Phần CÚ PHÁP HỌC NỘI DUNG MÔN HỌC Bài 1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt Bài 2 Tổng quan về câu tiếng Việt Bài 3 Các phương pháp phân tích câu tiếng Việt Bài 4 Vận dụng ngữ pháp tiếng[.]
Trang 1Phần CÚ PHÁP HỌC
Trang 8NỘI DUNG MÔN HỌC
Bài 1: Sơ lược về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt Bài 2: Tổng quan về câu tiếng Việt
Bài 3: Các phương pháp phân tích câu tiếng Việt
Bài 4: Vận dụng ngữ pháp tiếng Việt
Trang 9Tài liệu tham khảo
1 Diệp Quang Ban (2005) Ngữ pháp tiếng Việt Hà Nội: NXB
Trang 104 Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) – Đoàn Thiện Thuật & Nguyễn
Minh Thuyết (2011) Dẫn luận Ngôn ngữ học Hà Nội: NXB Giáo
Trang 1111 Tổ Ngôn ngữ học – Đại học Tổng hợp (1961) Khái
luận Ngôn ngữ học Hà Nội: NXB Giáo dục.
12 Ủy ban khoa học xã hội (1983) Ngữ pháp tiếng Việt
Hà Nội: NXB KHXH.
Trang 12BÀI 1:
Sơ lược về lịch sử nghiên cứu cú pháp tiếng Việt
Căn cứ vào sự xuất hiện và tồn tại của những
khuynh hướng nổi trội cùng với những tác giả, công trình tiêu biểu có thể chia lịch sử nghiên cứu
cú pháp tiếng Việt thành 3 giai đoạn:
(1)Trước năm 1945;
(2)Từ sau 1945 đến trước1990;
(3)Từ 1990 đến nay.
Trang 131.1 Trước năm 1945
Qua con mắt của các tác giả phương Tây làm từ
điển đối chiếu thì tiếng Việt có một số đặc điểm sau:
- Từ không biến đổi hình thái khi được sử dụng trong câu, không có cơ sở (hình thái học) để xác định từ
loại và do đó có thể xem TV là một ngôn ngữ không
có từ loại;
- Trật tự từ trong câu đóng vai trò rất quan trọng,
quyết định đến việc hiểu nghĩa của câu.
Trang 14-Trong “Từ điển Việt - Bồ - La (1651)” của A De Rhodes, ông có viết:
+ Luật thứ nhất: Chủ từ phải đi trước động từ, bằng
không nó không còn là chủ từ của động từ ấy nữa (…); + Luật thứ hai: Danh từ theo sau động từ là bổ sung của động từ ấy (…);
+ Luật thứ ba: Trong 2 danh từ đặt liền nhau, thì tiếng
thứ hai chỉ gián tiếp.
(Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết)
Trang 15- Những năm 40 của TK trước, các tài liệu liên quan
đến cú pháp TV hầu hết do các học giả nước ngoài
viết (P G Vallot, R Bulteau,…) thể hiện “cái nhìn
Trang 16 Ở giai đoạn trước 1945, các tác giả thường gò cấu trúc câu tiếng Việt theo khuôn mẫu cấu trúc câu tiếng Pháp
Các tên gọi thành phần câu tiếng Việt chẳng qua là
sự sao phỏng tên gọi các thành phần câu tiếng Pháp.
Trang 181.2 Từ sau 1945 đến trước 1990
Nghiên cứu cú pháp phát triển ở cả hai miền Một số tác giả tiêu biểu:
phê phán khuynh hướng “từ bản vị” (theo NP phương Tây)
và khẳng định khuynh hướng “cú bản vị” qua việc tiếp nhận cuốn “Tân ước quốc ngữ văn” của tác giả Trung Quốc là Lê Cẩm Hy Sự chuyển đổi này là một bước ngoặt đáng ghi nhận trong nghiên cứu cú pháp TV
Trang 19Phan Khôi cho rằng, với một thứ tiếng không có sự biến đổi hình thái từ như
TV mà theo “từ bản vị” “mà sách văn pháp lại cứ bắt đầu chia ra từ loại thì thật xa với sự thật quá, nếu không nói là vô lý”.
