1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử giáo dục VN

41 616 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử giáo dục Việt Nam
Trường học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử giáo dục
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản Chưa rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 59,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai mục đích đầu là căn bản, mục đích thứ ba chỉ dùng để đối phó với sự đòi hỏi một nền giáo dục tiến bộ của người Việt trong tương lai mà thôi.Hệ thống giáo dục của nước Pháp đã được ng

Trang 1

MỞ ĐẦU.

Chính trị, kinh tế, quốc phòng đương nhiên là ba vấn đề trọng yếu, nhưng giáo dục lại căn bản và trọng yếu hơn vì muốn xây dựng, muốn chiến đấu thì trước hết phải biết đã

Nuôi con chẳng dạy chẳng răn

Thà nuôi lợn béo mà ăn bộ lòng

Người nông dân mộc mạc nơi điền dã mà còn đặt nặng vấn đề giáo dục đến thế huống hồ một quốc gia

“Đứa bé sinh ra đời phải được giao cho quốc gia và quốc gia sẽ nuôi nó trong một cơ quan chuyên giữ nhiệm vụ giáo dục Đứa bé không cần phải biết cha

mẹ nó là ai, nó chỉ biết nó là công dân của quốc gia mà thôi” Đó là lí tưởng quốc

về giáo dục của xã hôi Hy Lạp – La Mã cổ đại phương Tây

Một triết gia khác của Đức đã nói: “Giáo dục có thông qua quốc gia mới thành giáo dục, một dân tộc chỉ sau khi đã qua giáo dục quốc gia mới thành dân tộcđầy đủ sinh lực”

Muốn hiểu thấy ý nghĩa của dân tộc tinh thần thì phải tìm về lịch sử Nội dung xãhội dân tộc có: ngôn ngữ, đạo đức, chính trị, kinh tế, nghệ thuật và niềm tin, tất cả thường được gọi chung là tài sản văn hóa truyền từ đời nọ sang đời kia và không ngừng phát triển

Quá trình phát triển hay lịch sử đã đào tạo cho mỗi dân tộc một cộng đồng tri thức tình tự, ý chí, hành động truyền thống Bởi thế, hoạt động giáo dục chỉ có giá trị chân thực khi nó được đặt vào cơ sở dân tộc xã hội

Lịch sử là do sự đối lập giữa dân tộc này đối với dân tộc khác hoặc do sự xung đột gây nên bởi tình trạng bất bình hành giữa các thế lực nội bộ của dân tộc Bởi thế, hoạt động giáo dục chỉ có giá trị thực tiễn khi nó được đặt vào một trong hai đấu tranh đó

Giáo dục Tây phương ngày nay có ba đại loại:

Trang 2

Tôn giáo giáo dục

Quốc gia giáo dục

Cá nhân tự do giáo dục

Tuy trên lịch sử ba loại giáo dục này chống đối thay thế nhau nhưng trên thực tế,

cả ba vẫn phối hợp với nhau tồn tại

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ GIÁO DỤC VIỆT NAM

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống giáo dục lâu đời, phát triển ở thời xưa Vậy lịch sử giáo dục của đất nước hình thành và phát triển như thế nào, những chính sách cho tới những cải cách

Nền giáo dục Việt chính thức có hệ thống hẳn hoi bắt đầu từ đời Đinh-Lý

do Phật giáo nắm giữ Phật giáo đại thừa sang Việt Nam qua ngả Trung Quốc Sách Lĩnh Nam trích Quái ghi: “Lý Công Uẩn tức Lý Thái Tổ sau này, khi tuổi mới lên tám học ông sư ở chùa Tiêu Sơn”

Người Việt Nam làm quen với Phật giáo bằng những sách vở từ chữ Hán vào giữa lúc mà tôn giáo này đang phát triển mạnh tại Trung Quốc Rồi tự đó có tác dụng ngược lại, Phật giáo sang Việt Nam làm cho Hán học ở đây rực rỡ thêm lên

Lý Công Uẩn gốc gác chùa chiền nay lên ngôi thiên tử, lẽ đương nhiên Phật giáo phải được chuộng, phải được giữ phần vụ lãnh đạo tư tưởng

Ngay lúc mới lên ngôi vua, Thái Tổ đã ban áo mặc cho tăng lữ Sang năm sau lại trích ra hai vạn quan tiền để cất lên tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức Rồi ở trong và ngoài thành Thăng Long cũng dựng lên mấy chùa lớn như chùa Hưng Thiên, Vạn Tuế, Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ, Thiên Quang.v…

Sang năm thứ tám, Thái Tổ lại sai sứ thần sang Tàu xin kinh Tam Tạng Khi được vua Tống ban cho ông lại bắt một người Thiền sư tên là Phi Trí đi đến tận Quảng Tây đón về Cách hai năm sau, Thái Tổ lại độ hết bàn dân thiên hạ làm sư

Trang 3

và phát vàng bạc đúc mấy quả chuông để đem treo ở các chùa Hương Thiên, Đại Giáo Thắng Nghiêm Đến năm Thuận Thiên thứ 15, ngài lại xây chủa Chân Giáo ởtrong thành và bắt các sư vào đó tụng kinh rồi ngài thân hành đến nghe.

