1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phan tich cac doan trich vo nhat

13 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Các Đoạn Trích Vợ Nhặt
Tác giả Kim Lân
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Nhập môn khoa học xã hội-nhân văn
Thể loại essay
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người ta lấy nhau khi ăn nên làm ra, đám cưới là hiện thân của sự sống, hạnh phúc ấy vậy mà Tràng và người vợ nhặt quyết định đưa nhau về trong vòng bủa vây của cái chết, cái đói.. Người

Trang 1

PHÂN TÍCH CÁC ĐOẠN Trích VỢ NHẶT Nhập môn khoa học xã hội-nhân văn (Đại học Sư phạm Hà Nội) PHÂN TÍCH CÁC ĐOẠN Trích VỢ NHẶT Nhập môn khoa học xã hội-nhân văn (Đại học Sư phạm Hà Nội)

Trang 2

PHÂN TÍCH V Ợ NHẶT (KIM LÂN) THEO ĐOẠN TRÍCH

Đoạn 1: “Cái đói => tự đắc với chính mình”

- “Vợ nhặt” lấy bối cảnh từ nạn đói năm 1945 đã đi vào lịch sử như như một vành khăn tang cướp đi mạng sống của hơn hai triệu đồng bào ta Bằng ngòi bút sắc sảo săn đuổi hiện thực đến tận đáy, Kim Lân đã mở ra trước mắt bạn đọc không gian năm đói

ảm đạm tăm tối và có phần nghiệt ngã

- Ngay từ nhan đề, hai từ “Vợ nhặt” đã hiện lên đầy chua xót, một nỗi đau không sao nói được thành lời Từ đó có thể thấy rằng “Vợ nhặt” là cái đòn bẩy tạo nên tình

huống truyện bi hài, sự hấp dẫn bất ngờ cho thiên chuyện “Bi” là ở chỗ trong cái cảnh

nạn đói đang diễn ra “người chết như ngả rạ” vậy mà Tràng lại còn dắt về một cô vợ Còn “hài” là ở chỗ vợ mà lại “nhặt” về, đơn giản vậy sao?

- Từ những dòng văn đầu tiên, người đọc đã cảm nhận thấy não lòng về nạn đói khủng khiếp : “cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào” Với từ “tràn” cái đói đã được

cụ thể hóa với sức tàn phá dữ dội

- Bức tranh toàn cảnh về nạn đói khủng khiếp năm 1945 với cảnh người đói “bồng

cái khát, cái chết đã len lỏi vào từng đường thôn ngõ xóm, gõ cửa từng gia đình Kim Lân đã đưa cuộc sống của người nông dân lao động trong thời kì đô hộ của thực dân

và phát xít vào trang viết của mình như tất cả những gì tăm tối nhất

- Cái chết đã bao phủ cả bầu trời và mặt đất Dưới ngòi bút của Kim Lân, không gian nghệ thuật của tác phẩm ngột ngạt, bức bối đến tắc thở Người chết như ngả rạ, còn những người sống thì sống một cuộc sống lay lắt vật vờ thoi thóp, một cuộc sống không ra sống Có đến hai lần nhà văn so sánh người như ma nhằm diễn tả đó là lúc cõi âm tràn vào cõi dương Kiểu so sánh đó bộc lộ cái nhìn tê tái của Kim Lân về cái

thời ghê rợn Cuộc sống được nhìn như một bãi tha ma khổng lồ, ranh giới giữa sự

sống và cái chết mong manh như sợi tóc Cái đói tàn phá hiện hình lên từng gương mặt người: trẻ con không nhúc nhích – cái đói đã giết chết bản tính trẻ thơ của chúng Người dân xóm ngụ cư “khuôn mặt hốc hác u tối” Không cần một lời kết tội hùng biện, nhưng đọc những dòng văn của Kim Lân ta thấy như là một bản cáo trạng đanh thép

tố cáo vạch trần bản chất phi nhân tính của bè lũ cướp nước Bao nhiêu con người đã phải ra đi trong cái đói, cái khát Nạn đói 1945, Hồ Chí Minh trong “Tuyên Ngôn Độc