Tác giả đề nghĩ theo “cú bản vị”, tức “lấy tổ chức câu làm gốc, làm thành
phần chính trong sự dạy văn pháp Bắt đầu từ câu ngắn đến câu dài, từ câu đơn đến câu ghép,… Trong khi ấy mới tùy ở vị trí và chức năng của từng từ
mà quy nó vào loại nào và nhân đó mà nhìn rõ công dụng của nó” Theo
khuynh hướng này còn có Phan Ngọc, Nguyễn Lân,v.v
Từ bản vị: chủ từ, động từ, túc từ,
Cú bản vị: chủ ngữ, vị ngữ, bổ túc ngữ,
Là bước ngoặt đáng ghi nhận trong phân tích cấu trúc câu tiếng Việt.
Trang 20- Lê Văn Lý (1948,1968): Là người đầu tiên tuyên bố từ bỏ việc
đi theo ngôn ngữ châu Âu để nghiên cứu TV; cũng là người
đầu tiên mang phương pháp của ngôn ngữ học cấu trúc (theo lối chức năng Praha) đến với lĩnh vực nghiên cứu cú pháp
(Trường phái này quan niệm ngôn ngữ như một hệ thống
chức năng có tính cấu trúc, là tư tưởng khoa học chủ đạo của CLB Praha)
+ 1948: Lê Văn Lý viết “Le parler Vietnamien”
+ 1968: Lê Văn Lý với “Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam”: Đề cập
đến nhiều vấn đề NNH trên diện rộng, trong đó có vấn đề Âm vị
học, trình bày các từ loại, các hạng mục ngữ pháp, các kiểu
câu,…
Trang 21Trung tâm Học liệu thuộc Bộ Giáo dục ở Sài gòn
Trang 23+ Lê Văn Lý đề xuất tiêu chí “GIÁ TRỊ KẾT HỢP” (“khả năng
phối hợp”) để phân chia từ loại (“coi tiếng nào có thể đứng trước hay đứng sau tiếng nào”);
+ Tác giả cũng dùng một số hư từ gọi là từ chứng thử đem kết hợp với các từ TV để chia từ TV ra các loại: A, B, B’ và C (tương đương: danh từ, động từ, tính từ và hư từ).
VD:
- AAAAAA: Sáng cháo gà tối cháo vịt
- AB: Nước chảy
- AB’: Nhà cao
- AC: Xe tôi
- ABB: Chó muốn chạy
- CCCCCCCCC: Dù sao chăng nữa cũng tại chúng mày cả
- …
Trang 24*Về mặt phương pháp luận:
- Thời kỳ này nổi lên lý thuyết “từ tổ” (cụm từ), tiêu biểu là
Nguyễn Kim Thản Ông cho rằng, cần phân biệt “thành
phần phụ” của câu với thành phần phụ của từ tổ:
Chúng chỉ là thành phần phụ của các từ tổ danh từ (danh
ngữ) và từ tổ động từ (động ngữ) khi các từ tổ này tham gia cấu tạo câu
Trang 25 Câu đơn Vì “ tôi gặp hôm qua” được xem là thành tố
phụ của từ tổ danh từ “ người”.
Về sau, vấn đề này còn được xem xét lại và thể hiện
qua sự phân biệt câu ghép, câu phức.
VD: Người tôi gặp hôm qua là nhà văn.
The person I met yesterday is a writer
Trang 26- Ủy ban Khoa học xã hội (1983): Công trình Ngữ pháp
tiếng Việt giản dị, dễ hiểu, dễ vận dụng nhưng cũng rất sâu sắc Tuy nhiên, tính chất thỏa hiệp, cố gắng dung
hòa các ý tưởng khác được thể hiện một cách không
thực sự nhuần nhuyễn trong đó.
VD: Gạt bỏ bổ ngữ ra khỏi danh sách thành phần câu, áp
dụng Đề - Thuyết là ảnh hưởng của phân tích câu theo
tầng bậc hạt nhân (do Lưu Vân Lăng khởi xướng).