Vua Thái Tôn nhà Lý trong năm Thiên Thành thứ tư xây dựng vừa chùa vừa quán tất cả chín trăm rưỡi sở Đến năm Thiền Thụy thứ nhất lại đúc tượng Phật

ở Đại Nguyên đặt ở thềm rồng Sang năm Kiều Phú thứ hai, vừa vẽ vừa tạo mỗi đằng hơn một ngàn pho tượng và may hơn vạn lá phướn để đem phân phát cho các chùa Qua năm Sùng Hưng đại bảo thứ hai lại dựng lên chùa Diên Hựu và cho sư vào tụng kinh Rồi năm Long Thụy thứ ba lại cất ngôi chùa ở phường Báo Thiên

và xây lại một ngọn tháp 12 tầng cao vài chục trượng và phát hai vạn cân đồng đúcmột quả chuông

Đối với Phật giáo thì như thế, đối với Nho giáo nhà Lý chỉ có một lần xây Văn Miếu, đúc tượng Chu Công và vẽ tượng 72 học trò của Khổng Tử rồi bắt thờ cúng quanh năm và bắt Thái Tử tới đó mà học

Trải qua nhiều triều đại phong kiến tiếp theo trong lịch sử dân tộc nước nhà thì nền giáo dục không ngừng được cải thiện nâng tầm chất lượng, các kì thi tuyển chọn nhân tài cho đất được cũng thay đổi ít nhiều Bên cạnh những cuộc cải cách canh tân đất nước như của Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Quang Trung thì nên giáo dục cũng được cải cách cho phù hợp vs sự phát triển của triều đại

Đặc điểm chung của nền giáo dục Việt Nam dưới thời phong kiến là nền giáo dục Nho học ăn sâu thấm nhuần vào tư tưởng thư sinh và văn hóa Đại Việt

Như thế, ta đã biết nền giáo dục Nho học đã xuất hiện và phát triển trên đấtnước ta cũng được khoảng 1 ngàn năm

Mãi cho tới khi thực dân Pháp đô hộ nước ta cùng với những cải cách thì nên giáo dục Nho học dần bị xóa bỏ mà thay vào đó là nên giáo dục hiện đại

phương Tây

Trang 4

CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC VIỆT NAM TỪ KHI PHÁP TIẾN HÀNH CUỘC XÂM LƯỢC VÀO VIỆT NAM

I.Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta và sự can thiệp toàn diện đối với đất nước ta.

1 Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta

Tiếng súng kháng chiến của dân tộc ta bắt đầu từ mặt trận Đà Nẵng Sáng sớm 1/9/1858 chiến thuyền quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công của biển

Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.Thực dân Pháp chọn Đà Nẵng làm địa điểm tấn công đầu tiên vì Đà Nẵng có vị trí quân sự quan trọng, hải cảng rộng và sâu, thuận tiện cho tàu chiến triển khai Hơn nữa Đà Nẵng là cổ họng của Huế, dùng Đà Nẵng làm bàn đạp đánh kinh thành Huế, nếu chiếm được Đà Nẵng, người Pháp có khả năng chiếm ngay kinh thành Huế, sớm kết thúc chiến tranh

Vừa đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà, quân pháp đã vấp phải sức kháng cực của triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy Đồng thời nhiều đội quân nông dân cũng kéo tới phối hợp với quân triều đình đánh giặc Sau 5 tháng bị giam chân khó khăn chồng chất , buộc chúng phải rút khỏi Đà Nẵng Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh bị thất bại buộc chúng đi vào nam, mở mặt trận mới Gia Định

Ngày 10/ 2/ 1859, tàu chiến Pháp và Tây Ban Nha đã tới Vũng Tàu Chúng

mở đường ngược sông Cần Giờ, vấp phải sự kháng cự của quân dân ta, mãi 16/2 mới ngược được sông Bến Nghé vào đậu sát thành Gia Định Sáng hôm sau quân địch bắt đầu tấn công đến trưa thì chiếm được thành Gia Định(17/2)

Tháng 3/1960 Nguyễn Tri Phương được điều động từ Đà Nẵng vào chỉ huy mặt trận Gia Định Pháp dồn quân vào mặt trận gai định, bắt đầu tấn công đồn Phú Thọ Cuộc giao tranh diễn ra ác liệt, Nguyễn Tri Phương lệnh cho quân bỏ đồn, rút

về cố thủ(25/2/1861) Thừa thắng gia định chúng tấn công và lần lượt ba tỉnh miền

Trang 5

đông : (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) và một tỉnh tây nam kỳ: (Vĩnh Long), bịpháp chiếm.

Tuy nhiên phong trào nhân dân chóng Pháp diễn ra không ngớt, khẳng địnhlòng yêu nươc nồng nàn, sẵn sàng đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm

Cuối 1861 trận đánh của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu etpêrăng trên sông Nhật Tảo Và nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ bùng nổ Năm

1862, phong tào nông dân chống pháp dâng cao ở các quận, huyện thuộc hai tỉnh Gia Định và Định Tường Chính lúc này, triều đình huế lại kí hiệp ước 5/6/1862 cắt ba tỉnh miền đông mà đảo côn lôn cho Pháp cùng với những nhượng bộ nặng

nề khác Mục đích của triều đình Huế là muốn sớm bắt tay thực dân Pháp đẻ có thể rãnh tay đối phó với phong trào nông dân miền bắc đang trên đà phát triển

Sáng 20/6/1867 lấy cớ triều đình Huế bí mật ủng hộ nghĩa quân miền Đông chống pháp thực dân Pháp đưa thư đòi nộp thành Vĩnh Long Phan Thanh Giản nộp thành cho chúng sau đó, còn ra lệnh cho quân nộp hai tỉnh An Giang và Hà Tiên như vậy chỉ trong vòng 5 ngày( 20-24/6/1867) thực dân Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền tây

Ngay sau đó phong trào nhân dân kháng chiến chống Pháp dấy lên mạnh

mẽ tiêu biểu: khởi nghĩa Phan Tam – Phan Ngũ, khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực, khởi nghĩa Long Trì khiến cho quan pháp khiếp sợ Nhưng do triều dình cố tình

bỏ rơi, ngăn cản, thậm trí còn tiếp tay cho Pháp nên lần lượt các cuộc khởi nghĩa thất bại

11/1873 vừa đặt chân đến hà nội gácnie cho quân nổ súng thị uy 9/11 gửi tối hậu thư đòi nộp thành nhưng bị cự tuyệt Sáng 20/11 gácnie hạ lệnh nổ súng tấncông thành hà nội thừa cơ triều đình Huế tự hãm mình trong thế bị động , pháp đánh các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Phủ Lý, Ninh Bình, Nam Định trong vòng một tháng Nhưng quân dân Hà Nội và miền Bắc đứng lên tự động võ trang, tiến hành hoạt động đốt phá

Trang 6

Ngày 15/3/1874 tại Sài Gòn, một điều ước lại được ký với những điều khoảnbất lợi cho ta Triều đình Huế chính thức thừa nhận chủ quyền của pháp ở cả 6 tỉnhNam kỳ, nền ngoại giao Việt Vam lệ thuộc vào Pháp điều ước này đánh dấu sự phẫn nộ của nhân dân đới với triều đình nhà Nguyễn.