Lập” đã nói : “Kết quả là từ cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc

Kì, hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói ” Chỉ với vài dòng văn ngắn ngủi Kim Lân đã

để lại trong lòng người đọc bao nỗi ngậm ngùi, xót xa thương cảm với số phận của người dân lao động Viêt Nam trước cách mạng tháng Tám

- Một buổi chiều “tối sầm lại vì đói khát” con người đang chìm dần trong bóng

tối, “không nhà nào có ánh đèn, lửa” Không gian của thế giới ngổn ngang người sống

kẻ chết, tiếng quạ “cứ gào lên từng hồi thê thiết” Cái đói đã biến con người thành cái

xác không hồn vật vờ quằn quại Cái đói đang tràn lan như một dịch bệnh tàn nhẫn và phô bày sức mạnh hủy diệt thật là khủng khiếp, Kim Lân đã đặt hình ảnh những người

Trang 3

sống bên cạnh hình ảnh người chết, cho thấy ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết

- Giữa thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, Kim Lân dám đặt vào đó một đám cưới thì quả là táo bạo Người ta lấy nhau khi ăn nên làm ra, đám cưới là hiện thân

của sự sống, hạnh phúc ấy vậy mà Tràng và người vợ nhặt quyết định đưa nhau về trong vòng bủa vây của cái chết, cái đói Nó đeo bám quyết liệt, đậm đặc trong không khí của tác phẩm, nó vẩn lên thành màu, thành mùi, thành tiếng: màu xanh xám của da người chết, mùi gây của xác người, tiếng thê thiết của đàn quạ Cả một xã hội là một đám ma khổng lồ, Tràng đưa vợ về trong một buổi chiều chạng vạng, đau thương đó Trong truyện “Một đám cưới” Nam Cao đã nhìn đám cưới như đám ma, còn ở đây

Kim Lân đã phát hiện ra giữa những đám ma là một đám cưới Có lẽ cho đến mãi mãi sau này, nạn đói 1945 vẫn sẽ được xem là một đau thương nhất của lịch sử dân tộc Đám cưới của Tràng xuất hiện trên không gian bi thảm ấy Tràng nhặt được vợ Có thể nói, trên cái nền tối sầm lại vì đói khát, vẻ đẹp ánh sáng của niềm tin của tình thương lại lung linh tỏa sáng làm ấm thêm, đẹp thêm bức tranh tình người Do tình cờ xui khiến

mà Tràng –Thị, hai thân phận “bèo bọt” trôi dạt vào nhau chụm thành nên bếp mà nhóm lên ngọn lửa hạnh phúc

- Tác giả đã tạo cho thiên truyện một phông nền đặc biệt nhàu nát, ảm đạm, tối tăm, có phần nghiệt ngã Mảng tối của bức tranh hiện thực đau buồn chính là phép đòn bẩy cho mảng sáng của tình người, của khát vọng hạnh phúc tỏa ánh hào quang

a Tràng đưa vợ về nhà trước con mắt tò mò của những người xóm ngụ cư Tâm

tr ạng Tràng có những biến đổi rất tinh tế qua cái nhìn của nhà văn Kim Lân

+ “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình

và hai mắt thì sáng lên lấp lánh” Từ một gã dân ngụ cư xấu xí, ế vợ, lần đầu tiên hắn

cảm nhận được hạnh phúc Tràng trong tâm trạng lâng lâng, vui sướng, tủm tỉm cười, thích chí Ánh mắt tràn đầy hi vọng Nó đối lập hoàn toàn với khung cảnh thê lương,

ảm đạm của xóm ngụ cư Đấy là gì nếu như không phải là cái bộ dạng sung sướng, cái cảm giác đang ngất ngây trong men say hạnh phúc, dù nó mới bắt đầu trong Tràng? + Trước con mắt tò mò của những đứa trẻ, “Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc

đầu ra hiệu không bằng lòng” Nếu như trước đây hắn thường xuyên nô đùa với đám

trẻ thì dường như việc có vợ khiến Tràng trưởng thành Hắn ý thức được mình cần tách biệt với đám trẻ con Kim Lân diễn tả rất thành công cách cư xử của Tràng với lũ trẻ

con trêu đùa, để gã trai này mắng yêu lũ trẻ “Bố ranh!” Gã trai tưởng chừng ngờ

nghệch này cũng khéo léo biết mấy để đưa vợ về nhà trước những cặp mắt tò mò và

những lời trêu đùa

+ Trước con mắt tò mò và ái ngại của người dân xóm ngụ cư “Ôi chao! Giời đất

này còn rước cái của nợ đời về Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”, Tràng vẫn không hề lo sợ tương lai Trong trái tim anh cu Tràng giờ

đây chỉ có niềm hạnh phúc mới vừa nhen nhóm Dường như mọi âu lo, nghịch cảnh khắc nghiệt của cuộc sống cũng không thể ngăn con người hướng về những giá trị đích thực là có một mái ấm gia đình, được yêu thương Và không có gì ngăn nổi niềm tin, niềm hi vọng của họ vào tương lai Đó chính là giá trị nhân văn đầy cảm động của truyện ngắn này

Trang 4

+ Trước sự ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia của thị “hắn cũng biết

thế, nhưng hắn lại lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ vênh lên tự đắc với mình” Việc

có vợ khiến Tràng trở nên hãnh diện với mọi người trong xóm ngụ cư và ngay cả với bản thân mình hắn cũng không thể giấu nổi niềm vui, niềm hạnh phúc

b. Kim Lân rất tinh tế khi miêu tả nét tâm lý, tính cách của thị Nhà văn như lọt

vào trong nỗi thẳm sâu tâm tư tình cảm ấy của người phụ nữ năm đói Người đàn bà bề ngoài tưởng như đáng khinh ấy khi lâm vào cảnh cùng đường phải theo không Tràng

trong lòng cũng vừa thấy tủi phận, vừa e thẹn, ngượng ngập: “Thị cắp cái thúng con,

đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt Thị có vẻ rón rén, e thẹn” Cái dáng vẻ ấy không giấu nổi những cặp mắt tò mò của người dân

xóm ngụ cư Người ta thấy “Thị thèn thẹn hay đáo để” khi nhận thấy cặp mắt những người xung quanh đang đổ dồn cả về phía mình “Thị ngượng ngịu chân nọ díu vào

chân kia” Kim Lân như nhìn thấy cả nỗi tủi nhục của kiếp người, thấy cả trong bước

chân liêu xiêu, bước díu vào nhau kia là cả tủi hờn, xấu hổ Nhà văn đã miêu tả thật tinh tế và cảm động những bước chân ngập ngừng e thẹn trên đường về nhà chồng của thị Qua đó, chúng ta thấy Kim Lân rất thấu hiểu tình cảnh tội nghiệp, cực chẳng đã của người vợ nhặt Hoàn cảnh tàn nhẫn xô đẩy chị có lúc thành ra trơ tráo, cong cớn, nhưng cái bản chất thực của chị không phải là như vậy Ẩn sâu trong tâm hồn chị vẫn

là người con gái giàu lòng tự trọng Cái hay của tác phẩm là không để cảnh ngộ xua con người đi đến tận cùng của cái tầm thường, hèn hạ

+ Cũng như Tràng, thị mong muốn có hạnh phúc, có một mái ấm gia đình dù ban đầu cái mong muốn ấy không hề xuất hiện Thị tự nguyện về làm vợ Tràng chẳng qua

vì đói Người đàn bà ấy đến với Tràng trước hết chỉ như đến với một chốn có thể tựa nương trong thời buổi đói kém, không hề có biểu hiện của tình yêu hay niềm khát khao

hạnh phúc Nhưng Kim Lân, bằng vốn sống và sự tinh tế của mình, đã khám phá ra cái bản chất đẹp của người vợ nhặt: niềm khát khao hạnh phúc

c. Những người dân trong xom ngụ cư khi “Nhìn theo bóng Tràng và bóng người

đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm lạ lắm” Họ “bàn tán” và khi họ “hiểu đôi

phần” khuôn mặt họ “bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên” Tình huống đã tạo nên sự thay đổi mới mẻ theo hướng tích cực : bên bờ vực cái chết vì đói khát vẫn biết cảm thông cho

nhau , tin tưởng vào điều tốt đẹp : “Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống

đói khát, tăm tối ấy của họ” Rõ ràng cuộc hôn nhân kì lạ của Tràng đã làm bừng sáng

niềm yêu thương trong xóm ngu cư vốn như những nhà mồ hoang lạnh với những sinh linh đang tuyệt vọng trong cơn đói khát Tình yêu, khao khát hạnh phúc như ngọn gió xua đuổi tà khí u mê vây bủa con người Viết đoạn văn này Kim Lân đã khẳng định sự

sống và ý chí vươn lên chống lại định mệnh của con người luôn mãnh liệt

Mở rộng:

- Kim Lân mượn cái đói như một phép thử để làm nổi bật cái tình, như một bối

cảnh khảo sát sức sống của con người Cuộc sống đói nghèo chỉ có thể làm teo tóp phần thể xác chứ không thể hủy diệt được tình yêu thương đồng loại, không thể dập tắt ngọn lửa khát vọng sống trong mỗi cá nhân Hiện thực đó chỉ là phông nền, là hoàn cảnh để vẻ đẹp của tâm hồn con người, tình yêu thương của những con người dành cho nhau tỏa sáng đẹp đẽ

Trang 5

- Phản ánh hiện thực khốn cùng của người lao động điều mà Kim Lân muốn hướng đến không phải là cái đói, cái chết mà là để khẳng định sự sống của họ, khẳng định dù trong hoàn cảnh cơ cực, con người vẫn vươn lên để sống và khát khao Kim Lân viết Vợ nhặt không chỉ bằng con mắt hiện thực sắc lạnh mà còn bằng cả trái tim chan chứa yêu thương và trân trọng con người Qua đó, nhà văn phát hiện ra những tia sáng về đạo đức và danh dự, đằng sau những số phận bi kịch là vẻ đẹp tâm hồn, là

những khát khao bản năng của con người

Trang 6

PHÂN TÍCH V Ợ NHẶT (KIM LÂN) THEO ĐOẠN TRÍCH

Đoạn 3: “Ít lâu nay … cùng đẩy xe bò về”

nhân vật Tràng trong một lần “xe thóc Liên đoàn lên tỉnh” thì tình cờ gặp thị Nhờ một câu bông đùa mà Tràng có vợ Đoạn văn vừa hài hước vừa chua xót, diễn tả tâm trạng nhân vật thị, tâm trạng của Tràng qua hai lần gặp gỡ

a Tràng: Tràng là người lao động thiệt thòi, nghèo khổ đến mức cái tên cũng gợi sự lam lũ, vất

vả Đó là con người được tạo hóa đẽo gọt quá sơ sài về ngoại hình và tính cách Hắn có vẻ ngờ nghệch, vừa đi vừa lảm nhảm những điều hắn nghĩ Tràng là dân ngụ cư với thân phận bèo bọt, sống tạm, nghề nghiệp vất vưởng, gia cảnh nghèo khó, mẹ góa con côi nên đã nhiều tuổi mà chưa có hạnh phúc gia đình

- Tràng kéo xe bò thuê lên tỉnh để kiếm sống Vì mệt quá mà anh cất lên câu hò Không ngờ, đó

là câu hò khiến nhân vật thị chú ý Sau câu hò vu vơ của Tràng, anh đã được một người con gái

“ton ton chạy lại đẩy xe” và “liếc mắt, cười tít”

- Th ật ra, ban đầu Tràng không chủ tâm tìm vợ Tràng chỉ muốn hò để xua đi mỏi mệt trong người Anh cũng chẳng có ý chòng ghẹo ai cả Anh chỉ hò cho vui:

“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này!

Lại đây mà đẩy xe bò với anh, nì!”

