhững góc độ nhìn ngắm và cách cảm thụ khác nhau, nhưng rõ ràng tất cả đềuhướng về một mục tiêu duy nhất Chủ nghĩa yêu nước được nâng cao hơn trênnền của tư tưởng xã hội chủ nghĩa Cơ sở giai cấp đã tạo nên chiều sâu trongtình cảm và sự sắc sảo trong nội dung quan điểm dân tộc

Nỗi băn khoăn chung của các nhà thơ là làm sao biểu hiện cho đượctính cách và tâm hồn của con người Việt Nam trong thời điểm lịch sử vẻ vangnhất, làm sao nói lên được những sợi dây ràng buộc vừa cụ thể, vừa vô hìnhgiữa quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa cuộc đấu tranh của dân tộc ta vàbước phát triển chung của thời đại

Thơ chống Mỹ thể hiện khá rõ nét vươn tới kết hợp giữa hiện thực và lýtưởng, giữa cái bình thường và cái vĩ đại, giữa cái chung và cái riêng, giữahiện thực và lãng mạn Những phạm trù trên vốn luôn có mặt trong thơ trongnhững tương quan đối lập và hài hòa Trong thơ ca thời kỳ trước cách mạng

có những mặt tưởng như vĩnh viễn đối lập nhau Cách mạng đã đem lại những

cơ sở hiện thực và cách nhìn biện chứng để nhà thơ có thể thấy được sự thốngnhất bên trong giữa các phạm trù đó Đó là về nguyên lý và tính khả năng;trong thực tế phát triển của thơ ca ít nhiều vẫn có sự so le trong một sự hài

Trang 39

hòa thống nhất giữa hiện thực và lý tưởng, bình thường và vĩ đại, chung vàriêng Từng ngày lý tưởng đang trở thành hiện thực và cũng từng ngày hiệnthực chắp cánh cho lý tưởng bay thêm cao thêm xa Một thực tế rất vĩ đại màcũng rất cụ thể của cuộc chiến đấu đi vào trong thơ tạo thành cái nền vữngchắc nhưng vẫn trong trẻo ý thơ Những nhà thơ lớp trước, cũng như nhữngcây bút mới xuất hiện luôn luôn chú ý bồi đắp cho thơ của mình chất thực củađời sống và chất thơ của lý tưởng Chúng ta bắt gặp sự kết hợp này trong cácsáng tác của các nhà thơ thời chống Mỹ như Thanh Thảo, Chế Lan Viên, HữuThỉnh, Thu Bồn

Nhìn chung, xét từ tình hình thực tế của công việc sáng tác thơ từ giaiđoạn hiện đại đầu thế kỷ XX đến trước 1975, chúng ta nhận thấy rằng Thơvăn xuôi luôn là một thể loại nhỏ, phát triển có phần thưa vắng và chậm chạphơn so với thơ cách luật và thơ tự do Nói đến Thơ văn xuôi, nghĩa là nói đếnmột thể tài thơ còn ít được phổ cập trong tâm lý người sáng tác cũng nhưtrong tâm lý người tiếp nhận Nhưng không phải là không có sự vận động vàphát triển

Nhìn vào tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, có thể thấy số lượng nhữngbài thơ văn xuôi thành công ở vào giai đoạn nào cũng ít và hiếm Thời kỳ thơ

mới 1932 - 1945 có một số bài thơ văn xuôi như Tình già (Phan Khôi), Giọt

sương hoa (Phạm Văn Hạnh), Giọt mưa rơi, Thanh Khí (Nguyễn Xuân Sanh), Chơi giữa mùa trăng (Hàn Mặc Tử), Trinh bạch (Yến Lan), Thời kỳ kháng

chiến chống Pháp có những bài như Đêm mít tinh của Nguyễn Đình Thi, Nhớ của Hồng Nguyên, Nhớ máu của Trần Mai Ninh Đặc biệt là có cuộc tranh

luận về thơ không vần (một cách gọi khác của thơ văn xuôi) của Nguyễn ĐìnhThi Cuộc tranh luận cũng đã bước đầu xới lên được một số vấn đề thể loại,

về cách thức sáng tạo và tiếp nhận thơ văn xuôi trong đời sống văn học nhữngnăm đó Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ văn xuôi có phần khởi

Trang 40

sắc hơn Những nhà thơ lớp trước như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận,Nguyễn Đình Thi, Văn Cao đều có những bài thơ văn xuôi ghi lại được dấu

ấn nơi người đọc Trong số đó, Chế Lan Viên là người viết nhiều thơ văn xuôi

và cũng có nhiều bài có giá trị hơn cả Trong tập Ánh sáng và phù sa có những bài thơ văn xuôi khá nổi tiếng được nhắc đến nhiều như Cành phong

lan bể, Tàu đến, tàu đi, gọi chung là văn xuôi về một vùng thơ Có thể nói đến

Chế Lan Viên, thơ văn xuôi đã không cần nương tựa vào vần để tự nó làmnên một thể loại độc lập Ông đã thực sự trở thành một cột mốc của thơ vănxuôi Việt Nam

