1 BÀI THU HOẠCH GIỮA KỲ ĐỀ TÀI Động từ trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du (đoạn Kiều bán mình chuộc cha) Môn Ngữ pháp tiếng Việt GV ThS Nguyễn Thùy Nương 2 BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ NHÓM STT Họ và tên MSSV Nhiệm vụ 1 Lê Thị Diễm Kiều 2156020090 Động từ nội từ 2 Phan Ngọc Diệu Linh 2156020098 Động từ hoạt động tình cảm 3 Nguyễn Thị Như Quỳnh 2156020110 Động từ chỉ sự xuất hiện,tồn tại,tiêu biến 4 Nguyễn Thị Trà Như 2156020106 Động từ biểu hiện ý chíkhả năng 5 Lê Yến Nhi 2156020103 Động từ biểu thị.
Trang 1
BÀI THU HOẠCH GIỮA KỲ
ĐỀ TÀI Động từ trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
(đoạn Kiều bán mình chuộc cha)
Môn: Ngữ pháp tiếng Việt
GV: ThS.Nguyễn Thùy Nương
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ NHÓM
1 Lê Thị Diễm Kiều 2156020090 Động từ nội từ
2 Phan Ngọc Diệu Linh 2156020098 Động từ hoạt động tình cảm
3 Nguyễn Thị Như Quỳnh 2156020110 Động từ chỉ sự xuất hiện,tồn tại,tiêu
biến
4 Nguyễn Thị Trà Như 2156020106 Động từ biểu hiện ý chí/khả năng
5 Lê Yến Nhi 2156020103 Động từ biểu thị hành động ngoại
hướng
7 Ngô Thanh Trúc 2156020127 Động từ chỉ cảm nghĩ,nói năng
8 Nguyễn Trương Thiên
Thủy
2156020046 Động từ khuyết ý
9 Trần Yến Nhi 2156020104 Động từ “là”/hệ từ là
Trang 3BẢNG NỘI DUNG
PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
2.Đối tượng mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.Phương pháp nghiên cứu đề tài
4.Dự kiến đóng góp của đề tài
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : Động từ trong Văn học
1.1 Giới thiệu động từ
1.2 Phân loại động từ
1.3 Động từ trong truyện thơ
Chương 2: Khảo sát động từ trong truyện Kiều của Nguyễn
Du
2.1 Giới thiệu về truyện Kiều của Nguyễn Du
2.2 Thống kê động từ được sử dụng trong truyện Kiều của Nguyễn Du (đoạn Kiều bán mình chuộc cha)
2.3 Khái quát các loại động từ trong truyện Kiều của
Nguyễn Du (đoạn Kiều bán mình chuộc cha)
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Đến với tác phẩm “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố, ta thấy được bộ mặt tàn
ác, bất nhân của xã hội phong kiến đương thời khi đã đẩy người nông dân vào hoàn cảnh khổ cực Đồng thời, tác phẩm còn ca ngợi tình cảm vợ chồng, tình
mẹ con, tình nghĩa xóm làng giữa những con người cùng khổ Mà tiêu biểu là nhân vật chị Dậu trong truyện Chị Dậu là một người phụ nữ mang nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam Trong các tác phẩm Việt Nam , có nhiều tác giả lại miêu tả hình tượng người phụ nữ là chính Nét đẹp của họ được nhà văn , nhà thơ tỉ mỉ khắc họa bằng những câu , từ , hình ảnh đầy nét sinh động , hấp dẫn lôi cuốn bạn đọc Có rất nhiều nhà văn chỉ chú trọng đến nét đẹp bên ngoài mà ít khi quan tâm đến phẩm chất của họ Duy chỉ có tác giả Nguyễn Du đã dùng ngòi bút của mình để viết nên những câu thơ khắc họa đậm nét vẻ đẹp phẩm chất lẫn vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam một cách toàn mỹ
và hoàn hảo Nhắc đến Nguyễn Du là nhắc đến một đại thi hào lỗi lạc của thơ
ca trung đại Việt Nam Không chỉ có đóng góp lớn cho văn học nước nhà ông còn được cả thế giới biết đến với thi phẩm Truyện Kiều Có thể nói Nguyễn Du chính là một hiện tượng của nền văn học Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung Thơ văn Nguyễn Du có giá trị hiện thực sâu sắc, phản ánh chân thực cuộc đời cơ cực của ông nói riêng, và xã hội đen tối, bất công nói chung Tác phẩm của ông chứa chan tinh thần nhân đạo - một chủ nghĩa nhân đạo thống thiết, luôn hướng tới đồng cảm, bênh vực, ngợi ca và đòi quyền sống cho con người, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh mang tên Thúy Kiều - trong tác phẩm Để khắc họa rõ nét về các nhân vật , Nguyễn Du sử dụng các động từ mang nét cổ điển và sử dụng các từ Hán Việt vào trong thơ làm cho câu thơ sinh động , độc đáo Truyện Kiều là một truyện thơ Nôm những nhà thơ đã khéo léo đưa vào một số lượng tương đối các từ Hán Việt và các điển tích, điển
cố Hán Điều đáng nói là các từ ngữ, các điển tích, điển cố đó được dùng rất đúng chỗ và sáng tạo Chính sự dụng đúng, có sự sáng tạo , độc đáo mang tính khám phá , tò mò ở người đọc nên nhóm chúng em chọn đề tài này để mong muốn mọi người tìm hiểu , học hỏi được cách dùng từ đúng đắn , hợp lí , độc đáo , phong phú mà tác giả đã dùng ngòi bút của mình viết nên Đề tài : “ Tìm hiểu động từ trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du ”
*Lịch sử vấn đề
Trang 7Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814–1820) Lại có thuyết nói ông viết trước khi đi sứ, có thể vào khoảng cuối thời Lê đầu thời Tây Sơn Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn Ngay sau khi ra đời, Truyện Kiều được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi Hai bản in xưa nhất hiện còn
là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thời vua Tự Đức
Truyện dựa theo bộ truyện văn xuôi Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, lấy bối cảnh Trung Quốc thời vua Gia Tĩnh Đế đời nhà Minh (từ năm
1521 tới năm 1567) Có một số nhân vật như tổng đốc Hồ Tôn Hiến, kỹ nữ Vương Thúy Kiều, nhân vật Từ Hải là có thật trong lịch sử
Bản in khắc đầu tiên năm 1920 có tựa chính thức là Đoạn trường tân thanh (chữ Hán: 斷腸新聲), có nghĩa là ” tiếng kêu mới về nỗi đau lòng đứt ruột”