Vì đùa vui nên Tràng không giữ đúng thỏa thuận của câu hò Nhưng Tràng cảm thấy hạnh phúc khi bắt gặp cái “liếc mắt, cười tít” của thị bởi “từ cha sinh mẹ để đến giờ, chưa có người con gái nào cười với hắn tình tứ như thế”

=> Câu hò trở thành nhịp cầu nối, mở đầu cuộc gặp gỡ của hai con người cùng khổ trong nạn đói 1945

b Người vợ nhặt: Người vợ nhặt là nạn nhân của nạn đói năm 1945 Thị là người vô gia cư,

đến cái tên cũng chẳng có Người vợ này không tên, không tuổi, không gốc tích Trong suốt trang sách chỉ là cô ả, người đàn bà vô danh, vô nghĩa tựa như một vật gì đó rơi vãi ngoài đường

để Tràng có thể nhặt đem về làm vợ Thị xuất hiện vừa bằng ngoại hình vừa bằng tính cách của

m ột con người năm đói

Trang 7

- Ngồi lẫn trong đám con gái chờ để “nhặt hạt rơi, hạt vãi, hay ai có công việc gì gọi đến thì làm” nhằm duy trì sự sống đang thoi thóp Trước khi trở thành vợ Tràng, thị là người phụ nữ ăn nói chỏng lỏn, táo bạo và liều lĩnh Lần gặp đầu tiên, thị chủ động làm quen đẩy xe bò cho Tràng Khi nghe Tràng hò một câu cho đỡ nhọc, thị chạy lại đẩy xe với hi vọng được ăn Nhưng lần đó, anh cu Tràng không giữ đúng thỏa thuận của câu hò

a Tràng: đùa đã thành thật ở lần gặp thứ hai

Khi Tràng đang ngồi nghỉ trước cổng chợ tỉnh thì bất ngờ có người đàn bà “sầm sập chạy đến”,

“sưng sỉa nói: “Điêu, người thế mà điêu!”” Tràng không nhận ra người đàn bà ngày trước đẩy

xe cho mình bởi thị đói rách và xác xơ quá Trước mặt hắn là một người đàn bà thảm hại đã bị cái đói tàn hại cả nhan sắc lẫn nhân cách: “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt” Thấy người đàn

bà đói, rách thảm hại, Tràng động lòng thương Anh sẵn sàng cho thị ăn dù cũng chẳng dư dật

gì Có ai ng ờ được rằng trong con người thô kệch ấy lại có một tấm lòng thương người cao cả Tràng mời người đàn bà kia ăn, không chỉ cho ăn mà còn cho ăn rất nhiều: “bốn bát bánh đúc”

Đó chính là lòng thương một con người đói khát hơn mình chứ Tràng không hề có ý định lợi dụng hay chòng ghẹo

- V ốn tính hay đùa, Tràng lại tầm phơ tầm phào “Nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên

xe rồi cùng về” Phía sau câu nói tưởng là đùa vui bật ra từ người đàn ông nghèo khổ ấy là khát vọng cháy bỏng có thật về một mái nhà hạnh phúc, về tổ ấm gia đình Nói đùa thế thôi, ai ngờ thị về thật Lúc đầu Tràng phảng phất lo sợ về cái đói và cái chết “mới đầu anh cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng” Đó là nỗi sợ hãi có thật, nhất lại là thời đói kém như thế này, một nỗi lo rất thực tế Nhưng có lẽ tình thương người và khát vọng hạnh phúc đã lớn hơn nỗi sợ hãi nên sau đó anh tặc lưỡi “Chậc, kệ!” Chỉ một từ “kệ” thôi, Tràng như đã bỏ lại sau lưng mình tất cả nỗi sợ hãi, mọi lo nghĩ để vun vén cho cái hạnh phúc của mình Cái “tặc lưỡi” không phải là sự phó mặc liều lĩnh, dễ dãi mà đó là tình thương yêu của anh với người cùng khổ Việc hai người đến với nhau bề ngoài có vẻ ngẫu nhiên nhưng bên trong lại là tất nhiên Người đàn bà cần Tràng để có một chỗ dựa qua thì đói kém, còn Tràng cũng cần người phụ nữ nghèo ấy để có vợ và biết đến hạnh phúc Anh chấp nhận đương đầu với những khó khăn hiện tại và cả sắp tới Phải chăng đằng sau cái quyết định có vẻ tầm phơ tầm phào đối với một việc thuộc loại trọng đại bậc nhất trong đời, Tràng đã dám đánh cược cuộc đời mình cùng cái đói, cái chết? Niềm khao khát hạnh phúc gia đình mạnh hơn tất cả Nhà văn đã diễn tả thật chính xác và cảm động niềm hạnh phúc đang diễn ra trong tâm lí của