Nhìn chung, ở giai đoạn trước 1975, thơ trữ tình Việt Nam là sản phẩmtinh thần của hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Thơ văn xuôicũng không nằm ngoài tư duy nghệ thuật chung đó

1.3.2 Tư duy nghệ thuật thơ sau 1975 (Bước chuyển của thơ từ chống Mỹ cứu nước sang thời hậu chiến).

Đại thắng mùa xuân 1975 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhândân ta: đất nước thống nhất, non sông liền một dải, một kỷ nguyên mới mở racho dân tộc

Nhưng thực tế thì mọi ý nguyện diễn ra không dễ dàng và đơn giản Bamươi năm chiến tranh để lại bao khó khăn, phức tạp, đời sống thiếu thốn,nhếch nhác và cả những mệt mỏi thường tình hiện về dưới nhiều dạng vẻ

Nói rằng chiến tranh đã kết thúc, nhưng biên giới Tây Nam và phíaBắc, tiếng súng vẫn không ngừng, máu của đồng bào ta, chiến sỹ ta vẫn còn

đổ Bao nhiêu cuộc tiễn đưa, bao nhiêu gia đình lại li tán Rồi những thế lựcphản động bên ngoài tìm mọi cách kích động, xuyên tạc, bao vây, cô lậpchúng ta giữa những ngổn ngang của thời kì hậu chiến

Mặt khác về chủ quan, chúng ta vẫn tiếp tục quản lí xã hội theo cáchvận hành đời sống chiến tranh và đến lúc này lại được đẩy lên mức cao hơn:

Ngày đăng: 21/06/2014, 22:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1991
4. Xuân Diệu (1965), Vài ý kiến về thơ văn xuôi, Báo Văn nghệ số 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về thơ văn xuôi
Tác giả: Xuân Diệu
Năm: 1965
5. Hữu Đạt (1996), “Thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất của thơ tự do”, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn xuôi là đỉnh phát triển cao nhất của thơ tự do
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
6. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
7. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
8. Hà Minh Đức (1968), “Thơ văn xuôi”, Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn xuôi”, "Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1968
9. Nguyễn Văn Hạnh (2006), RABINDRANATH TAGORE với thờ kỳ phục hưng Ấn Độ, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: RABINDRANATH TAGORE với thờ kỳ phục hưng Ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Ngọc Thiện (1997), Tuyển tập thơ văn xuôi (Việt Nam và nước ngoài), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ văn xuôi (Việt Nam và nước ngoài)
Tác giả: Nguyễn Văn Hoa, Nguyễn Ngọc Thiện
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
11. Hoài Thanh, Hoài Chân (1998) Thi nhân Việt Nam, NXB Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: NXB Việt Nam
12. Bùi Công Hùng (1983), Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1983
13. Mã Giang Lân, “Xu hướng tự do hóa hình thức thơ”, Tạp chí khoa học, tháng 2 - 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng tự do hóa hình thức thơ”
14. Mã Giang Lân (2005), Văn học hiện đại Việt Nam - vấn đề - tác giả, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại Việt Nam - vấn đề - tác giả
Tác giả: Mã Giang Lân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
15. Nguyễn Văn Long (2001), Văn học Việt Nam trong thời đại mới (từ sau cách mạng tháng Tám 1945), NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong thời đại mới (từ sau cách mạng tháng Tám 1945)
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2001
16. Phương Lựu & Trần Đình Sử (1998), Lí Luận văn học (3 tập), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí Luận văn học
Tác giả: Phương Lựu & Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1998
17. Bùi Văn Nguyên (2006), Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2006
18. Lê Lưu Oanh (1998), Thơ trữ tình Việt Nam (1975 - 1990), NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trữ tình Việt Nam (1975 - 1990)
Tác giả: Lê Lưu Oanh
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 1998
19. Thiếu Sơn (1934), “Lời phê bình Linh Phượng”, Đông Hồ, Linh Phượng, NXB Nam Ký, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời phê bình Linh Phượng”, "Đông Hồ, Linh Phượng
Tác giả: Thiếu Sơn
Nhà XB: NXB Nam Ký
Năm: 1934
20. Vũ Văn Sỹ (2001), “Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại”, Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại”, "Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học
Tác giả: Vũ Văn Sỹ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
21. Vũ Văn Sỹ (2002), “Những thể nghiệm trong thơ Nguyễn Quang Thiều”, Thơ Việt Nam hiện đại, NXB Lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thể nghiệm trong thơ Nguyễn Quang Thiều”, "Thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Vũ Văn Sỹ
Nhà XB: NXB Lao động Hà Nội
Năm: 2002
22. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
Năm: 1998

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w