Pháp chiếm được Nam kỳ nhưng chúng muốn chiếm cả Việt Nam Tháng 3/1882 viện cớ triều đình huế vi phạm điều ước 1874 Pháp mang quân ra bắc Sáng 25/4/1882 Rivie gửi tối hậu thư cho Hòang Diệu Hạn trả lời chưa hết, chúng

đã nổ súng tấn công, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt Chiếm được thành Hà Nội lần hai, triều đình nhà Nguyễn lại tự hãm mình vào thế bị động

Sáng 18/8/1883 hạm đội Pháp tiến vào cửa biển Thuận An, đưa tối hậu thư buộc triều đình giao tất cả các pháo đài phòng thủ bờ biển cho chúng Quân ta kháng cự quyết liệt, tới chiều 20 quân Pháp mới đổ bộ được lên Thuận An được tinmất Thuận An Triều đình nhà Nguyễn xin đình chiến Và kí vào hiệp ước

Hắcmăng ngày 25/8/1883 Điều ước Hắcmăng là sự phản bội tệ hại nhất của triều đình Nguyễn đối với nhân dân ta nên nhân dân phán đối quyết liệt

Trên đà thắng thế, chính phủ Pháp cử Patơnốt đến huế ép triều đình kí vào điều ước mới 6/6/1884( điều ước Patơnốt)

2 Sự can thiệp và đô hộ của thực dân Pháp với nước ta:

 Kinh tế:

Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất 1897-1919:

Năm 1897 Pháp ép triều đình ký hiệp ước nhượng quyền khai khẩn đất hoang cho chúng Riêng nam kì và bắc kì tính đến 1915 địa chủ Pháp đã chiếm 470.000 hec ta lập đồn điền Quyền sở hữu tối cai về ruộng đất từ tay vua sang tay nhà nước bảo hộ Pháp

Chương trình khai thác thuộc địa của Đume chủ yếu là đầu tư vào kinh tế

để khẳng định vị trí của chủ nghĩa tư bản Pháp ở việt nam Mở đầu là ngành khai

mỏ xây dựng một số cở sở công nghiệp nhằm phục vụ đời sống của giới thực dân

Trang 7

như điện, nước ngoài ra còn mở mang giao thông, xây dựng đường xá, bến

cảng mục đích phục vụ cho kinh tế và cả quân sự

Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam, nắm nguồn thuế, độc quyền

thương mại và thuế quan thuế khóa là nét đặc trưng cho chính sách thực dân pháp ở Đông Dương, với hai thứ thuế là thuế đinh và thuế điền chính thuế khóa

đã đem lại một nguồn lợi cho Pháp

Chính sách khai thác, bóc lột về kinh tế của thực dân Pháp chủ trương không phát triển công nghiệp công nghiệp nặng, biến nước ta thành thị trường cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ hàng hóa cho chính quốc

Chính sách kinh tế của cuộc khai thác thuộc địa đã du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong quá trình khai thác đã tác động và làm cho kinh tếViệt Nam có những chuyển biến nhất định theo hướng tư bản Tuy nhiên mục đích

và âm ưu của Pháp chỉ duy trì giai cấp phong kiến, quan hệ sản xuất phong kiến cùng với phương thức bóc lột của nó nên kinh tế việt nam bị lệ thuộc và kìm hãm trong tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu

 Văn hóa - xã hội:

Về mặt xã hội, thực dân Pháp dung túng cho các tệ nạn xã hội: cờ bạc, mại dâm… Chúng còn gieo rắc tư tư tưởng sùng bái nước Pháp, coi nước Pháp là

“Mẫu quốc”, là người đi “khai hóa văn minh”, thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa – thể thao để lôi cuốn nhân dân ta đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên làm cho họ quên đi nỗi nhục mất nước

Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị

Văn hóa, giáo dục chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa “ngu dân”, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục hòng kìm chế dân ta trong cảnh ngu dốt để dễ bề cai trị, bóc

Trang 8

Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học Nếu có chăng nữa cũng chỉ là những cơ sở đào tạo ra đội ngũ tay sai cho chính quyền thực dân và những công nhân lành nghề phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa

Những chính sách giáo dục của pháp mang tính thực dân Chúng mở một sốtrường quốc ngữ, chữ pháp để dạy kiên thức phổ thông, một số trường dạy nghề, trường y, trường sư phạm chúng cố gắng thay thế suự ảnh hưởng củahán học bằng thiêt lập nền giáo dục tây phương để đào tạo ra lớp công chức, nhân viên cần thiết cho bộ máy chính trị, kinh tế thực dân

 Chính trị:

Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn Chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.Thực dân Pháp tiếp tục củng cố bộ máy chuyên chế, tập trung toàn bộ quyền lực vào tay người Pháp Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng giai cấp phong kiến Việt Nam làm công cụ đắc lực phục vụ những mục tiêu do chúng đưa ra

Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu

Thực dân pháp sử dụng chính sách “Chia để trị” một cách toàn diện hònglàm suy giảm sức mạnh đoàn kết của dân tộc ta, ngăn chặn sức mạnh đấu tranh củanhân dân ta Chúng chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng (Chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ, chế độ bảo hộ ở Trung Kỳ và chế độ nửa bảo hộ ở Bắc Kỳ), nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ

và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo

Trang 9

Đông Dương.

Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam

Cuộc khai thác thuộc địa của Pháp cũng đã tác động làm phân hóa giai cấp xã hội cũ, làm nảy sinh những lực lượng xã hội mới

Giai cấp địa chủ phong kiến phân hóa thành hai bộ phận : một là đại địa chủ giàu lên nhờ dựa Pháp, chống cách mạng Hai là bộ phận lớn gồm trung và tiểuđịa chủ, bị đế quốc chèn ép, đụng chạm dến quyền lợi nên có ít nhiều có tinh thấn dân tộc

Giai cấp nông dân là đối tượng bị bóc lột chính chính của đế quốc và địa chủ phong kiến Họ khốn khổ bởi nạn thuế khóa, địa tô này lại thêm nạn cướp đất lập đồn điền, xây dựng nhà máy của thưc dân đói khổ Vì vậy, họ tràn về các thànhthị đến các công trường, hầm mỏ, đồn điền để kiếm sống Do đó, họ có mối thâmthù sâu với đế quốc, phong kiến và có tinh thần đấu tranh, là lực lượng cách mạng

to lớn

Từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, ra đời một giai cấp nhất mới - giai cấp công nhân Họ là người lao động làm trong các hầm mỏ, đồn điền và công trường giai đoạn này giai cấp công nhân vẫn còn non trẻ, đang ở trình độ tự phát, đấu trang nhằm mục đích kinh tế

Việc xây dựng thành phố, cầu cống, đường xá cần những người chủ thầu thuê mướn công nhân những người làm việc này có tài khéo léo của mình trở thành những nhà tư sản Trở thành nhà tư sản còn những chủ xưởng thủ công, những nhà buôn giàu có lên họ lập công ty, tổ chức hội buôn Ngoài ra, phải kể đếnnhững sĩ phu yêu nước, đứng ra lập hội buôn, tổ chức sản xuất Đó là những lớp người đầu tiên của giai cấp tư sản Việt Nam

Một tầng lớp cũng xuất hiện trong thời gian này là giai cấptiểu tư sản Thành phần khá phức tạp Đó là tiểu chủ sản xuất và buôn bán hàng thủ công truyền thống, những tiểu thương, dân nghèo thành thị Nhưng quan trọng hơn là số

Trang 10

công nhân viên chức làm việc trong các cống cở và sở tư, những nhà tri thức, nhà văn, nhà báo, sinh viên , học sinh.

Chính sách kinh tế, cuộc khai thác thuộc địa thứ nhất đã làm cho Kinh tế việt nam có những chuyển biến đồng thời, mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội việt nam trở nên gay gắt

Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Trong đó đặc biệt

là sự ra đời hai giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phận người bị mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giaicấp địa chủ phong kiến, đã nẩy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho nhân dân, tự do cho nhân dân;hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành lại dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu

3 Giáo dục Việt Nam từ khi Pháp xâm lược tới cuối thế kỉ XIX

Năm Nhâm Tuất 1862 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm 3 tỉnhGia Định, Định Tường và Biên Hòa Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên Hòa ước năm Giáp Tuất

1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ Nam Kỳ trở thành thuộc địa (colonie) của Pháp

Hai hòa ước năm Quí Mùi 1883 và Patenôtre năm Giáp Thân 1884 công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thành đất bảo hộ (protectorat) của Pháp Ở miền Bắc, trên danh nghĩa, triều đình Huế còn quyền hành nhưng trên thực tế mọi việc do người Pháp điều khiển Trung

Trang 11

Kỳ do triều đình Huế cai trị nhưng được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Pháp.

Khi đô hộ Việt Nam, nhu cầu cấp bách của người Pháp là phải hủy diệt nềnNho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho guồng máy cai trị

Do đó, chiếm được Nam Kỳ xong là người Pháp lập tức khai tử nền giáo dục Nho học Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm) Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ

Nhìn thấy quá khứ Việt Nam nặng về Hán học, chủ tâm của người Pháp là muốn cắt đứt liên lạc văn hóa giữa người Việt với người Tàu Để đạt mục đích hướng tinh thần người Việt về với Pháp, chữ Hán cũng như chữ Nôm cần phải triệt

bỏ và thay thế bằng chữ Pháp, còn văn tự cho tiếng nói người bản xứ nếu cần đã cóchữ quốc ngữ cùng một họ mẫu tự La Tinh Năm 1865, phủ Sài Gòn cho ra đời tờ Gia Định Báo là tờ Công Báo đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ Trong tinh thần ấy, trước tiên người Pháp dựng lên những cơ sở văn hóa để truyền bá chữ Pháp và chữ quốc ngữ Đáp ứng nhu cầu cấp bách trong thời gian đầu Pháp thiết lập các trường đào tạo thông ngôn Ngày 8/5/1861 Đô Đốc Charner ký nghị định lập trường

Collège d'Adran để đào tạo thông ngôn người Việt và cho cả người Pháp muốn họctiếng Việt Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) được thiết lập ở Sài Gòn năm 1864, ở Hà Nội năm 1905 Pháp còn thiết lập các Trường Hậu Bổ (chuẩn bị

bổ ra làm quan Apprenti Mandarin) ở Hà Nội năm 1903 và ở Huế năm 1911 Đây

là những bước đầu trong việc thiết lập một nền giáo dục của Pháp

Khi xây dựng nền giáo dục thay thế Nho giáo, người Pháp có ba mục đích Mục đích quan trọng nhất nhằm đào tạo lớp người thừa hành chính sách của Pháp

là cai trị và khai thác ở Việt Nam và cả Đông Dương Tầng lớp này bao gồm các viên chức trong các ngành hành chánh, giáo dục, y tế và xây dựng Thứ đến là truyền bá tư tưởng Pháp, lòng biết ơn sự khai hóa của Pháp và sự trung thành với Pháp Cuối cùng với mục đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục

Trang 12

của Pháp ở Việt Nam là văn minh và tiến bộ Hai mục đích đầu là căn bản, mục đích thứ ba chỉ dùng để đối phó với sự đòi hỏi một nền giáo dục tiến bộ của người Việt trong tương lai mà thôi.