Trang 27Một số tác giả tiêu biểu khác:
- Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê với “Khảo luận
Trang 28- Hoàng Trọng Phiến với những vấn đề về câu (1980);
- Lý Toàn Thắng và lý thuyết phân đoạn thực tại (1981);
- Nguyễn Tài Cẩn với “Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ” (1981);
-Hoàng Tuệ với “Giáo trình về Việt ngữ” (1962) và “Ngữ pháp tiếng Việt” (1983);
-Trần Ngọc Thêm và sự ra đời của Ngữ pháp văn bản (1985);
-…
Trang 291.3 Từ sau 1990 đến nay
- Ngữ pháp tiếng Việt do tiếp nhận tư tưởng của Ngữ
pháp chức năng (Functional Grammar) nên đã có nhiều biến chuyển
- Các lý thuyết của NPCN: lý thuyết ba bình diện của câu,
về vị từ - tham thể (miêu tả nghĩa của câu), phân tích câu theo Đề - Thuyết, tiền giả định (Presupposition),…được vận dụng vào nghiên cứu NPTV.
Trang 303 bình diện của câu/ Mô hình tam phân (bắt nguồn từ lý luận ký hiệu học
của C S Peirce) gồm các bình diện:
(1) Bình diện nghĩa học (Semantics): Thường được hiểu theo nghĩa hẹp,
giới hạn trong phần nghĩa của câu nói được tách ra một cách ước định
ra ngoài văn cảnh và tình huống phát ngôn
(2) Bình diện cú pháp (Syntactics) (Hoặc kết pháp): Gồm những phương
tiện hình thức để biểu hiện các lớp nghĩa; trật tự các yếu tố; cách đánh dấu các biên giới từ, ngữ, tiểu cú, cách đánh dấu tình thái và ngữ khí,… trong những chức năng khu biệt và cấu tạo từ, ngữ, câu, tập hợp câu và ngôn bản (văn bản).
(3) Bình diện dụng pháp (Pragmatics): Bình diện này thuộc mặt nội dung
được câu biểu đạt (“sở biểu” của F de Saussure), nó gồm tất cả những
gì hiện rõ ra khi câu được nói ra do một người cụ thể trong một tình
huống cụ thể, hay được đặt trong một văn cảnh nhất định (Mqh giữa
ngôn ngữ với người sử dụng)
Trang 32Nguồn
http:s://coggle-downloads-production.s3.eu-west-1.amazonaws.com/4d08610c23448fea02a93eb1690457877b05b64690ddf135fa2 d8edacb2c2224/phn_loi_cc_loi_v_t_v_tham_th_trong_cu_trc_ngha_miu_t_ca_cu png?AWSAccessKeyId=ASIA4YTCGXFHOVKYZ5X3&Expires=1634709196&Sig nature=bgPV%2BaLMvEFWJJNu5bUGZrKbJgQ%3D&x-amz-security-
token=IQoJb3JpZ2luX2VjEEAaCWV1LXdlc3QtMSJIMEYCIQCis8N2fn84dE%2B9 pKTDwLlpw2RuWdPh7WM7pqKJI0SgGdinRwf261XIhH3qY%3D
Trang 33Phân tích câu theo Đề - Thuyết:
Cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt tương ứng với cấu trúc của mệnh đề
(ngôn từ thực hiện ý định tác động của người nói thông qua việc truyền đạt những mệnh đề - những nhận định tối giản) tương ứng với cấu trúc của
mệnh đề
Nó gồm hai phần Đề và Thuyết, ứng với Sở đề (Subjectum) và Sở thuyết
(Praedicatum) của mệnh đề Tính hoàn chỉnh của câu có được là do câu đã
thể hiện được cấu trúc của mệnh đề, khiến cho câu có thể tự mình làm thành một phát ngôn có giá trị chân lý, có tác dụng ngôn trung, và được người nghe tiếp thu như một lời nói trọn vẹn
(NPCN – Câu trong tiếng Việt, CXH, tr.22)
Trang 34(NPCN – Câu trong tiếng Việt, CXH, tr.22)
Trang 35Tiền giả định là điều người viết/ người nói giả định rằng người
nhận thông điệp coi như đã biết rồi
Trang 37Slogan này giả định điều gì?
- Ngoài Mercedes, còn có nhiều nhà sản xuất ô tô khác (so sánh hơn)
- Xe Mercedes có chất lượng siêu việt hơn những đối thủ khác
- Hoặc là bạn mua 1 siêu phẩm, hoặc là đừng mua còn hơn.
Trang 38- Cao Xuân Hạo: “Sơ thảo ngữ pháp chức năng” (1991).