Trang 8

Tràng Qua đây có lẽ nhà văn Kim Lân muốn gieo vào tâm hồn bạn đọc cái suy nghĩ: sự đói khát

có thể khiến người ta chết chứ không thể làm giảm giá trị tình người

- Hạnh phúc giản dị, đơn sơ là thế nhưng trong hoàn cảnh của Tràng, anh đâu dễ đã có được? Vì thế khi có nó Tràng rất trân trọng, nâng niu Điều này được chứng thực trong hàng loạt các hành động và phản ứng tâm lí của Tràng kể từ khi có vợ Đầu tiên là việc anh “đưa thị vào chợ tỉnh

b ỏ tiền ra mua cho thị cái thúng con đựng vài thứ lặt vặt và ra hàng cơm đánh một bữa no nê rồi cùng đẩy xe bò về ” Chi tiết này cho thấy Tràng là một người đàn ông phóng khoáng, biết quan tâm đến người khác – người bạn đời Sính lễ chẳng có gì to tát nhưng hành động của Tràng cho thấy anh rất nghiêm túc, biết nghĩ với một trái tim nhân hậu Phải chăng niềm khao khát về một mái ấm thực sự luôn âm ỉ cháy từ lâu trong Tràng, nhưng vì cuộc sống khắc nghiệt đã bóp nghẹt

nó lại nên bây giờ khi có cơ hội tỏ bày thì nó được thể hiện một cách vô cùng tự nhiên, tinh tế đến thế Tràng trân trọng hạnh phúc mà mình có được Và hạnh phúc giống như làn gió mát cuốn

đi tất cả những ê chề, lo lắng, tăm tối làm Tràng quên đi những ngặt nghèo của cuộc sống mưu sinh

b Người vợ nhặt

- Cái đói đã hành hạ đẩy thị đến bờ vực thẳm Thị xuất hiện với ngoại hình kém hấp dẫn, nếu như không muốn nói là xấu Chân dung của thị được gợi tả với “những nét không dễ nhìn” Cái đói đã để lại dấu tích ghê gớm của nó trên khuôn mặt “lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”, và “áo quần tả tơi như tổ đỉa”.; làm cho thị trở nên trơ trẽn chỉ vì miếng ăn Vì đói mà thị

tr ở nên “chao chát”, “chỏng lỏn”, “cong cớn”, “sưng sỉa” khi giao tiếp, nói chuyện Cái đói biến thị thành kẻ liều lĩnh, cùng đường, đánh rơi cả lòng tự trọng Hai con mắt của thị sáng lên trước miếng ăn, thị quên đi cái e thẹn, nết na, kín đáo vốn có của người phụ nữ, thị nói với Tràng một cách thẳng thắn: “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”, rồi cong cớn trước mặt Tràng “Ăn thật nhá! Ừ ăn thì ăn sợ gì” Thế rồi thị sà xuống “cắm đầu ăn một chặp hết bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì” Ăn xong, thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng: “Hà, ngon” Bánh đúc – thứ thức ăn được coi là bình dân và rẻ tiền trong đời sống người Việt Nam trong những tháng ngày đói kém

đủ phép màu để làm hai con mắt trũng hoáy của người phụ nữ đói sáng lên Có thể nói, tất cả những biểu hiện trên của thị suy cho cùng cũng là vì đói Cái đói trong một lúc nào đó nó có thể làm biến dạng tính cách của con người Có xót xa không khi tác giả buộc ta phải nghĩ: cái đói quay quắt nọ, té ra nó cũng có thể xe duyên cho một mối tình Nói đến điều này chắc chắn nhà văn thực sự xót thương và cảm thông cho cảnh ngộ đói nghèo của người lao động Kim Lân miêu tả cái thảm hại của một con người trong năm đói, nhưng ông không cố khoét sâu vào nỗi đau ấy mà chỉ lướt qua để người đọc đủ nhận thấy nhân cách của con người bị cái đói hủy hoại như thế nào Dưới ngòi bút giàu nhân ái, Kim Lân vẫn dành cho nhân vật của mình sự cảm thông

và trân trọng

Trang 9

- Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, người “vợ nhặt” lại có một lòng ham sống mãnh liệt Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được tồn tại Đó là ý thức bám lấy sự sống Khi anh cu Tràng nói đùa “có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về” thì người đàn bà kia lại im lặng sau câu đùa của Tràng Nói đúng hơn là thị đồng ý, đồng ý mà không hề do dự, phân vân Thị nào có biết Tràng là ai, tốt xấu như thế nào? Quê quán, gốc tích ra sao? Chỉ một câu hò bâng quơ và mấy bát bánh đúc là thị có thể theo ngay Tràng Phải chăng thị theo Tràng chỉ vì miếng ăn? Thị dễ dàng, hời hợt thế ư? Thực ra, hành động theo Tràng của thị xuất phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khao khát được sống Vì quá đói, không có nơi nương tựa đã phải bước qua tất cả để theo về làm vợ Tràng Cận kề bên cái chết, người đàn bà không hề buông xuôi sự sống Trái l ại, thị vẫn vượt lên trên cái ảm đạm để xây dựng mái ấm gia đình Niềm lạc quan, yêu sống của thị chính là một phẩm chất đáng quý Nói như Kim Lân: “Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai”!

người cùng cảnh ngộ trong nạn đói khủng khiếp Viết về nhân vật Tràng, Kim Lân đặt nhân vật vào một tình huống vừa kì quặc, vừa oái ăm, vừa bi hài nhưng nhà văn đã cảm thông, chia sẻ cùng nhân v ật để cất lên bài ca nhân bản mạnh mẽ, làm tha thiết lòng người về hạnh phúc đời thường Con người dù nghèo khổ đến đâu, họ vẫn có quyền mơ ước một gia đình hạnh phúc

*Người vợ nhặt: người đàn bà vì đói quá, không có nơi nương tựa đã phải bước qua tất cả để

theo Tràng về làm vợ chỉ bằng câu nói tầm phơ tầm phào Trong lời giới thiệu ban đầu, chúng

ta tưởng thị là một người chao chát, chỏng lỏn không còn biết xấu hổ là gì Nhưng kì thực, thị

là một số phận đáng thương Phía sau hình ảnh “cùng đường và liều lĩnh”, bạn đọc thực sự xúc động trước vẻ đẹp chiều sâu tâm hồn của thị, đó là một người người phụ nữ giàu nữ tính, giàu lòng tự trọng và có khát vọng sống mãnh liệt

*Đối với tác giả: qua hai lần gặp gỡ của nhận vật Tràng, Kim Lân thể hiện niềm cảm thông sâu

sắc trước hoàn cảnh bi đát của người nông dân Việt Nam trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 Nhà văn ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của họ Đó là khát vọng sống, đề cao tình thương, tình nghĩa con người trong tận cùng khổ đau vì đối diện với cái đói, cái chết đang rình rập Tác giả gửi gắm niềm tin vào người nông dân Chính khát vọng hạnh phúc gia đình sẽ làm nên sức mạnh để con người hướng về tương lai

*Đối với bạn đọc: nâng cao lòng yêu thương, khát vọng sống hạnh phúc xây dựng tổ ấm gia

đình…

Trang 10

Để nhận đầy đủ tài liệu, tham gia ngay lớp LUY ỆN ĐỀ CHIẾN LƯỢC 2022 của Học Văn cô Minh Hương Đăng kí tại:

Quét mã QR để đăng kí khoá học!

Ngày đăng: 08/12/2023, 16:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w