Hệ thống giáo dục của nước Pháp đã được người Pháp ở Việt Nam điều chỉnh và thêm bớt cho phù hợp với ba mục đích trên cũng như để thích hợp với thực tế ở Việt Nam Đây là hệ thống Giáo Dục Pháp Cho Người Bản Xứ" (Enseignement Franco-Indigène), thường được gọi là Giáo Dục Pháp-Việt Trong nền giáo dục này tiếng Pháp là chuyển ngữ tức tiếng Pháp được dùng để trao đổi trong lớp học (giảng bài, làm bài, sách giáo khoa viết bằng tiếng Pháp) Riêng ba lớp tiểu học đầu là được dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, sau đó tiếng Việt được học như một ngoại ngữ Ngoại ngữ thứ hai thường là tiếng Anh ở bậc Tú Tài Chữ Hán được học theo tự nguyện một tuần một giờ ở các lớp trên của bậc tiểu học nếu có thày dạy

Để điều hành, Pháp thiết lập tại mỗi kỳ một Sở Giáo Dục Cho Người Bản Xứ (Service de L'Enseignement Local) do một Chánh Sở (Chef de Service) người Pháp đứng đầu Các cơ sở giáo dục này đặt trực thuộc tòa Khâm Sứ Mọi sự bổ nhiệm, thuyên chuyển, thăng thưởng, kỷ luật các giáo chức từ bậc tiểu học trở lên đều phải do khâm Sứ quyết định Khi Pháp thành lập liên bang Đông Dương (gồm Bắc, Trung, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào), một số việc phải được Toàn Quyền ĐôngDương (Gouverneur de l'Indochine) chuẩn y Nha Học Chính Đông Pháp

(Direction de l'Instruction Publique de l'Indochine) ra đời do một Giám Đốc người Pháp chỉ đạo trực tiếp 5 sở giáo dục của liên bang Đông Dương

4 Những đề nghị và xu hướng cải cách của các sĩ phu yêu nước

Sự nhu nhược, bả thủ của triều đình phong kiến đã lỗi thời.Nguồn nhân lực tài chính bị cạn kiệt do chiến tranh

Chế độ phong kiến và những hệ tư tưởng của nó đã tồn tại hàng ngàn năm

ở Việt Nam, không dễ gì thay đổi

Trang 13

Các bản điều trần còn bộc lộ ít nhiều hạn chế, chưa suy xét đến tình hình nước ta thời bấy giờ, thiếu tính khả thi, mang tính cá nhân, xa rời nhân dân.

Tình hình xã hội rối ren, không ổn định, giữa triều đình và nhân dân không

có tiếng nói chung, tình đoàn kết dân tộc bị rạn nứt

Chưa giải quyết được hai mâu thuẫn hàng đầu của xã hội bấy giờ : Đó là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt nam và thực dân Pháp, giữa nông dân và địa chủ phong kiến

Chính những nguyên nhân đó đã làm cho các sĩ phu yêu nước thời bấy giờ nhận thức rõ được tình hình nguy cấp của đât nước là phải cải cảnh về mọi mặt và cải cách về giáo dục là một trong những cải cách quan trọng của đât nước

Mở đầu cho những xu hướng cải cách giáo dục của các sĩ phu yêu nước thời bấy giờ là Nguyễn Trường Tộ với những bản điều trần dâng vua Tự Đức trong

đó có những cải cách về giáo dục Nguyễn Trường Tộ từ nhỏ học Hán học, ông học rất giỏi nhưng ông không theo con đường khoa cử Mãi đến năm mười tám, muời chín tuổi, ông mới bắt đầu tiếp xúc với văn hoá Tây phương, trước tiên là quacác giáo sĩ thừa sai người Pháp, chủ yếu là giám mục Gauthier Sau đó, Nguyễn Trường Tộ cũng đã có dịp đi ra nước ngoài, qua các nước Đông Nam Á vào nhữngnăm 1858-1859 và các nước Tây Âu vào năm 1866, ở đó, ông đã được đọc sách báo của Tây phương, băng tiếng Pháp, tiếng Anh và các sách báo Tây phương đã được dịch ra tiếng Trung Quốc Nhờ đó mà Nguyễn Trường Tộ đã có một kiến thức khá rộng lớn về tình hình thế giới, về văn minh châu Âu, về khoa học kỹ thuậtcũng như về khoa học xã hội của Tây phương “Nhìn lại sự học của ta ngày nay, những điều thầy dạy học trò đều là những chuyện xa xưa…ngày nay chẳng ai theo nữa… Lúc nhỏ học thiên văn, địa lý, chính sự bên Tàu (mà nay họ đã đổi khác hết rồi), lớn lên, ra làm việc thì lại dùng địa lý, thiên văn, chính trị, phong tục nước Nam, hoàn toàn khác hẳn…Nước ta đâu phải là nước phụ dung của nước Tàu mà

cứ học sách Tàu là chính…”;“Ngày nay, cái mà nước mình quý trọng là Nho Mà

Trang 14

Nho thì quý trọng ở nhiều văn chương, chữ nghĩa Nếu như lấy cái công phu bền bỉdùi mài chữ nghĩa văn chương mà học lấy cái phong phú vô vàn của tạo vật thì sẽ được biết bao điều quý báu”.

Về chương trình học tập, Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị đưa vào thêm một

số khoa như nông nghiệp, luật, xúc tiến học tập kĩ thuật phương Tây, cần dạy ngoạingữ tiếng Anh, Pháp, tiếng Tây Ban Nha, Trung Quốc, Ông cũng không phải sùng bái mù quáng trước khoa học kĩ thuật phương Tây

Nguyễn Trường Tộ còn đề nghị triều đình mở trường Quốc học, tinh học theo mô hình phương Tây có phòng thì nghiệm, có kí túc xá Ngoài ra, ông còn đềnghị cải cách cae chữ viết

Nối gót những cải cách của Nguyễn Trường Tộ, phong trào cải cách duy tân đất nước của các sĩ phu yêu nước ngày càng phát triển mạnh như Nguyễn Lộ Trạch, phong trào Duy Tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thúc với các nhân vật tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh

Công cuộc mục đích các cuộc cải cách của các sĩ phu yêu nước là mong đấtnước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, yếu kém, thoát khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp, cải thiện hệ thống giáo dục nước nhà, nâng cao trình độ dân trí để đấu tranh

Đặc điểm chung của các cuộc cải cách do các văn thân sĩ phu yêu nước là đều hướng tới là cải cách nên giáo dục, phong trào đưa học sinh xuất ngoại mà chủ yếu là Nhật Bản để học tập công cuộc cải cách của họ về giúp đất nước

Những cuộc cải cách của họ đều không thể thực hiện được một phần do chính sáchbảo thủ của triều đình nhà Nguyễn vì lợi ích dòng họ đặt lên trên lợi ích dân tộc, một phần do bị thục dân Pháp đan áp nên những cải cách không thực hiện được

Đánh giá những đề nghị cải cách về giáo dục của Nguyễn Trường Tộ và các văn thân sĩ phu yêu nước ta đều thấy được lòng yêu nước nồng nàn của họ, biết

lo cho vân mệnh của dân tộc, cái nhìn thực tế sâu sắc, bộ óc tinh thông sáng suốt, những suy nghĩ thông minh tiên tiến, nghị lực và dũng khí phi thường, dám nói,

Trang 15

dám làm của họ trước chế độ bảo thủ nhà Nguyễn và bọn xâm lược thực dân Pháp Nhìn lại những cải cách về giáo dục của họ, chúng ta sẽ rút ra được những bào học

bổ ích cho sự nghiệp cải cách giáo dục mà chúng ta đang tiến hành và điều chỉnh

để nhanh chóng góp phần đổi mới đất nước

II HAI CUỘC CẢI CÁCH VỀ GIÁO DỤC CỦA THỰC DÂN PHÁP

Ở VIỆT NAM

1 Cuộc cải cách giáo dục lần thứ 1-1906.

Sau khi chiếm xong Nam Kỳ (1867), người Pháp xác lập quyền thống trị củamình, biến Nam Kỳ thành thuộc địa của Pháp - xứ Đông Pháp Đứng đầu Nam Kỳ thuộc Pháp là Thống đốc Nam Kỳ và bên dưới là các chủ tỉnh người Pháp để tiến hành cai trị thuộc địa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Người Pháp thấy rất rõ tầm quan trọng của giáo dục nên, ngay “sau khi người lính đã hoàn thành sự nghiệp của mình thì đến lượt người giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ”, đã tiến hành áp dụng nền giáo dục phương Tây vào Việt Nam Đứng trước tình hình giáo dục Nho học đã tồn tại và trở thành hình thức giáo dục chính của Việt Nam hơn mười thế kỷ qua, người Pháp phải đứng trước lựa chọn khôn khéo trong việc sử dụng giáo dục như một công cụ thống trị, vừa áp đặt nền giáo dục mới vừa từng bước hạn chế, đi đến xóa bỏ hoàn toàn nền giáo dục phong kiến, “biến người bị trị thành người Pháp về mặt văn hoá”

Paul Beau, khi đến Hà Nội cũng đã ra lời kêu gọi đầy "thiện chí" rằng:

“Người Pháp đến đây là để nâng cao đời sống nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế

và còn nâng cao cả đời sống tinh thần bằng giáo dục” Bước đầu Paul Beau vẫn cho mở thêm những trường Pháp – Việt với chương trình khá đơn giản như chữ Pháp không sa lầy vào ngữ pháp, phải dạy nhiều từ vựng có liên quan đến công việc làm Lên các lớp trên học sinh đã hiểu biết ít nhiều tiếng Pháp thì sẽ được đào tạo thành thông ngôn và công chức Về việc dạy chữ Quốc ngữ, Paul Beau cũng hết sức quan tâm Đối với chữ Hán, Paul Beau không chủ trương xoá bỏ, nhưng

Trang 16

việc dạy phải tuỳ theo từng loại trường Và trước mắt cần làm cho các Nho sỹ nhậnthức được rằng họ phải biết tiếng Pháp, hiểu biết người Pháp, còn người Pháp cũngphải học tiếng "bản xứ" để hiểu biết người dân mình cai trị Để đạt được mục tiêu này Paul Beau cũng gợi ý cần thành lập các trường học ở những trung tâm hành chính cho các thông ngôn, công chức và cả hạ sỹ quan trong quân đội Pháp đến làm giáo viên.

1.1 Nguyên nhân và mục tiêu dẫn đến cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam năm 1906.

Thứ nhất, thực dân Pháp muốn xây dựng một nền văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa phương Tây ở Việt Nam Tuy nhiên, kế hoạch dùng văn hóa Pháp để cai trị người Việt đã gặp phải sự chống đối của quần chúng nhân dân Ngoài ra, phong trào đấu tranh chống sự xâm lược của thực dân Pháp bởi các tầng lớp nhân dân vẫn diễn ra và ngày càng mạnh mẽ, do đó thực dân Pháp phải tập trung vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân; vì thế thực dân Pháp không thể tiến hành tổ chức giáo dục một cách có hệ thống trong một khoảng thời gian khiến cho giáo dục Việt Nam ở cả ba xứ không đồng bộ và thống nhất

Đến 1905, tổ chức giáo dục ở Việt Nam tồn tại dưới ba hình thức:

Ở Nam Kỳ, đa số các tổng xã đều có trường tiểu học Pháp – Việt dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, chữ Hán hầu như bị bãi bỏ Bên cạnh đó, còn có các trườngtrung học được thực dân Pháp mở về sau như Chasseloup Laubat, Adran,…

Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ số trường dạy Pháp ngữ và Quốc ngữ rất ít và chủ yếu là để đào tạo các thông dịch viên và một số viên chức trình độ thấp; riêng ở Trung Kỳ, chữ Hán vẫn được xem là ngôn ngữ giảng dạy chính trong các trường học

Thứ hai, sau khi bình định và đưa chính trị đi vào ổn định, cần phải có một đội ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật có trình độ cao hơn để phục vụ cho công cuộc khai thác kinh tế của thực dân Pháp Và cũng cần phải có một chế độ giáo dục

Trang 17

phù hợp đối với một đất nước có nền văn hóa phương Đông lâu đời như Việt Nam tiếp xúc được với nền văn hóa phương Tây còn xa lạ

Thứ ba, Giáo dục Pháp – Việt không áp đảo nổi nền giáo dục chữ Hán, ngược lại còn đi ngược với ý muốn của họ “vì những gánh nặng về tài chính ngày càng gia tăng ở các làng xã nên số lớn trường công (trường Pháp – Việt) ngày càngbiến đi mà những trường tư (trường dạy chữ Hán của các thầy đồ) lại phát triển Nếu như những trường tư phát triển thì họ không thể kiểm soát được công cuộc

“chinh phục tinh thần” để phục vụ cho việc khai thác thuộc địa” Chưa kể các nho

sỹ dùng nghề dạy học để tuyên truyền tinh thần yêu nước trong nhân dân

Thứ tư, không cải cách giáo dục sẽ không điều hòa được những mâu thuẫn giữa những người học trường Pháp – Việt (tân học) là những người cũng có công trong việc truyền bá tư tưởng văn hóa mới vào Việt Nam so với phái cựu học, những người sau khi đỗ đạt sẽ ra làm quan, và con đường công danh dường như vẫn còn rộng mở hơn so với những người theo lối học mới: “chúng tôi vẫn là những người thấp kém về mặt xã hội đối với những nho sỹ hạng thấp nhất”

Ngoài ra, các nước như Trung Quốc và Nhật Bản đã tiến hành cải cách giáo dục truyền thống sang một nền giáo dục mới Do đó, “Người Annam với sự tiếp xúc với người Pháp đã làm quen với những phát minh hiện đại mà họ đã xác nhận một cách công khai những tiến bộ đó cũng đòi hỏi phải có một nền giáo dục thích hợp hơn với thời đại của họ”

1.2 Nội dung cải cách.

Từ khi bắt đầu xâm chiếm Việt Nam, người Pháp đã đặt nền móng cho một nền giáo dục mới, nền giáo dục phương Tây, ở đây Khởi đầu bằng việc thiết lập sởhọc chính (Service de l’Intruction Publique) ở Nam Kỳ (1879) và đặt chương trình giáo dục hệ Pháp – Việt với mục đích loại bỏ dần nền giáo dục Hán học ở Nam

Kỳ Năm 1904, thực dân Pháp tiếp thục thiết lập chương trình giáo dục tại Bắc Kỳ

và sau đó là Trung Kỳ (năm 1906) Nhưng nền giáo dục mới đặt ra này đã không

Trang 18

mang lại một kết quả như người Pháp mong đợi và cũng không mang lại một sắc màu mới cho nền giáo dục Việt Nam.

Do đó, khi lên làm toàn quyền, Paul Beau (làm toàn quyền 1902 – 1907), là một nhà ngoại giao, chính trị và là một nhà giáo dục người Pháp, đã có chủ trương:

“lấy lòng giai cấp thượng lưu Việt Nam bằng việc chinh phục tinh thần và tuyên bố

đã đến lúc phải thay thế chính sách thống trị bằng chính sách liên hiệp” Một trong những chính sách liên hiệp mà Paul Beau thực hiện đó là việc thiết lập hệ thống giáo dục tại Việt Nam

Ngày 8 tháng 3 năm 1906, Paul Beau ra nghị định thiết lập “Hội đồng hoàn thiện nền giáo dục bản xứ” (Conseil de Perfectionement de l’Enseignement

Indigène) Nhiệm vụ của hội đồng bao gồm:

Nghiên cứu mọi vấn đề có liên quan đến việc thiết lập hoặc cải tổ lại nền giáo dục đối với người bản xứ, đặc biệt cần quan tâm đến những vấn đề như: Lập lại các trường dạy chữ nho ở Nam Kỳ, sửa đổi lại chương trình thi Hương ở Bắc

Kỳ và Trung Kỳ nhằm đưa tiếng Pháp và khoa học sơ đẳng vào chương trình Hoàn thiện nền giáo dục trong các chùa chiền ở Cambodia và Laos, tạo điều kiện

để thiết lập một trường cao đẳng cho dân các nước Đông Dương

Duyệt các sách giáo khoa, từ điển, từ vị, v.v…

Lập kế hoạch và theo dõi việc xuất bản từ tập san của ngành giáo dục

Nghiên cứu, thu thập, bảo quản, và nếu cần, cho tái bản những tác phẩm cổ đại, cận đại về văn học, triết học, lịch sử của các nước Đông Dương

Ngày 25 tháng 8 năm 1906, Hội đồng hoàn thiện nền giáo dục bản xứ đã trình toàn quyền “Bản quy chế giáo dục 1906” về những cải cách cần phải thực hiện ngay đối với nền giáo dục của Việt Nam để định lại hệ thống trường lớp và đưa tiếng Pháp phổ cập vào giáo dục Cuộc cải cách được tiến hành trên các

trường, các cấp học; bao gồm:

Hệ thống các trường Việt truyền thống

Trang 19

Để mở được trường Ấu học, yêu cầu mỗi làng phải có 60 trẻ nam độ tuổi từ

6 đến 12 tham gia học với một giáo viên phụ trách; nếu một làng không có đủ 60 trẻ nam tham gia học thì gộp lại chung với các làng khác để mở trường Trường ấu học sẽ do làng xã quản lý và mọi chi phí cho việc duy trì sự tồn tại của trường cũng

do ngân sách của làng xã chi trả

Các trường Ấu học cũng thường xuyên được kiểm tra bởi các giáo thụ, huấn đạo, Đốc học, tri phủ hay tri huyện hoặc của nhân viên sở giáo dục

Giáo dục bậc Ấu học bao gồm 2 phần: Tiếng Việt và tiếng Hán Học sinh có thể lựa chọn học tiếng Việt hoặc tiếng Hán

Ở phần tiếng Hán, chương trình chủ yếu tập trung dạy tiếng Hán, các bài học

về đạo đức, lịch sử, dịa dư Việt Nam bằng tiếng Hán

Phần tiếng Việt chủ yếu dạy chữ Latinh, các kiến thức căn bản về Đông Dương, hành chánh, phong tục tập quán, toán học,…

Để kết thúc chương trình bậc Ấu học, học sinh phải trải qua một kỳ thi gọi là

“hạch tuyển”, nếu đậu sẽ được cấp bằng “tuyển sinh”

Đối với mỗi giáo viên giảng dạy trong bậc Ấu học yêu cầu phải biết chữ Quốc ngữ, nếu không sẽ không được giảng dạy Chữ Quốc ngữ cho giáo viên được chính quyền tổ chức dạy tại trung tâm mỗi tỉnh

Bậc Tiểu học (cấp II)

Trang 20

Trường tiểu học được mở tại huyện và phủ của mỗi tỉnh do các giáo thụ, huấn đạo chịu trách nhiệm Chi phí để duy trì trường sẽ do tỉnh chi trả Các học sinh đã đỗ trong kỳ thi “hạch tuyển” (có bằng “tuyển sinh”) mới được nhận vào học trong bậc tiểu học.

Chương trình tiểu học bao gồm hai phần bắt buộc: tiếng Hán và Tiếng Việt Tiếng Pháp là không bắt buộc nhưng cũng khuyến khích học sinh học tiếng Pháp

Chương trình học tiếng Hán bao gồm các môn về đạo đức, văn học cổ điển, lịch sử Trung Hoa và Việt Nam

Chương trình học tiếng Việt bao gồm các môn tiếng Việt, khái quát lịch sử, địa lý và khoa học

Để kết thúc chương trình bậc tiểu học, học sinh phải trải qua một kỳ thi gọi

là “khảo khóa” (chỉ những người nào có bằng tuyển sinh và dưới 22 tuổi mới được

dự thi kỳ thi này) và sẽ được cấp bằng “khóa sinh”

Chương trình thi gồm ba bài viết bắt buộc:

Một bài Hán văn về đạo đức, lễ nghĩa hoặc lịch sử Trung Hoa, lịch sử Việt Nam

Một bài Việt văn về lịch sử, địa lý hoặc khoa học

Một bài dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng Hán.Ngoài ra các thí sinh có thể tham gia vào một bài thi phụ bằng tiếng Pháp, thông thường là bài dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt Điểm sẽ được cộng thêm vào điểm các môn thi

Các khóa sinh đâu cao sẽ được miễn 3 năm sưu dịch Và cũng từ cuộc cải cách này, những người nào tốt nghiệp tiểu học và biết chữ Quốc ngữ mới được nhận vào làm trong các cơ quan nhà nước

Lớp học chữ Quốc ngữ sẽ được tổ chức tại trung tâm mỗi tỉnh, do các huấn đạo và giáo thụ phụ trách

Bậc Trung học

Ngày đăng: 21/06/2014, 10:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16.Phan Trọng Báu (2008), “Nhìn lại hai cuộc cải cách giáo dục (1906 và 1917) ở Việt Nam đầu thế kỷ XX”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại hai cuộc cải cách giáo dục (1906 và 1917) ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
Tác giả: Phan Trọng Báu
Năm: 2008
1. Phan Trọng Báu (1994), Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
2.Nguyễn Hải Kế (2010), Giáo dục Thăng Long – Hà Nội, quá trình, kinh nghiệm lịch sử và định hướng phát triển, Nhà xuất bản Hà Nội Khác
3.Nguyễn Quang Thắng (1998), Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Khác
4.Nguyễn Quang Thắng (1994), Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin Khác
5.Bùi Minh Hiền (2005), Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Khác
6.Nguyễn Thị Thùy Dung (2009), Tìm hiểu về cải cách giáo dục ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh Khác
7. Nguyễn Công Lý (2011), Giáo dục khoa cử và quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời thuộc Pháp, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Khác
8.Nguyễn Thế Anh (2008), Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, Nhà xuất bản Văn học, 2008 Khác
9.Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 96 (3-1967), dẫn theo Nguyễn Đăng Tiến (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 - 1945, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
10.Nguyễn Đăng Tiến (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng 8/1945, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Khác
11.Phan Ngọc Liên (2006), Giáo dục và khoa cử Việt Nam, Nhà xuất bản Từ Khác
12.Philippe Devillers (2006), Người Pháp và người Annam bạn hay thù, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Khác
13.Doãn Chính (2011), Tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật Khác
14.Đoàn Huy Ánh (2004), Sơ lược lịch sử giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Khác
15.Đinh Xuân Lâm (chủ biên, 2006), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II, Nhà xuất bản Giáo dục Khác
17.Đào Duy Anh (2010), Việt Nam văn hóa sử cương, Nhà xuất bản Thời Đại Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình học - Lịch sử giáo dục VN
Hình h ọc (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w