Chính vì nguồn gốc của truyện xuất phát từ Trung Quốc , nên những câu từ , từ ngữ mang nét cổ điển , và sử dụng những từ Hán Việt độc đáo Chính vì sự kết hợp giữa từ ngữ mang nét độc đáo vừa Thuần Việt nên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài : “Tìm hiểu động từ trong truyện Kiều của tác giả Nguyễn Du để nghiên cứu và tìm hiểu cách thức hoạt động của chúng”
2,Đối tượng ,mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a))Đối trượng và phạm vi nghiên cứu
Hệ thống động từ trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du đoạn Kiều bán mình chuộc cha ( từ câu 573 đến câu 804)
b)Mục đích nghiên cứu
Đi sâu khảo sát tìm hiểu hoạt động ngữ pháp và vai trò ngữ nghĩa của từ loại động từ trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Từ đó góp thêm một cách hiểu, cách tiếp cận tác phẩm và qua đó khai thác được hiệu quả sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du, nhằm tiếp nhận giá trị Truyện Kiều một cách sâu sắc hơn
Khẳng định thêm tài năng nghệ thuật của đại thi hào Nguyễn Du trên bình diện ngôn ngữ văn chương
c)Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê có bao nhiêu động từ và số lần xuất hiện của nó; phân loại động từ; tìm hiểu vai trò ngữ pháp của động từ ( giữ vai trò gì trong câu, kết hợp được với những từ loại nào)
Trang 8Phân tích giá trị ngữ nghĩa của các động từ trong Truyện Kiều
3.Phương pháp nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ đối tượng và mục tiêu nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
-Phương pháp khảo sát
-Phương pháp thống kê,lựa chọn
4.Dự kiến đóng góp của đề tài
Đề tài không đi sâu vào nghiên cứu phân tích về mặt nội dung, giá trị nghệ thuật, sử dụng ngôn từ, ngôn ngữ nhân vật, Mà tập trung vào việc nghiên cứu một từ loại cụ thể đó là động từ trong tác phẩm “Truyện Kiều” trích đoạn “Kiều bán mình chuộc cha”
Chúng tôi tìm ra và phân loại các động từ có trong đoạn trích để đưa ra những con số thống kê cụ thể Phân tích mặt ngữ pháp về khả năng kết hợp cú pháp của động từ và phân tích mặt ngữ nghĩa của động từ trong ngữ cảnh cụ thể Qua đó, nêu lên sự đóng góp của tác giả Nguyễn Du về mặt ngôn ngữ trong tác phẩm
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1:ĐỘNG TỪ TRONG VĂN HỌC
1.1 Giới thiệu động từ
Giới thiệu động từ
Cũng như với các ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt, động từ là một trong hai từ loại cơ bản Bản chất ngữ pháp của động từ được đặc trưng tới các phương diện ngữ nghĩa, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp
Về mặt số lượng, danh sách động từ ít hơn so với danh từ, điều đó có quan hệ với bản chất ý nghĩa của từ loại này: Danh từ biểu đạt các khái niệm về sự vật (và thực thể nói chung), còn động từ thì gắn với các khái niệm thuộc phạm trù vận động Số lượng khái niệm của phạm trù thứ nhất lớn hơn của phạm trù thứ hai nhiều do chỗ danh sách các sự vật (và thực thể) lớn hơn danh sách các dạng vận động của chúng
Trang 9- Định nghĩa về động từ:
Xưa nay các sách giáo khoa vẫn định nghĩa động từ là từ chỉ hành động, trạng thái của sự vật Cũng như với định nghĩa của danh từ, điều đó đúng nhưng chưa đủ
Theo nhiều nhà ngôn ngữ, động từ là từ chỉ tất cả các dạng vận động khác nhau của tất cả những gì được tri nhận là thực thể:
Động từ chỉ các hành động (tôi chạy, nó đọc), trạng thái (tôi ngủ, nó thức), các liên hệ dưới dạng tiến trình (tôi yêu gia đình, tôi hiểu bạn bè), có mối quan hệ
với chủ thể và diễn ra trong thời gian Nhưng chủ thể không chỉ là sự vật, cũng như danh từ không chỉ có ý nghĩa sự vật Chủ thể bao hàm cả những khái niệm được thực thể hoá (những đối tượng được tri nhận như thực thể), danh từ có ngữ nghĩa rộng hơn khái niệm sự vật – đó cũng là ý nghĩa thực thể Như vậy, ý nghĩa của động từ trên bậc khái quát nhất là ý nghĩa vận động – động từ chỉ các dạng vận động khác nhau của tất cả những gì nằm trong phạm trù thực thể (về mặt từ loại, là của tất cả những khái niệm có thể diễn đạt bằng danh từ)
- Ngữ nghĩa của động từ hình thành, một mặt, từ nội dung phản ánh thực tại (các dạng vận động của vật chất) mang tính chất từ vựng, và một mặt khác, từ mối quan hệ giữa các khái niệm trong cách thức phản ánh Với động từ, hai mối quan hệ nổi bật là quan hệ với chủ thể
và với tình huống xác định trong thời gian Các quan hệ này là cơ sở của các ý nghĩa ngữ pháp của động từ bao gồm các ý nghĩa hình thái học/từ pháp và cú pháp
- Ngữ nghĩa của động từ thể hiện rất rõ ở chức năng ngữ pháp của động
Trang 10Nội động từ biểu thị hành động, hoạt động hoặc trạng thái không thể tác động
trực tiếp tới một đối tượng khác, ví dụ: ngủ, nằm, đi, đứng, suy nghĩ
+ Không có khả năng biểu thị ý nghĩa lặp lại, tức là không có mặt trong cấu trúc
“ A đi A lại ” ( VD: thương đi thương lại)
+ Không có khả năng kết hợp với các thành tố chỉ sự kết thúc “xong”, “A
xong”, (VD: sợ xong, mến xong, mong xong,…)
1.2.3 Động từ chỉ sự xuất hiện/tồn tại/tiêu biến
-Về ý nghĩa :
đây là những từ biểu thị trạng thái tồn tại hay tiêu biến,xuất hiện hay biến mất của sự vật-hiện tượng
-Đặc điểm:
Hầu như không dính dáng 1 chút nào với ý nghĩa hành động,tức là chúng ta
không thể tri nhận chúng trong tiến trình như các động từ khác
bắt đầu còn tiền (-)
còn cà phê xong(-)
-Động từ chỉ sự tồn tại, xuất hiện, tiêu biến là những động từ chỉ trạng thái tồn tại, xuất hiện, tiêu biến của sự vật ở một vị trí nào đó: có, còn, xuất hiện, biến mất, diễn ra, nổi lên Những động từ này vừa có nét nghĩa nội hướng: chỉ hoạt động tồn tại, xuất hiện, tiêu biến của chủ thể (hoạt động không hướng tới đối thể bên ngoài), vừa có nét nghĩa ngoại hướng: chỉ sự tác động của hoạt động vào sự vật (hoạt động hướng tới đối thể)