- Diệp Quang Ban: “Ngữ pháp TV” (2000), “Ngữ pháp tiếng Việt” (2004), “Ngữ pháp Việt Nam – phần Câu”
(2004)
Cần nghiên cứu ngôn ngữ khi con người sử dụng
trong giao tiếp
Bác bỏ C-V, cho rằng chỉ dùng trong ngôn ngữ châu
Âu Cấu trúc cơ bản của câu TV là Sở đề - (Đề) – Sở thuyết (Thuyết)
Khẳng định vai trò hết sức quan trọng của một nền NNH về lời nói bên cạnh nền NNH về ngôn ngữ và mối quan hệ biện chứng giữa nó
Trang 40Nhà nghiên cứu Pháp, Jean-Pierre Chambon khi điểm một
nghiên cứu của Cao Xuân Hạo đã thốt lên rằng chính hướng
nghiên cứu của ông Hạo sẽ đi tới một cuộc cách mạng Copernic
thực sự của ngữ học hiện đại.
GS Cao Xuân Hạo là một bản lĩnh trí thức đáng kính trọng Vượt qua mọi khó khăn, kể cả những ứng xử không đúng, Anh vẫn có những
cống hiến khoa học xứng đáng với ngành ngữ học Việt Nam, với việc cống hiến cho người đọc những thành tựu văn học nước ngoài qua
sự nghiệp dịch thuật Tinh thần của anh sống mãi.
(Thủ tướng Võ Văn Kiệt ghi trong sổ tang)
Trang 41Systemic Functional Grammar
Trang 432.1 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu Cú pháp học 2.2 Về câu tiếng Việt
2.3 Các bình diện nghiên cứu câu
Trang 442.1 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
Cú pháp học (CPH)
- CPH nghiên cứu các quy tắc, cách thức dùng từ liên kết thành cụm từ (cú pháp cụm từ) và thành câu, các kiểu câu (cú pháp câu); tác dụng và địa vị của từ trong câu, quan
hệ giữa các thành phần câu và quan hệ giữa các câu với nhau
- Mỗi ngôn ngữ có quy luật đặt câu, quy luật biến đổi riêng Muốn nghiên cứu các quy tắc đặt câu của một NN thì phải nắm những điều căn bản về cú pháp
Trang 45Cụm từ (Cú pháp cụm từ)
“Các tổ hợp bao gồm hai thực từ có quan hệ ngữ pháp
với nhau trở lên gọi là cụm từ” (“Dẫn luận NNH”, Nguyễn Thiện Giáp – CB)
Cụm từ phức tạp hơn nhưng hoạt động trong lời nói như một từ
Phân loại:
- Dựa vào mức độ cố định:
+ Cụm từ cố định
+ Cụm từ tự do
Trang 46- Dựa vào quan hệ chính giữa các thành tố trong cụm từ:
+ Cụm từ đẳng lập
+ Cụm từ chính phụ
+ Cụm chủ - vị (cụm từ tường thuật, mệnh đề, các thành tố có quan hệ chủ - vị)
Trang 472.2 Về câu tiếng Việt
2.2.1 Khái niệm
Hiện nay, các nhà Việt ngữ học có nhiều cách hiểu khác nhau
về chức năng của câu.
Dưới ảnh hưởng của cách tiếp cận chức năng, nhiều nhà
nghiên cứu nói đến tính đa chức năng, đa bình diện của câu Theo đó, câu có chức năng biểu hiện và chức năng thông
báo (liên nhân hay trao đổi).
Trang 48- Câu là đơn vị ngôn ngữ được nghiên cứu có thể nói là sớm nhất, từ thời cổ đại:
+ Các nhà ngữ pháp học Ấn Độ giải thích: “Câu là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bởi vì chỉ có câu mới có thể diễn đạt
được tư tưởng”
+ Thế kỷ III-II TCN, học phái Alexandria định nghĩa: “Câu là
sự tổng hợp của các từ, biểu thị một tư tưởng tương đối trọn vẹn”
Trang 49- Từ cuối TK 19 đến đầu TK 20, các khuynh hướng ngữ học có định nghĩa về câu như sau:
+ Khuynh hướng Logic – Ngữ pháp (Nga): “Câu là một phán
đoán được biểu thị bằng từ”
+ Khuynh hướng lịch sử - tâm lý: “Câu (ngữ pháp) tuyệt nhiên
không trùng và không song song với phán đoán logic”
+ Khuynh hướng hình thức ngữ pháp: “Câu là một tổ hợp từ
với ngữ điệu kết thúc”
Trang 51Trần Trọng Kim (1936); Trương Văn Chình – Nguyễn
Hiến Lê (1964) Câu có chức năng chính là biểu hiện sự tình.
Trang 52Nguyễn Kim Thản (1964); Diệp Quang Ban (1980, 1987);
UBKHXH (1983); Lê Xuân Thại (1994)
Câu biểu hiện một tư tưởng trọn vẹn, một phán đoán hay một thông báo.
Trang 53Trần Trọng Kim (1936)
“Phép đặt câu là phép đặt các tiếng thành mệnh đề và đặt các mệnh đề để thành lập câu” Và “Câu lập thành
do một mệnh đề có nghĩa lọn hẳn hoặc hai hay nhiều mệnh đề”
Trang 54“Khái luận NNH”, Tổ Ngôn ngữ học – ĐH Tổng hợp
(1960):
“Câu là đơn vị vận dụng cơ bản của ngôn ngữ”
Các tác giả này theo định nghĩa câu ở “Hán ngữ” (tập 3).Định nghĩa câu được cụ thể hóa:
Trang 55Câu có thể bày tỏ một ý trọn vẹn, tức là nó có thể cho người khác biết một sự việc, đặt ra một câu hỏi, yêu cầu người
khác bày tỏ tình cảm của mình làm người nghe hiểu rõ Câu nào cũng có ngữ điệu để bày tỏ ý tường thuật, nghi vấn,
cầu khiến hay cảm thán Trong khi nói, giữa câu và câu, có một sự ngắt quãng khá lớn Khi viết ra chữ thì cuối mỗi câu
có một dấu quy định đặc biệt để ghi ý câu và sự ngắt lại
Trang 56Cao Xuân Hạo (1991)
“Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản” (theo quan niệm của E Benveniste, 1961).
Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tế Nói cách khác, câu là ngôn bản (VB) nhỏ nhất (NPCN, tr.27)
Trang 57Đỗ Thị Kim Liên (“NPTV”, 1999)
Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập,
có ngữ điệu kết thúc
Trang 58GT “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”
(tr 285)
Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn có kèm thái độ của người nói hay chỉ biểu thị thái
độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư
tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất
Trang 59Diệp Quang Ban (“NPTV”, 2005)
Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài, tự lập và có ngữ điệu kết thúc; mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm.Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất
Trang 60“Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiệp Giáp (CB) – Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết (2011, tr.266)
Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có khả năng thông báo một
sự việc, một ý kiến, một tình cảm hoặc một cảm xúc
Trang 61Nguyễn Thị Lương (“Câu tiếng Việt”, 2016)
Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được
sử dụng trong giao tiếp nhằm mục đích thực hiện một hành động nói
Trang 62Câu là đơn vị ngôn ngữ dùng từ/ ngữ đặt ra trong quá trình suy nghĩ được gắn với một ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện tình cảm, thái độ đánh giá của người nói, người viết; có cấu tạo ngữ pháp độc lập và
có ngữ điệu kết thúc
Trang 632 tác giả Lưu Vân Lăng và Cao Xuân Hạo là
những người có sự chú ý tới sự khác biệt giữa
cú và câu.
Trang 64Lưu Vân Lăng
Cú và câu có cấu trúc Đề - Thuyết nhưng lại khác nhau
Trang 65Cú có cấu trúc Đ-T như câu nhưng khác câu ở chỗ “nó
không phản ánh một hành động nhận định, được thực hiện ngay khi phát ngôn để đưa ra một mệnh đề, mà biểu thị một cái gì được coi là có sẵn”
Cao Xuân Hạo
Hai tác giả cho thấy sự khác biệt nhưng lại không phân biệt chúng về mặt cấu trúc, khi cho rằng cả hai đơn vị đều
có cấu trúc Đề - Thuyết
Trang 661) Thằng Lợi này tài hoa lãng mạn ghê!
2) Chôm chôm chín như thắp lửa suốt cành
3) Học để tự do!
4) Đêm giao thừa, nhà nào cũng có một mâm cúng Trời Đất
đặt ở trước sân nhà
5) Mưa tạnh Người đàn ông đó dừng lại
6) Đi ngang qua tiệm thuốc Bắc, mùi thơm các loại dược liệu
thật dễ chịu khiến người ta cảm thấy khỏe khoắn và an tâm.7) …
Ví dụ: