1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề Cương Ôn Tập Luật Hình Sự Ii.docx

9 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Ôn Tập Luật Hình Sự II
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 24,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương ôn tập Luật Hình sự II Câu 1 Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội phản bội tổ quốc theo quy định tại Điều 108 BLHS? Khách thể Khách thể của tội phản bội Tổ quốc Trong các tội xâm phạm an ni[.]

Trang 1

Đề cương ôn tập Luật Hình sự II Câu 1 Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội phản bội tổ quốc theo quy định tại Điều 108 BLHS?

Khách thể

Khách thể của tội phản bội Tổ quốc Trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia, phản bội Tổ quốc là tội nguy hiểm nhất, nó xâm hại đến quan hệ xã hội, có tầm quan trọng đặc biệt đó là độc lập, chủ quyền, thông nhât và toàn ven lành thổ của Tổ quốc, xâm hại đến lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và đến

sự tồn tại của Nhà nước Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam Như vậy, khách thể của tội phản bội chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực Tổ quốc được Nhà nước bảo vệ là “Độc lập, lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ

nghĩa”

Mặt khách quan

Được thể hiện ở hành vi của công dân Việt Nam câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thông nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị cơ sở quốc phòng, sự tôn tại và vững mạnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hành vi cầu kết với nước ngoài được hiểu là quan hệ qua lại chặt chẽ giữa người phạm tội với người nước ngoài và thường được thể hiện ở một trong những hành vi sau:

– Bàn bạc với nước ngoài về âm mưu chính trị nhằm chống phá Nhà nước hoặc các vấn đề khác như: chủ trương, phương thức, kế hoạch hoạt động trước mắt cũng như lâu dài gây phương hại cho nên độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc

– Nhận sự giúp đỡ của nước ngoài về vật chất như tiên bạc, vũ khí, đạn dược, phương tiện kỹ thuật, và các lợi ích vật chất khác phục vụ cho việc chống phá Nhà nước

Trang 2

– Hoạt động dựa vào các thể lực nước ngoài, hoặc tiếp tay cho nước ngoài

chống lại Tổ quốc như dùng lãnh thổ nước ngoài làm hậu phương, căn cứ địa bàn để hoạt động hoặc tiếp tay, tạo điều kiện cho nước ngoài tiến hành các hoạt động chống lại độc lập chủ quyền, thống nhất toàn ven lãnh thổ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Như vậy, mặt khách quan của tội phản bội

Tô quốc là một yếu tố quan trọng trong cấu thành tội phạm, nhờ đó mà có thể phân biệt được tôi phản bội Tổ quốc với các tội danh khác trong nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia

Chủ thể của tội phản bội Tổ quốc

Chủ thể của tội phản bội Tổ quốc phải là công dân Việt Nam, tức là người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam Người nước ngoài không phải là chủ thể của phản bội Tổ quốc (đây là một trong những điểm khác biệt so với tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

Mặt chủ quan

Tội phản bội Tổ quốc được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp với mục đích gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, khả năng quốc phòng, sự tồn tại và vững mạnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là dấu hiệu bắt buộc phải xác định rõ, người thực hiện hành vi nghiêm trọng có thể chỉ nhăm vào một vài mục tiêu nói trên, nhưng nói chung là thay đổi chế độ kinh tế – xã hội của đất nước, lật đổ chính quyền nhân dân, nội dung quan trọng nhất cua mục đích chống chính quyền nhân dân Mục đích phạm tội là chống chính quyền nhân dân, thay đổi chế độ chính trị kinh tế của đất nước, lật đổ chính quyền nhân dân Tuy nhà làm luật không nêu ra dấu hiệu mục đích chống chính quyền nhân dân hoặc chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng việc thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong điều luật đã thể hiện rõ ràng mục đích chống chính quyền nhân dân

Trang 3

Câu 2 Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo quy định tại Điều 109 BLHS?

Khách thể của tội phạm

Hành vi phạm tội này nhằm lật đổ chính quyền nhân dân Chính quyền là bộ máy điều hành, quản lý công việc của nhà nước Một đất nước muốn phát triển

ổn định, cần một chính quyền vững mạnh Do đó hành vi nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là hành vi xâm phạm sự tồn tại của chính quyền nhân dân, xâm phạm đến Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Khách thể của tội phạm này là

sự ổn định, vững mạnh của chính quyền nhân dân

Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hoạt động “thành lập hoặc tham gia

tổ chức” nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, lật đổ chính quyền từ trung ương đến địa phương của nước Việt Nam

- Hoạt động thành lập tổ chức biểu hiện qua hành vi của những người đề xướng, lôi kéo, vạch kế hoạch, thành lập tổ chức, lôi kéo người khác vào tổ chức nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân

Tổ chức ở đây là tổ chức phản cách mạng, nhằm chống chính quyền Đây là một dạng đồng phạm có tổ chức, các thành viên có mối liên hệ chặt chẽ, hoạt động theo một kế hoạch thống nhất bao gồm các hành vi chuẩn bị thành lập tổ chức, chỉ huy, điều hành các hoạt động,

- Tham gia tổ chức là hành vi gia nhập tổ chức, khi đó người tham gia biết rõ mục đích của tổ chức đó là chống chính quyền nhân dân, khi gia nhập họ tán thành và tích cực hoạt động theo kế hoạch mà tổ chức đề ra

Như vậy, tội phạm được xem là hoàn thành kể từ khi người phạm tội thực hiện hoạt động thành lập tổ chức (kể cả tổ chức đã được thành lập hoặc chưa); hoặc

từ khi tham gia vào tổ chức (kể cả đã thực hiện hoạt động nào hay chưa)

Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khác tội phản bội Tổ quốc ở chỗ: Tội phản bội Tổ quốc có dấu hiệu câu kết với nước ngoài, còn tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân không có dấu hiệu câu kết với nước ngoài Nếu tổ chức hoạt động không có sự bàn bạc, thống nhất với nước ngoài, đơn giản chỉ là nhận viện trợ từ nước ngoài thì sẽ cấu thành tội hoạt động nhằm lật

đổ chính quyền nhân dân

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là bất kì người nào

có đủ năng lực trách nhiệm hình sự (năng lực nhận thức và năng lực điều khiển

Trang 4

hành vi) và đạt độ tuổi theo luật định Trong đó, Điều 12 Bộ luật hình sự quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác Như vậy độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội này là từ đủ 16 tuổi trở lên

Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Tính chất của hoạt động thành lập cũng như hoạt động tham gia đã thể hiện lỗi của chủ thể là lỗi cố ý Người phạm tội phải biết tổ chức có mục đích lật đổ chính quyền nhân dân Khi đã nhận thức

rõ mục đích này họ vẫn thành lập hoặc tham gia tổ chức tức là họ cũng có mục đích như vậy

Câu 3 Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội gián điệp theo quy định tại Điều

110 BLHS?

Khách thể của tội phạm

Theo từ điển Tiếng Việt, gián điệp là kẻ do địch cài vào để do thám tình hình và phá hoạt Theo đó, ta có thể hiểu tội gián điệp là tội phạm do người thực hiện nhằm mục đích do thám tình hình đối nội, đối ngoại của đất nước và phá hoại sự

ổn định anh ninh đối ngoại và an toàn đối nội An ninh đối ngoại, an toàn đối nội được hiểu là độc lập, chủ quyền quốc gia, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế

độ chính trị, văn hóa, kinh tế, nền quốc phòng, an ninh và sự vững mạnh của chính quyền nhân dân Như vậy tội gián điệp là tội phạm xâm phạm đến an ninh đối ngoại, an toàn đối nội quốc gia, nói cách khác, khách thể của tội gián điệp là

sự ổn định tình hình đối nội đối ngoại của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Mặt khách quan của tội phạm

Khoản 1 Điều 110 Bộ luật hình sự quy định 03 hành vi cấu thành tội gián điệp như sau:

a) Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hoạt động tình báo là hoạt động điều tra, thu nhập tin tức về đường lối, chính sách, chủ trương của Nhà nước cũng như về thực tế tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự, ngoại giao, của Việt Nam bằng nhiều cách thức khác nhau

và người nước ngoài sử dụng những tin tức này để chống phá nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Trang 5

Hoạt động phá hoại gồm hành vi phá hoại cơ sở vật chất, phá hoại việc thực thi các chính sách kinh tế xã hội đất nước, phá hoại chính sách đoàn kết mà Đảng

và Nhà nước đã gây dựng

Hành vi gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại là hành vi chuẩn bị điều kiện cần thiết cho hoạt động tình báo, phá hoại như tuyển chọn, thu hút người vào mạng lưới gián điệp, làm nhiệm vụ liên lạc chuyển tin, phá hoại về địa điểm được chỉ định,

b) Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại

Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài Hành

vi gây cơ sở là những hành vi đã được phân tích nêu trên, là những hành vi chuẩn bị điều kiện cần thiết cho hoạt động tình báo, phá hoại Tuy nhiên theo ý của Điều luật này, hỏa động gây cơ sở trên phải được chỉ đạo của nước ngoài mới cấu thành tội gián điệp

Hoạt động thám báo là hoạt động của những tên gián điệp được các tổ chức gián điệp nước ngoài cử đến Việt Nam thu thập tình báo về quân sự bằng cách quan sát, chụp ảnh, vẽ sơ đồ hoặc bắt cán bộ, bộ đội để khai thác các bí mật quốc phòng nhằm phục vụ âm mưu gây chiến tranh cho đất nước

Hành vi chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại Chỉ điểm là việc dùng ám hiệu để báo cho người nước ngoài biết nơi cần thu thập thông tin tình báo, phá hoại, thực hiện các hành vi gián điệp Chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác

là những hành vi của người Việt Nam, tạo điều kiện cần thiết cho người nước ngoài ẩn náu, có thêm phương tiện để hoạt động tình báo, phá hoại

c) Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài Trong trường hợp này, người phạm tội đã cung cấp những bí mật của Nhà nước hoặc đã thu thập những bí mật của Nhà nước đợi đến khi có điều kiện sẽ cung cấp ra nước ngoài Người phạm tội này đã biết rõ những thông tin trên là bí mật quốc gia Tài liệu mà người phạm tội cung cấp hoặc thu thập được có ích đối với nước ngoài hay không cũng không có ý nghĩa định tội Dù tài liệu đó không có ích nhưng nó là bí mật nhà nước và người đó đã cung cấp cho nước ngoài, thì người đó đã phạm tội gián điệp

- Thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngoài những thông tin đã phân tích ở trên, nhà làm luật dự trù những thông tin, tài liệu khác có thể xuất

Trang 6

hiện về sau có thẻ sử dụng nhằm giúp người nước ngoài chống phá đất nước Việt Nam

Đối với hành vi thu thập, cung cấp những tin tức, tài liệu khác thì phải làm rõ khi thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu ấy người đó biết rằng nước ngoài sử dụng

để chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nếu không làm rõ được mục đích này thì không có cơ sở kết luận họ phạm tội gián điệp

Tội gián điệp là loại tội phạm có cấu thành hình thức nên tội phạm được coi

là hoàn thành từ rất sớm – khi nhận sự chỉ đạo của nước ngoài để hoạt động gián điệp đã được coi là tội phạm hoàn thành Trường hợp chuẩn bị phạm tội xảy ra khi người phạm tội chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thực hiện tội gián điệp Ví dụ như người đó chuẩn bị thu thập tư liệu bí mật với mục đích cung cấp nhưng tư liệu đó cho nước ngoài nhưng chưa kịp thực hiện đã bị phát hiện, truy tố

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội gián điệp là người có năng lực trách nhiệm hình sự (năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi) và đạt đủ độ tuổi theo điều 12 Bộ luật hình sự (người từ đủ 16 tuổi trở lên) Tùy từng hành vi mà chủ thể của hành vi

có thể là người Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch

- Chủ thể của hành vi hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người nước ngoài, người không có quốc tịch bởi họ hoạt động phục vụ cho tổ chức nước ngoài hoặc nhà nước nước ngoài, họ được chủ đến Việt Nam để hoạt động tình báo hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, chống phá nhà nước Việt Nam

- Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại Trường hợp này gồm hai hành vi với 02 chủ thể là công dân Việt Nam tạo điều kiện cho hoạt động tình báo phá hoại ở Việt Nam và người nước ngoài, người không quốc tịch thực hiện hành vi báo thám

- Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chủ thể thực hiện hành vi này chỉ có thể là Công dân Việt Nam bởi chỉ có công dân Việt Nam mới có cơ hội được tiếp cận với những thông tin là bí mật của nhà nước Việt Nam

Trang 7

Mặt chủ quan của tội phạm

Các hành vi được miêu tả cấu thành tội gián điệp đã thể hiện rõ mục đích xâm phạm đến tình hình chính trị, an ninh, tình hình đối nội đối ngoại của nước Việt Nam Do đó yếu tố lỗi là lỗi cố ý, người phạm tội hoàn toàn có thể nhìn thấy trước hậu quả hành vi của mình gây ra, nhưng vẫn thực hiện nó Vì vậy, những hành vi do vô ý, thiếu trách nhiệm để lộ thông tin nhà nước không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội gián điệp Tuy nhiên việc để lộ bí mật nhà nước, người để lộ vẫn phải chịu các tội khác theo quy định của Luật bảo vệ bí mật Nhà nước số: 29/2018/QH14 ngày 15 tháng 11 năm 2018

Câu 4 Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo quy định tại Điều

123 BLHS?

a Khách thể

Khách thể của Tội giết người là quan hệ nhân thân mà nội dung của nó là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người

Trong số các quyền nhân thân, quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, không một quyền nào có thể so sánh được Bất cứ ai xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người đều phải bị trừng trị nghiêm khắc Tội giết người xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động - con người đang sống Nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không phải hay chưa phải là con người thì không xâm phạm đến quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, vì vậy, hành vi đó không phạm tội giết người

b Mặt khách quan

Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của Tội giết người có thể được thực hiện qua hành động hoặc không hành động:

Hành động phạm tội giết người là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm - quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm

Trang 8

Không hành động phạm tội giết người là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm - quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người, qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm

Hành vi khách quan của Tội giết người là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan có sự kiểm soát của ý thức và sự điều khiển của ý chí Đây là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là hành vi đó phải gây ra hoặc có khả năng gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật Những hành vi không gây ra và cũng không có khả năng gây ra cái chết cho người khác hoặc tuy có khả năng gây ra cái chết cho người khác, nhưng không trái pháp luật (như hành vi phòng vệ chính đáng, hành vi thi hành án tử hình ) thì đều không phải

là hành vi khách quan của Tội giết người

Cần phân biệt Tội giết người với Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Nếu hành vi khách quan của Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho nạn nhân thì hành vi khách quan của Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng chỉ là hành vi cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Thực tiễn xét xử cho thấy, để xác định đúng tội danh chúng ta cần phân biệt hai tội này qua các tiêu chí cơ bản sau đây:

Thứ nhất, nếu nạn nhân bị chết do tình trạng nguy hiểm đến tính mạng thì: Định Tội giết người khi người phạm tội vì mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả chết người xảy ra nên đã cố ý đặt nạn nhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Định tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng khi người phạm tội chỉ vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân, trước đó người phạm tội không có bất kỳ hành vi cố ý nào xâm phạm tính mạng hoặc sức khoẻ của nạn nhân

Thứ hai, nếu nạn nhân bị chết không phải do tình trạng nguy hiểm đến tính mạng mà do hành vi của người phạm tội cố ý gây ra, thì người thực hiện hành vi

cố ý gây ra cái chết cho nạn nhân chỉ có thể phạm tội giết người mà không phạm tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Hậu quả

Hậu quả của Tội giết người là thiệt hại do hành vi phạm tội giết người gây ra cho quan hệ nhân thân, cho quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính

Trang 9

mạng của con người Thiệt hại này được thể hiện dưới dạng thiệt hại về thể chất

- hậu quả chết người khác

Nghiên cứu hậu quả của Tội giết người có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành Vì Tội giết người là tội phạm có cấu thành vật chất nên thời điểm hoàn thành của tội phạm này là thời điểm nạn nhân đã chết sinh vật - giai đoạn cuối cùng của sự chết mà ở đó sự sống của con người không gây ra và cũng không có khả năng hồi phục

Ngày đăng: 17/11/2023, 10:59

w