- Động từ chỉ sự tồn tại, xuất hiện, tiêu biến còn có nét nghĩa không chủ động: chỉ hoạt động không xuất phát từ chủ thể, hoạt động mà chủ thể không làm chủ được
Trang 11Ví dụ :Bát vỡ, Cây đổ
Hai yếu tố vỡ và đổ chỉ trạng thái của bát và cây;đồng thời, thực thể bát và cây cũng không thể tạo ra và làm chủ được hoạt động vỡ và đổ
Ví dụ:Tôi chạy, Tôi nhảy
Hai hoạt động chạy và nhảy đều thuộc về chủ thể tôi, xuất phát từ tôi và bản thân chủ thể tôi làm chủ được Do đó, động từ nội hướng hành động mang nghĩa chủ động rất cao
1.2.4 Động từ biểu thị ý chí/ khả năng
- Là những động từ biểu thị quan hệ chủ quan (thái độ, sự đánh giá, ý muốn, ý chí…) của người nói đối với nội dung của câu nói hoặc với hiện thực khách quan
- Gồm các động từ : cần, phải, định, toan, nỡ, bèn, hòng, nên, chực, đành,
Ý nghĩa: + nêu 1 khả năng, ý chí, nguyện vọng
+ không chỉ 1 nội dung cụ thể nào
+ thường kết hợp với 1 yếu tố khác để bổ sung ý nghĩa
phải + học tiếng Anh cho tốt
mong+ cậu ấy sẽ đến
Trang 12-Có thể là hành động chi phối đến sự việc hoặc hành động hướng đến sự việc
-Đặc điểm
-Gồm có các tiểu loại sau:
+ Động từ chỉ vận động có hướng, GS.TSKH Nguyễn Lai gọi là “từ chỉ hướng vận động tiếng Việt”
VD: lên, xuống, qua, lại, ra, vào, sang, về, tới,
+ Động từ ngoại hướng là động từ chỉ hành động chung chung, có khả năng kết hợp rộng rãi với yếu tố phụ
VD: học tập, xây dựng, ăn uống,
Nhóm động từ này không thể biểu thị mức độ tăng giảm như động từ chỉ hoạt động tình cảm hoặc động từ biểu thị khả năng, ý chí
VD: chị hơi làm việc, bạn rất ăn phở,
- Có thể biểu thị ý nghĩa A đi A lại:
+ ‘ khuyên, bảo, bắt, đề nghị, yêu cầu, cử, bầu cử,…’
+ ‘ cho, gửi, biếu, tặng, xin,…’
Trang 13+ Một yếu tố chỉ đối tượng mà hoạt động hướng đến
Biểu thị những lời nói, những nhận định về một sự tình nào đó
+ Thường có yếu tố phụ nêu rõ cái nội dung mà ĐTTT nhằm vào
+ Yếu tố phụ có hình thức là một mệnh đề liên kết với ĐTTT qua liên từ
“rằng/là”
- Ví dụ: Tôi nghĩ rằng bạn nên đi ăn cơm
Em tưởng là hôm nay được nghỉ học
Anh định là ngày mai đi Hà Nội
+ Nhóm được, bị, mắc, chịu,…: Chủ thể luôn là kẻ chịu tác động, hay chịu tiếp
nhận tác động, chứ không phải gây ra hành động Có sắc thái nghĩa khác nhau với từng từ/ do chủ quan
Ví dụ: Nó bị bệnh
+ Nhóm trở thành, trở nên, hóa ra,…: Biểu thị một quá trình biến đổi Yếu tố
phụ đi kèm là một từ, một ngữ Chúng không tồn tại độc lập mà có khác nhau
về sắc thái nghĩa
Ví dụ: Vì chuyện này mà cậu ta đã trở thành một kẻ ăn chơi đàng đúm
Trang 141.2.9 Động từ là/hệ từ “là”
-“Là”không mang ý nghĩa chỉ một hành động tác động đến đối tượng mà thể hiện đồng nhất giữu 2 thực thể A là B
-Dùng với ý nghĩa đánh giá bình phẩm
1.3 Động từ trong truyện thơ
a) Đặc điểm động từ trong truyện thơ:
- Giá trị nghệ thuật của từ nói chung và động từ nói riêng trong một tác phẩm văn học hay cụ thể là truyện thơ không chỉ nằm ở nghĩa gốc, nghĩa đen được định nghĩa sẵn trong từ điển mà còn là nghĩa ngữ cảnh, nghĩa kết hợp, nghĩa bóng, nghĩa liên tưởng trong quan hệ liên tưởng (trục dọc) và nghĩa ngữ pháp trong quan hệ kết hợp (trục ngang) - Đó phải là một động từ đúng ý mà tác giả muốn diễn đạt, ngắn gọn, hàm xúc Ví dụ khi Nguyễn Du miêu tả Thuý Vân
“Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da” còn khi tả Thuý Kiều lại dùng “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” các động từ “thua”, “nhường” mang sắc thái khác hoàn toàn với “ghen”, “hờn” là dụng ý của tác giả để tiên đoán trước
về cuộc đời của Vân và Kiều - Động từ trong truyện thơ phải diễn tả được tính nghệ thuật của mình, điều này phụ thuộc vào sự tinh tế trong cách dùng từ của tác giả Ví dụ, trong câu thơ “Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” (Truyện Kiều) Nguyễn Du đã sử dụng động từ “thoắt” để chỉ sự đứt gãy trong cuộc đời Đạm Tiên (choáng váng, bất ngờ) - Ngoài ra, động từ trong truyện thơ còn phải đáp ứng được yêu cầu về cấp độ âm vị, âm tiết (thanh điệu, âm tiết đóng/ mở…)
b) Cách sử dụng động từ trong truyện thơ:
- Cách sử dụng động từ trong truyện thơ chủ yếu đến từ sự sáng tạo của tác giả
Có thể sử dụng nhiều từ Hán Việt xen lẫn Thuần Việt để tạo nên những sắc thái khác nhau trong cùng hành động của nhân vật hoặc ngược lại sử dụng nhiều động từ khác nhau cho cùng 1 ý nghĩa - Ví dụ theo “Từ điển Truyện Kiều”, Đào Duy Anh đã xem 3 từ “định”, “toan”, “rắp” đồng nghĩa với nhau khi dùng
từ này để diễn tả cho từ kia
c) Tài liệu tham khảo:
- Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn học - Theki.vn
- Phân Tích Đặc Điểm Ngôn Ngữ Văn Học
- NHẬN XÉT VỀ ĐỘNG TỪ TÌNH THÁI TRONG TRUYỆN
KIỀU-NGUYỄN DU
Trang 15CHƯƠNG 2:KHẢO SÁT ĐỘNG TỪ TRONG
TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU
2.1 Giới thiệu về truyện Kiều của Nguyễn Du
Đoạn trường tân thanh (chữ Hán: 斷腸新聲), thường được biết đến với cái tên đơn giản là Truyện Kiều (chữ Nôm: 傳翹), là một truyện thơ của đại thi hào Nguyễn Du Đây được xem là truyện thơ nổi tiếng nhất và xét vào hàng kinh điển trong văn học Việt Nam, tác phẩm được viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát, gồm 3254 câu
Câu chuyện dựa theo tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một thi sĩ thời nhà Minh, Trung Quốc
Tác phẩm kể lại cuộc đời, những thử thách và đau khổ của Thúy Kiều, một phụ
nữ trẻ xinh đẹp và tài năng, phải hy sinh thân mình để cứu gia đình Để cứu cha
và em trai khỏi tù, cô bán mình kết hôn với một người đàn ông trung niên, không biết rằng hắn ta là một kẻ buôn người, và bị ép làm kĩ nữ trong lầu xanh
- Giá trị nội dung:
+ Thể hiện khát vọng về tình yêu tự do và mơ ước công lí
+ Là tiếng kêu thương đến đứt ruột cho thân phận con người, đặc biệt là nữ tài trong xã hội phong kiến
+ Là bản cáo trạng đanh thép tội ác của các thế lực đen tối trong xã hôi xưa Nguyễn Du phê phán mạnh mẽ sự "lên ngôi" của thế lực đồng tiền
+ Là bức chân dung tinh thần tự họa của Nguyễn Du với "con tim thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời", trái tim chan chứa tình yêu thương con người
- Giá trị nghệ thuật:
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật
+ Nghệ thuật tự sự mới mẻ
+ Thể loại
Trang 16+ Ngôn ngữ trong sáng, điêu luyện, giàu sức gợi cảm, ẩn dụ, điển cố,
+ Giọng điệu cảm thương rất phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo của Nguyên Du
2.2 Thống kê động từ được sử dụng trong truyện Kiều của
Nguyễn Du (đoạn Kiều bán mình chuộc cha)
LOẠI ĐỘNG TỪ SỐ
ĐỘNG
TỪ
TỔNG SỐ LẦN XUẤT HIỆN
Trang 17liều , ký , khắng khít , phụ (2), ngậm , tấp nập , nức nở , ngập ngừng , xót xa , đau lòng (3), bâng khuâng
Đoạn trích gồm 231 câu thơ , Động từ nội động xuất hiện nhiều nhất từ câu 573 đến câu 724 ( 41 lần) ít nhất là từ câu 725 đến 804 ( 11lần) Động từ nội động được sử dụng nhiều nhất trong đoạn thơ : nghĩ (4 lần) , làm (3 lần ), đau lòng (3 lần ), ngồi (2 lần ) , lạy (2 lần ) , về (2 lần )
2.3.2.Động từ hoạt động tình cảm
Trong tác phẩm“ Truyện Kiều” đoạn Kiều bán mình chuộc cha (câu 573-804)
sử dụng tổng cộng 18 động từ biểu thị hành động tình cảm với số lần xuất hiện
là 21 lần Đoạn trích gồm 231 câu thơ, động từ biểu thị hành động tình cảm xuất hiện nhiều nhất là từ câu 573-655 (10 lần), tiếp theo từ câu 656-733 (6 lần) và ít nhất từ câu 734-804 (5 lần)
Các động từ biểu thị hành động tình cảm được sử dụng trong “Truyện Kiều”
đoạn Kiều bán mình chuộc cha (573-804) là: thương (3 lần); tiếc (2 lần); thẹn (2 lần); hoảng hốt, ngại ngùng, e, buồn, dứt, sầu, bàng hoàng, thổn thức, thẹn
thùng, tương tư, cười, nức nở, dặn, say (1 lần)
2.3.3.Động từ chỉ sự xuất hiện,tồn tại,tiêu biến
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đoạn thơ Kiều Bán Mình Chuộc Cha từ câu 573-804 tổng cộng có 13 động từ chỉ sự xuất hiện,tồn tại,tiêu biến với số lần
xuất hiện là 53 lần.Đoạn trích gồm 231 câu thơ,động từ chỉ sự xuất hiện,tồn
tại,tiêu biến nhiều nhất là từ câu 724-804 (25 lần),ít nhất là từ câu 573-647 (13 lần) còn lại từ 648-723(15 lần)
Các động từ chỉ sự xuất hiện,tồn tại,tiêu biến được sử dụng trong đoạn thơ là: còn,có (22 lần) ;mất (1lần);tan (6 lần);trôi (1 lần);rụng (3);rơi(3 lần), ở (3 lần);đi (2 lần);nổi(1 lần );phai (1 lần); tàn (3 lần);đầy(3 lần);ngồi (4 lần)
2.3.4.Động từ biểu hiện ý chí/khả năng
Tổng cộng 12 động từ biểu thị ý chí/khả năng được xuất hiện trong truyện với tần suất xuất hiện là 33 lần Đoạn trích gồm 213 câu thơ, câu từ số 648 -> 773
có động từ biểu thị ý chí/khả năng xuất hiện nhiều nhất (20 lần) và câu từ số
774 ->804 có động từ biểu thị ý chí khả năng xuất hiện ít nhất (3 lần)
Các động từ biểu thị ý chí/khả năng được sử dụng là: chưa kịp,trông, định, dám,
nỡ, tự (1 lần); mong, đành, quyết (2 lần);phải (3 lần); rằng(8 lần); thôi (11 lần)
Trang 182.3.5.Động từ biểu thị hành động ngoại hướng
- Về (574); lạy (591); rút (593); đồn đại (622); rước (630); dâng (671); gánh vác (674); sang (685); buộc (688); giục giã (694); xuống (710); ghé (714); hỏi han (714); hở (721); ngồi (724); lạy (724); trông ra (743); về (744); gửi lại (751); đến (779); về (785); sinh ra (797); gói vào (800)
- Động từ biểu thị hành động ngoại hướng xuất hiện trong đoạn này là 23 lần; xuất hiện nhiều nhất là từ câu 710-800 (13 lần), tiếp theo là từ câu 622-694 (7 lần), và ít nhất là từ câu 574-593 (3 lần)
- Số lần xuất hiện là: về (3 lần); lạy (2 lần); rút, đồn đại, rước, dâng, gánh vác, sang, buộc, giục giã, xuống, ghé, hỏi han, hở, ngồi, trông ra, gửi lại, đến, sinh
ra, gói vào (1 lần)
2.3.6.Động từ yêu cầu/phát nhận
Trong tác phẩm“ Truyện Kiều” đoạn Kiều bán mình chuộc cha (câu 573-804)
sử dụng tổng cộng 13 động từ biểu thị yêu cầu/ phát nhận với số lần xuất hiện là
14 lần
Đoạn trích gồm 213 câu thơ, từ câu số 573-689 có số động từ yêu cầu/ phát nhận xuất hiện nhiều 11 lần, còn lại 3 lần là từ câu 700-804.Các động từ biểu thị yêu cầu, phát nhận được sử dụng trong “Truyện Kiều” đoạn Kiều bán mình chuộc cha (573-804) là: chuộc (1), lót (1), luồn(1), ép(1), mua(1), khuyên(1), bán (1) trao(1), trả(2), cầu(1), đừng(1), cho(1),đưa(1)
2.3.7.Động từ chỉ cảm nghĩ,nói năng
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đoạn thơ “Kiều bán mình chuộc cha” từ câu 573-804 có tổng cộng 10 động từ cảm nghĩ nói năng với số lần xuất hiện là 2 lần Đoạn trích gồm 231 câu thơ, động từ cảm nghĩ nói năng xuất hiện đều ở mỗi đoạn: đoạn 1 ( từ câu 573-647), đoạn 2 ( từ câu 648-723), đoạn 3 ( từ câu 724-804) mỗi đoạn xuất hiện 8 động từ cảm nghĩ nói năng
Xuất hiện 10 động từ cảm nghĩ nói năng với tần suất xuất hiện là 24 lần Trong đó: biết (6 lần),nghĩ(4 lần),kể(4 lần),thấy(3 lần),mong(2 lần),quên(1 lần),định(1 lần),kêu(1 lần),mừng(1 lần),lo(1 lần)
2.3.8.Động từ khuyết ý
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đoạn Kiều Bán Mình Chuộc Cha từ câu 573-804 tổng cộng có 5 động từ khuyết ý với số lần xuất hiện là 9 lần Trong đó được sử dụng nhiều nhất là: được (3 lần), ít nhất là mắc (1 lần), chịu (1 lần), ngoài ra còn có được (2 lần), đành (2 lần)
Trang 192.3.9.Động từ “là”/hệ từ là
Trong Truyện Kiều, từ câu thơ 573 đến câu thơ 804, động từ “là”/ hệ từ “là” được sử dụng 6 lần
Cụ thể ở những câu:
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ (588)
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người (594)
Cũng trong nha dịch lại là từ tâm (608)
Một lần sau trước cũng là (663)
Tan nhà là một thiệt mình là hai (682)
Trong đoạn trích Kiều bán mình chuộc cha ( từ câu thơ 573 đến câu thơ 804), động từ “là”/ hệ từ “là” được sử dụng nhiều nhất là từ câu 651 đến câu 728 (4 lần), tiếp theo là câu 573 đến câu 650 (2 lần) và từ câu 729 đến câu 804 không
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
Làm con trước phải đền ơn sinh thành
Rụng rời khung dệt, tan tành gói may
Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn
Dặn nàng qui liệu trong đôi ba ngày
Thương tình con trẻ thơ ngây, Đau lòng tử biệt sinh ly, Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân
Ngại ngùng giợn gió e sương, Ngại ngùng giợn gió e sương,
Trang 20Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi
Vội vàng kẻ giữ người coi, Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời!
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai
Nợ tình chưa trả cho ai
Đặc điểm ngữ nghĩa Tần ngần dạo gót lầu trang, Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về, 575 Hàn huyên chưa kịp giãi dề, Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao
Người nách thước, kẻ tay đao;
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi
Già giang một lão một trai,
574 Ngoại hương: Làng ngoại, quê ngoại
Giãi dề: Giải bày, chuyện trò
576 Sai nha: Nha lại do quan trên sai phái đi
577 Thước: Tay thước, một thứ võ khí cổ, bằng gỗ, dài độ một thước tây, cạnh vuông bốn góc, dùng để đánh người
Nách thước: Nách cắp tay thước
Trang 21Đao: Dao to, mã tấu, thứ võ khí bằng sắt, lưỡi to
579 Già: Cái gông Giang: Khiêng đi, giải đi ở đây nói cha con viên ngoại và Vương quan bị đóng gông lạ
Nghĩa từ câu 573 đến 579
Tai họa đã đột ngột ập đến Vương gia trong lúc người thiếu nữ còn đang thổn thức với mối tình đầu Bọn sai nha đầu trâu, mặt ngựa đã đánh đập cha và em nàng một cách tàn nhẫn trong nỗi oan kêu trời không thấu
580 Một dây vô lại buộc hai thâm tình
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh, Rụng rời khung dệt, tan tành gói may
Đồ tế nhuyễn, của riêng tây, Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham
585 Điều đâu bay buộc ai làm ? Này ai dan dậm, giật giàm bỗng dưng ?
Hỏi ra sau mới biết rằng:
Phải tên xưng xuất là thằng bán tơ
Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ, 590 Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây
Hạ từ van lạy suốt ngày, Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn
Rường cao rút ngược dây oan, Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người
595 Mặt trông đau đớn rụng rời, Oan này còn một kêu trời, nhưng xa
Một ngày lạ thói sai nha, Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
Sao cho cốt nhục vẹn tuyền, 600 Trong khi ngộ biến tòng quyền biết sao ?
Trang 22Duyên hội ngộ, đức cù lao, Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn ?
Để lời thệ hải minh sơn, Làm con trước phải đền ơn sinh thành 605 Quyết tình nàng mới hạ tình:
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha !
Họ Chung có kẻ lại già, Cũng trong nha dịch lại là từ tâm Thấy nàng hiếu trọng tình thâm, 610 Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay
Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi Hãy về tạm phó giam ngoài, Dặn nàng qui liệu trong đôi ba ngày 615 Thương tình con trẻ thơ ngây, Gặp cơn vạ gió tai bay bất kỳ!
Đau lòng tử biệt sinh ly, Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên !
Hạt mưa sá nghĩ phận hèn, 620 Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân
Sự lòng ngỏ với băng nhân, Tin sương đồn đại xa gần xôn xao Gần miền có một mụ nào, Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh 625 Hỏi tên rằng: Mã Giám sinh Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Trang 23Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao
Trước thầy sau tớ lao xao 630 Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng, Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra Nỗi mình thêm tức nỗi nhà, Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng ! 635 Ngại ngùng giợn gió e sương, Nhìn hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày
Mối càng vén tóc bắt tay, Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai Ngại ngùng giợn gió e sương,
640 ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ
Mặn nồng một vẻ một ưa, Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiều, Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường ? 645 Mối rằng: đáng giá nghìn vàng, Gấp nhà nhờ lượng người thương dám nài
Cò kè bớt một thêm hai, Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm Một lời thuyền đã êm dằm 650 Hãy đưa canh thiếp trước cầm làm ghi
Định ngày nạp thái vu qui, Tiền lưng đã sẵn việc gì chẳng xong ! Một lời cậy với Chung công,
Trang 24Khất từ tạm lĩnh Vương ông về nhà
655 Thương tình con trẻ cha già, Nhìn nàng ông những máu sa ruột dàu: Nuôi con những ước về sau, Trao tơ phải lứa, gieo cầu đáng nơi
Trời làm chi cực bấy trời, 660 Này ai vu thác cho người hợp tan !
Búa rìu bao quản thân tàn,
Nỡ đầy đọa trẻ, càng oan khốc già
Một lần sau trước cũng là, Thôi thì mặt khuất chẳng thà lòng đau ! 665 Theo lời càng chảy dòng châu, Liều mình ông rắp gieo đầu tường vôi
Vội vàng kẻ giữ người coi, Nhỏ to nàng lại tìm lời khuyên can:
Vẻ chi một mảnh hồng nhan, 670 Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành Dâng thư đã thẹn nàng Oanh, Lại thua ả Lý bán mình hay sao ? Cỗi xuân tuổi hạc càng cao, Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành 675 Lòng tơ dù chẳng dứt tình, Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non
Thà rằng liều một thân con, Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây
Phận sao đành vậy cũng vầy, 680 Cầm như chẳng đậu những ngày còn xanh
Trang 25Cũng đừng tính quẩn lo quanh, Tan nhà là một thiệt mình là hai Phải lời ông cũng êm tai, Nhìn nhau giọt vắn giọt dài ngổn ngang 685 Mái ngoài họ Mã vừa sang,
Tờ hoa đã ký, cân vàng mới trao Trăng già độc địa làm sao ? Cầm dây chẳng lựa buộc vào tự nhiên Trong tay đã sẵn đồng tiền, 690 Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì !
Họ Chung ra sức giúp vì,
Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong Việc nhà đã tạm thong dong, Tinh kỳ giục giã đã mong độ về
695 Một mình nàng ngọn đèn khuya,
áo dầm giọt lệ, tóc xe mối sầu Phận dầu, dầu vậy cũng dầu, Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời! Công trình kể biết mấy mươi
700 Vì ta khăng khít, cho người dở dang
Thề hoa chưa ráo chén vàng, Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa Trời Liêu non nước bao xa
Nghĩ đâu rẽ cửa chia nhà tự tôi
705 Biết bao duyên nợ thề bồi Kiếp này thôi thế thì thôi còn gì Tái sinh chưa dứt hương thề
Trang 26Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai
Nợ tình chưa trả cho ai,
710 Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan
Nỗi riêng riêng những bàng hoàng, Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn
Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân, Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:
715 Cơ trời dâu bể đa đoan, Một nhà để chị riêng oan một mình,
Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh ? Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây\?
588 Xưng xuất: Xưng ra, khai ra
590 Loà mây: Làm mờ cả bầu trời ý nói: một vụ hết sức oan uổng
594 Hạ từ: Hạ lời, nói lời thanh minh để kêu cầu van xin
Lân tuất: Thương xót, thương tình ý cả câu: tụi sai nha cứ phủ tay đánh đập, mặc những lời kêu van của nhà Kiều, chúng chỉ làm điếc làm ngơ
593 Rường cao: Thanh rường nhà bắc ở trên cao Dây oan: Dây trói oan uổng Tụi sai nha trói và treo ngược hai cha con họ Vương lên rường nhà
599 Cốt nhục: Ruột thịt, chỉ Vương ông và Vương Quan
600 Ngộ biến tòng quyền: Gặp cảnh biến phải theo đạo "quyền" (không thể giữ nguyên đạo "kinh" như lúc bình thường được) ý nói: Phải tuỳ theo hoàn cảnh
mà xử sự cho thích hợp
601 Hội ngộ: Gặp gỡ gắn bó nhau Chỉ mối tình duyên giữa Kiều với Kim Trọng
Trang 27Cù lao: Công ơn sinh dưỡng khó nhọc của cha mẹ
603 Thệ hải minh sơn: Chỉ non thề bể
604 Sinh thành: Công ơn cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng nên người
605 Hạ tình: Tỏ bầy ý nghĩ
606 Rẽ cho: Lời gạt đi ý kiến những người khác để nói lên ý kiến của mình một cách kiên quyết
607 Lại già: Người gia lại già
608 Nha dịch: Người làm việc ở nơi gia môn, tức nơi công sở của các phủ huyện
614 Qui liệu: Thu xếp, lo liệu
617 Tử biệt sinh ly: Chết vĩnh biệt nhau gọi là "tử biệt", sống mà xa lìa nhau gọi là "sinh ly" Đó là hai cảnh thương tâm lớn của đời người Tuy là hai cảnh, nhưng người ta thường dùng làm một thành ngữ, để nói chung cho người gặp cảnh "tử biệt" cũng như người gặp cảnh "sinh ly"
619 Hạt mưa: Chỉ thân phận người con gái
Ca dao:
Thân em như hạt mưa sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng lầy
620 Tấc cỏ, ba xuân: Do chữ tnốn thảo, tâm xuân Thơ tả tình đi chơi xa nhớ
mẹ của Mạnh Giao đời Đường có câu: Dục tương thốn thảo tâm, báo đáp tam xuân huy (Ai bảo cái lòng của ngọn cỏ một tấc (ngọn cỏ ngắn) báo đáp được ánh sáng ấm áp của ba tháng xuân) Tấc cỏ: Ví với người con Ba xuân Ví với công ơn cha mẹ
621 Băng nhân: Người làm mối
622 Tin sương: Do chữ sương tín Tin sương là ngụ ý chỉ tin tức truyền đi
624 Viễn khách: Khách phương xa
625 Giám sinh: Sinh viên học tại Quốc tử giám, một thứ trường đại học của triều đình phong kiến, lập ở kinh đô để đào tạo người ra làm quan
626 Lâm thanh: Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc)
627 Tử tuần: Bốn mươi tuổi (mỗi một tuần là mười tuổi)
Trang 28630 Nỗi mình: Nỗi riêng của mình, chỉ cuộc tình duyên dở dang với Kim
Trọng Nỗi nhà: Nỗi tai vạ của toàn gia đình họ Vương
635 Rợn gió: Sợ gió
638 Điệu: Cách điệu, cốt cách
644 Sinh nghi: Đồ dẫn cưới, tiền dẫn cưới
645 Nghìn vàng: Đời hán, một nghìn vàng tức là một cân vàng, sau dùng để chỉ nghìn lạng vàng
646 Rớp nhà: Nhà gặp lúc hoạn nạn
649 Êm dằm: ý nói sự việc đã lo lót xong xuôi, êm thấm, giống như chiếc
thuyền đã đứng êm dằm, khôn còn tròng trành nữa
650 Canh thiếp: Lá thiếp biên tên, tuổi (nhân trong thiếp có biên tuổi, tức niên canh, nên gọi là canh thiếp) Theo hôn lễ xưa, khi bắt đầu dạm hỏi, nhà trai, nhà gái trao đổi canh thiếp của trai gái để đính ước với nhau
651 Nạp thái: Chỉ lễ dẫn đồ cưới
Vu qui: Về nhà chồng, chỉ lệ đón dâu
654 Khất tử: Đơn xin (Nhà Kiều làm đơn xin tạm tha cho Vương ông)
658 Gieo cầu: Hán Vũ đế kén phò mã, cho công chúa ngồi lên lầu, ném quả cầu xuống, ai cướp được thì làm phò mã
660 Vu thác: Vu là đổ tội cho, thác là đặt điều ra
669 Một mảnh hồng nhan: Như nói một mụn con gái
671 Nàng Oanh: Nàng Đề Oanh Theo Liệt nữ truyện: Để Oanh người đời Hán, khi cha nàng là Thuấn Vu ý, phạm tội, bị hạ ngục ở Tràng An, chờ ngày hành hình, Đề Oanh dâng thư lên vua Văn đế, xin nộp mình làm giá hầu cho các nhà quan để chuộc tội cho cha, Văn đế cảm động, xuống chiếu tha cho cha nàng
672 ả Lý: Nàng Lý Ký Theo sách Đường dại tùng thư: Lý Ký, đời đường nhà nghèo, tự nguyện bán mình cho người làng đem cúng thần rắn, để lấy tiền nuôi cha mẹ Về sau nàng chém chết thần rắn, rồi lấy vua Việt vương
673 Cỗi xuân: Gốc cây xuân, chỉ người cha Sách xưa nói: Tuổi hạc: Tuổi con chim hạc, như nói tuổi thọ Sách xưa nói, chim hạc sống lâu một nghìn năm
675 Lòng tơ: Tấm lòng thương con vương vấn không dứt
676 Gió mưa: Chỉ những tai biến xảy đến
Trang 29Nước non: Chỉ cơ nghiệp nhà (nước non cũng như giang sơn)
678 Hoa dù rã cánh: Tức cây còn xanh lá, nói Vương ông được an toàn
679 Cũng vầy: cũng vậy, cũng thế thôi
680 Đậu: Một cái hoa kết được thành quả, hay một cái quả giữ được đến lúc chín, không bị nửa chừng rụng đi, thì người ta gọi là cái hoa đậu, cái quả đậu
Cả câu: ý nói cũng xem như là đã chết ngay từ lúc còn nhỏ tuổi
697 Dầu: Cũng như nghĩa đành (dầu lòng, đành lòng)
698 Một lời: Một lời thề nguyền ý Kiều nói: Số phận ra sao cũng đành, nhưng chỉ đau lòng là trót đeo đẳng lời thề với Kim Trọng
703 Trời liêu: Liêu dương
707 Tái sinh: Một kiếp sống nữa, kiếp sau cũng như nói lai sinh
Hương thề: Mảnh hương thề nguyền Xem chú thích 517
708 Trâu ngựa: Theo thuyết luân hồi nhà Phật: Người nào kiếp này mắc nợ ai
mà chưa trả được, thì kiếp sau phải hoá làm thân trâu ngựa nhà người ta để đền trả cho xong
Nghì: Tức là chữ "nghĩa" được đọc chệch ra
Trúc mai: Tình nghĩa bền chặt thân thiết như vậy cây trúc, cây mai thường được trồng gần nhau
710 Khối tình: Tình sử: Xưa có một cô gái yêu một người lái buôn Người lái buôn đi mãi chưa về, cô ta ốm tương tư mà chết Khi hoả táng, quả tim kết thành một khối rắn, đốt không cháy, đập không vỡ Sau người lái buôn trở về, thương khóc, nước mắt nhỏ vào khối ấy liền tan ra thành huyết
Tuyền đài: Nơi ở dưới suối vàng, tức nơi ở của người chết
711 Bàn hoàn: ở đây có nghĩa là nghĩ quanh, nghĩ quẩn mãi không dứt
713 Giấc xuân: Giấc ngủ ngon lành
715 Cơ trời: Tức thiên cơ, máy trời
Trang 30Dâu bể: Cũng như "bể dâu"
Đa đoan: Nhiều mối nhiều việc
Từ 580 đến 624 : Cha của Kiều bị oan , và bị đe dọa phải có ba trăm lạng mới chịu thả người Là một người chị , Kiều phải gánh trách nhiệm thay cha bằng việc bán mình để cứu lấy thân cha giữa lúc nàng với Kim
Trọng đang giữa lúc tình nồng nghĩa mặn Bán mình chuộc cha , Kiều không khỏi xót thương đau đớn cho số phận của mình Kiều đành gửi gấm tình yêu của mình cho em là Thúy Vân giúp mình đi tiếp với Kim Trọng
Từ 625 đến 634 : Giữa lúc rơi vào tai họa không thể lường trước được thì
sự xuất hiện của Mã Giám Sinh tưởng chừng có thể giúp Kiều chuộc cha
Từ 634 đến 724 : Cuộc buôn bán diễn ra giữa tên họ Mã và Tú Bà
725 Giữa đường đứt gánh tương tư, Loan giao chắp mối tơ thừa mặc em
Kể từ khi gặp chàng Kim, Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
730 Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai ! Ngày xuân em hãy còn dài, Xót tình máu mủ, thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây
735 Chiếc thoa với bức tờ mây, Duyên này thì giữ vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên
Mất người còn chút của tin,
740 Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Mai sao dầu có bao giờ
Trang 31Đốt lò hương ấy, so tơ phím này Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
745 Hồn còn mang nặng lời thề, Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai;
Dạ đài cách mặt khuất lời, Rẩy xin chén nước cho người thác oan
Bây giờ trâm gẫy bình tan,
750 Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân Trăm nghìn gửi lại tình quân,
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi Phận sao phận bạc như vôi,
Đã đành nước chẩy hoa trôi lỡ làng
755 ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây! Cạn lời hồn ngất máu say, Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng Xuân Huyên chợt tỉnh giất nồng,
760 Một nhà tấp nập, kẻ trong người ngoài
Kẻ thang người thuốc bời bời, Mới dằn cơn vựng, chưa phai giọt hồng
Hỏi: Sao ra sự lạ lùng?
Kiều càng nức nở mở không ra lời
765 Nỗi nàng Vân mới rỉ tai, Chiếc thoa này với tờ bồi ở đây Này cha làm lỗi duyên mày, Thôi thì nỗi ấy sau này đã em
Trang 32Vì ai rụng cải rơi kim,
770 Để con bèo nổi mây chìm vì ai Lời con dặn lại một hai,
Dẫu mòn bia đá, dám sai tấc vàng Lậy thôi, nàng lại thưa chiềng, Nhờ cha trả được nghĩa chàng cho xuôi
775 Sá chi thân phận tôi đòi, Dẫu rằng xương trắng quê người quản đâu
Xiết bao kể nỗi thảm sầu ! Khắc canh đã giục nam lâu mấy hồi Kiệu hoa đâu đã đến ngoài, 780.Quản huyền đâu đã giục người sinh ly
Đau lòng kẻ ở người đi,
Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm
Trời hôm mây kéo tối rầm, Rầu rầu ngọn cỏ đầm đầm cành sương
785 Rước nàng về đến trú phường, Bốn bề xuân khóa một nàng ở trong Ngập ngừng thẹn lục e hồng, Nghĩ lòng lại xót xa lòng đòi phen Phẩm tiên rơi đến tay hèn, 790.Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai:
Biết thân đến bước lạc loài, Nhị đào thà bẻ cho người tình chung
Vì ai ngăn đón gió đông, Thiệt lòng khi ở đau lòng khi đi 795.Trùng phùng dầu họa có khi,
Trang 33Thân này thôi có còn gì mà mong
Đã sinh ra số long đong, Còn mang lấy kiếp má hồng được sao ?
Trên yên sẵn có con dao, 800.Giấu cầm nàng đã gói vào chéo khăn:
Phòng khi nước đã đến chân, Dao này thì liệu với thân sau này Đêm thu một khắc một chầy, Bâng khuâng như tỉnh như say một mình
726 Kéo loan: do chữ loan giao, tức thứ keo chế bằng máu chim loan Tương truyền người xưa thường dùng để nối dây đàn và dây cung
Mối tơ thừa: Ví dây tơ tình với dây đàn, dây tơ tình bị đứt
723 Lời non nước: Lời thề nguyền chỉ non thề bể
734 Chín suối: Do chữ cửu tuyền, chỉ nơi suối vàng
735 Tờ mây: Tờ giấy vẽ mây, tức tờ giấy ghi lời thề nguyền của Kim, Kiều
740 Mảnh hương nguyền: Những manhr gỗ thơm đã đốt dở trong cuộc thề nguyền của Kim, Kiều Thời xưa, khi thề nguyền với nhau, người ta thường đốt hương
746 Bồ liễu: Một loại cây ưa mọc gần nước Cây bồ liễu rụng lá sớm hơn hết các loài cây, vì cái thể chất yếu đuối đó nên trong văn cổ thường dùng để ví với người phụ nữ
747 Dạ dài: Đài đêm tối, nghĩa bóng là cõi chết
749 Trâm gẫy bình tan: Thơ Bạch Cư Dị, đời Đường: Bình truỵ trâm chiết thị
hà như, tự thiếp kim triêu dữ quân biệt (Cái cảnh bình rơi trâm gãy là thế nào?
nó giống như cảnh biệt ly của thiếp với chàng buổi sáng nay) Đây dùng chỉ cuộc tình duyên tan vỡ
751 Tình quân: Người tình, cũng như tình lang
753 Phận bạc: Chính nghĩa là phận mỏng, tức bạc mệnh
754 Nước chảy hoa trôi: Hoa rụng xuống, nước trôi đi, nguyên chỉ cảnh xuân tàn, sau thường mượn để nói sự tàn tạ của đời người
Trang 34759 Xuân huyên: Xuân đường, huyên đường, tức cha mẹ
762 Vựng: Cơn ngất, bất tỉnh nhân sự
Giọt hồng: Giọt nước mắt có máu, giọt lệ thảm
769 Nói tình duyên nửa chừng bị chia lìa, tan vỡ
772 Mòn bia đá: Chỉ một khoảng thời gian rất lâu
Tấc vàng: Tấc lòng bền vững như vàng
773 Chiềng: Trình, tiếng cổ
775 Tôi đòi: Kiều bán mình làm vợ lẽ nàng tự xem như kẻ ăn người ở
Mấy hồi: Mấy hồi trống tan canh
780 Quân huyền: Chính nghĩa là ống trúc và dây đàn, thường dùng chỉ đàn Đây nói họ Mã đưa các đồ âm nhạc đến đón Kiều
782 Đại ý cả câu: Giọt lệ rơi xuống, có thể thấm qua cả đá, tơ ruột rút ra, có thể làm chết rũ cả con tằm
Đòi phen: Nhiều phen, nhiều lúc
789 Phẩm tiên: Của trên cõi tiên Hèn hạ, tục tằn
790 Nắng giữ mưa gìn: ý nói giữ gìn trinh tiết một cách thận trọng
792 Nhị đào: Hoa đào còn phong nhị ví với người con gái còn trinh
793 Gió đông: Tiếp ý chữ nhị đào ở trên, ý nói: Không để cho người tình chung
bẻ nhị đào, giống như ngăn đón gió đông không cho đến với nhị đào vậy
795 Trùng phùng: Gặp gỡ lần thứ hai, ý nói đến sau này lại gặp Kim Trọng
799 Yên: Cái án, một loại bàn cổ, chân cao, bề mặt hẹp và dài
Từ 725 đến 804 : Kiều trao duyên cho Thúy Vân Kiều đem vật đính ước của mình trao lại cho em gái Kiều mong em gái giúp mình tiếp tục se mối duyên này với Kim Trọng
Trang 352.4.2 Động từ hoạt động tình cảm
Trong đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du ( đoạn Kiều bán mình chuộc cha)
sử dụng khá nhiều động từ chỉ hành động tình cảm : mừng, buồn, tiếc, với nhiều ý nghĩa khác nhau ”Đại thi hào Nguyễn Du” đã kết hợp những động từ
đó cùng với nhiều từ loại, thành ngữ dân gian làm cho câu thơ mang những sắc thái cảm xúc rất mạnh, rất chân thực
Về ngữ pháp
574 Tần ngần dạo gót lầu trang
575 Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về
- Động từ “mừng” giữ vai trò làm vị ngữ trong câu
- Động từ + danh từ “ thọ”: “Một đoàn mừng thọ ngoại hương mới về”
609 Thấy nàng hiếu trọng tình thâm,
610 Vì nàng nghỉ cũng thương thầm xót vay
- Động từ “thương” giữ vai trò làm vị ngữ trong câu
- Động từ + tính từ “ thầm”: Vì nàng nghĩ cũng thương thầm xót vay
617 Đau lòng tử biệt sinh ly,
618 Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!
- Động từ tiếc giữ vai trò làm vị ngữ trong câu
- Phụ từ/ trợ từ “ chẳng” + động từ: Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!
- Động từ + đại từ để hỏi “ gì”: Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên!
635 Ngại ngùng giợn gió e sương,
636 Nhìn hoa bóng thẹn, trong gương mặt dày,
637 Mối cài vén tóc bắt tay,
638 Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai