1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Đề kt tự luận phát triển kinh tế

14 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề KT Tự Luận Phát Triển Kinh Tế
Thể loại tự luận
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 133,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề KT số 3: Anh (chị) phân tích lý thuyết tăng trưởng. Anh (chị) dựa trên sự hiểu biết về lý thuyết tăng trưởng, hãy phân tích và đánh giá quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sau 30 năm mở cửa và hội nhập kinh tế Bài làm tự luận 1. Phân tích về lý thuyết tăng trưởng: • Tăng trưởng kinh tế là gì? Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản (như vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn. Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng. Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. • Khái quát về tăng trưởng Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI). Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ. • Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế Lý thuyết cổ điển: Lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế bao gồm các nhà kinh tế tiêu biểu: Adam Smith, R.Malthus, David Ricardo Adam Smith cho rằng tích lũy vốn và cả tiến bộ công nghệ cùng các nhân tố xã hội, thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một nước. Tăng sản lượng thông qua việc tăng số lượng đầu vào tương ứng – gia tăng tư bản theo chiều rộng. Tuy nhiên vì đất đai là có hạn nên đến một lúc nào đó sản lượng đầu ra sẽ tăng chậm dần R.Malthus: Dân số tăng theo cấp số nhân, còn lương thực tăng theo cấp số cộng (do sự hữu hạn của đất đai). Muốn duy trì tăng sản lượng thì phải giảm mức tăng dân số. Theo Ricardo: tăng trưởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai. Do đó đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng Tóm lại các nhà kinh tế cổ điển như Adam Smith, R.Malthus và David Ricardo nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của nguồn lực tự nhiên (như đất đai) trong tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết của Các Mác: Theo C. Mác, tăng trưởng kinh tế được thực hiện bằng hai con đường: +Tăng thêm tư liệu sản xuất và sức lao động trong các ngành sản xuất vật chất. Đó là tăng trưởng kinh tế dựa vào mở rộng quy mô sử dụng các nguồn lực, hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng. +Tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất vật chất bằng cách ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ. Đây là tăng trưởng kinh tế dựa vào nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Như vậy, tăng trưởng kinh tế không chỉ là sự gia tăng sản lượng đầu ra, mà còn là sự gia tăng quy mô và hiệu quả của các yếu tố đầu vào. Lý thuyết cổ điển mới: Trường phái “Cổ điển mới” dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế. Từ đó có thể thấy rằng, theo họ, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhu cầu, tâm lý của người tiêu dung Trường phái “Cổ điển mới” đi sâu phân tích những vấn đề tác động đến tăng trưởng kinh tế như: quan hệ cung cầu, giá cả... và những vấn đề mới như: cạnh tranh và độc quyền, khủng hoảng, thất nghiệp, phúc lợi kinh tế.. Lý thuyết trường phái Keynes: Mô hình HarrodDomar + Khi cuộc Đại khủng hoảng kinh tế xảy ra (19291933) lý thuyết cổ điển tỏ ra bất lực trong việc giải thích những hiện tượng kinh tế lúc bấy giờ như mức sản lượng thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao kéo dài. + Bên cạnh đó các thành tựu về khoa học kỹ thuật như máy kéo, phân bón thuốc trừ sâu, kỹ thuật thâm canh, giống cây mới…. giúp cho sản lượng nông nghiệp tăng lên nhanh chóng nên với lượng đất đai “có hạn” lương thực thực phẩm vẫn đủ cung cấp cho mọi người + Tác phẩm Lí thuyết tổng quát về việc làm , lãi suất và tiền tệ (The General Theory of Employment, Interest and Money) của John Maynard Keynes (1883 – 1946) được xuất bản vào năm 1936 đã nhấn mạnh các nền kinh tế hiện đại cần các chính sách chính phủ chủ động để quản lí và duy trì tăng trưởng kinh tế. Điều này đi ngược lại quan điểm của trường phái cổ điển về tăng trưởng kinh tế tự do không cần sự can thiệp của nhà nước. Kết luận rút ra từ mô hình HarrodDomar + Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ nghịch với (K) + Vì (K) cố định trong một thời kỳ, để điều chỉnh chúng ta chỉ cần điều chỉnh (g) + Sự đánh đổi giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng trong tương lai Nhược điểm của mô hình: Quá đơn giản hóa mối quan hệ giữa tích lũy tư bản (K) và tăng trưởng kinh tế (g) bỏ qua các yếu tố quan trọng như khấu hao, tiến bộ công nghệ. Như vậy lý thuyết trường phái Keynes nhấn mạnh đến vai trò của tư bảnvốn (K) đối với tăng trưởng kinh tế Lý thuyết tăng trưởng tuyến tính: Đây là mô hình xuất hiện sau chiến tranh thế giới Thứ hai. Trên cơ sở nghiên cứu quá trình tăng trưởng kinh tế mà các nước phát triển đã trải qua, nhà kinh tế học người Mỹ W. W. Rostow đã khái quát thành các giai đoạn tăng trưởng mà các nước đang phát triển nhất định sẽ phải trải qua. Theo Ông, quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia sẽ lần lượt trải qua các giai đoạn: + Giai đoạn xã hội truyền thống: nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu; năng suất lao động thấp, mức thu nhập, mức sống của dân cư rất thấp. +Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Hai đặc trưng và cũng là hai nhiệm vụ quan trọng mà các quốc gia phải thực hiện trong giai đoạn này là: thương mại hoá sản xuất và lựa chọn các ngành kinh tế mũi nhọn. +Giai đoạn cất cánh: Đây là giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh, mức thu nhập, mức sống của dân cư tăng nhanh. Giai đoạn này có những đặc trưng kinh tế quan trọng: tỷ lệ đầu tư phải lớn hơn 10% GDP; các ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng cao, trở thành “đầu tầu” kéo các ngành kinh tế khác tăng trưởng; hệ thống các định chế (hệ thống ngân hàng, các thể chế, chính sách ...) được xây dựng, hoàn thiện hỗ trợ đắc lực cho quá trình tăng trưởng

Trang 1

Đề KT số 3: Anh (chị) phân tích lý thuyết tăng trưởng Anh (chị) dựa trên sự hiểu biết về lý thuyết tăng trưởng, hãy phân tích và đánh giá quá trình tăng trưởng kinh

tế của Việt Nam sau 30 năm mở cửa và hội nhập kinh tế

Bài làm tự luận

1 Phân tích về lý thuyết tăng trưởng:

Tăng trưởng kinh tế là gì?

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản (như vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn Tiết kiệm và đầu tư

là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Khái quát về tăng trưởng

Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI)

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ

Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế

- Lý thuyết cổ điển:

Lý thuyết cổ điển về tăng trưởng kinh tế bao gồm các nhà kinh tế tiêu biểu: Adam Smith, R.Malthus, David Ricardo

- Adam Smith cho rằng tích lũy vốn và cả tiến bộ công nghệ cùng các nhân tố xã hội, thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một nước Tăng sản lượng thông qua việc tăng số lượng đầu vào tương ứng – gia tăng tư bản theo chiều rộng Tuy nhiên vì đất đai là có hạn nên đến một lúc nào đó sản lượng đầu ra sẽ tăng chậm dần

Trang 2

- R.Malthus: Dân số tăng theo cấp số nhân, còn lương thực tăng theo cấp số cộng (do sự hữu hạn của đất đai) Muốn duy trì tăng sản lượng thì phải giảm mức tăng dân số

- Theo Ricardo: tăng trưởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí này lại phụ thuộc vào đất đai Do đó đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng

Tóm lại các nhà kinh tế cổ điển như Adam Smith, R.Malthus và David Ricardo nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của nguồn lực tự nhiên (như đất đai) trong tăng trưởng kinh tế

- Lý thuyết của Các Mác:

Theo C Mác, tăng trưởng kinh tế được thực hiện bằng hai con đường:

+Tăng thêm tư liệu sản xuất và sức lao động trong các ngành sản xuất vật chất Đó

là tăng trưởng kinh tế dựa vào mở rộng quy mô sử dụng các nguồn lực, hay còn gọi

là tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng

+Tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất vật chất bằng cách ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ Đây là tăng trưởng kinh tế dựa vào nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, hay còn gọi là tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu

Như vậy, tăng trưởng kinh tế không chỉ là sự gia tăng sản lượng đầu ra, mà còn là

sự gia tăng quy mô và hiệu quả của các yếu tố đầu vào

- Lý thuyết cổ điển mới:

Trường phái “Cổ điển mới” dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng và quá trình kinh tế Từ đó có thể thấy rằng, theo họ, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhu cầu, tâm lý của người tiêu dung

Trường phái “Cổ điển mới” đi sâu phân tích những vấn đề tác động đến tăng trưởng kinh tế như: quan hệ cung cầu, giá cả và những vấn đề mới như: cạnh tranh và độc quyền, khủng hoảng, thất nghiệp, phúc lợi kinh tế

- Lý thuyết trường phái Keynes:

- Mô hình Harrod-Domar

+ Khi cuộc Đại khủng hoảng kinh tế xảy ra (1929-1933) lý thuyết cổ điển tỏ ra bất lực trong việc giải thích những hiện tượng kinh tế lúc bấy giờ như mức sản lượng thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao kéo dài

+ Bên cạnh đó các thành tựu về khoa học kỹ thuật như máy kéo, phân bón thuốc

trừ sâu, kỹ thuật thâm canh, giống cây mới… giúp cho sản lượng nông nghiệp

Trang 3

tăng lên nhanh chóng nên với lượng đất đai “có hạn” lương thực thực phẩm vẫn đủ cung cấp cho mọi người

+ Tác phẩm Lí thuyết tổng quát về việc làm , lãi suất và tiền tệ (The General Theory of Employment, Interest and Money) của John Maynard Keynes (1883 – 1946) được xuất bản vào năm 1936 đã nhấn mạnh các nền kinh tế hiện đại cần các chính sách chính phủ chủ động để quản lí và duy trì tăng trưởng kinh tế Điều này

đi ngược lại quan điểm của trường phái cổ điển về tăng trưởng kinh tế tự do không cần sự can thiệp của nhà nước

-Kết luận rút ra từ mô hình Harrod-Domar

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ nghịch với (K) + Vì (K) cố định trong một thời kỳ, để điều chỉnh chúng ta chỉ cần điều chỉnh (g) + Sự đánh đổi giữa tiêu dùng hiện tại và tiêu dùng trong tương lai

-Nhược điểm của mô hình: Quá đơn giản hóa mối quan hệ giữa tích lũy tư bản (K)

và tăng trưởng kinh tế (g) bỏ qua các yếu tố quan trọng như khấu hao, tiến bộ công nghệ

Như vậy lý thuyết trường phái Keynes nhấn mạnh đến vai trò của tư bản/vốn (K) đối với tăng trưởng kinh tế

- Lý thuyết tăng trưởng tuyến tính:

Đây là mô hình xuất hiện sau chiến tranh thế giới Thứ hai Trên cơ sở nghiên cứu quá trình tăng trưởng kinh tế mà các nước phát triển đã trải qua, nhà kinh tế học người Mỹ W W Rostow đã khái quát thành các giai đoạn tăng trưởng mà các nước đang phát triển nhất định sẽ phải trải qua Theo Ông, quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia sẽ lần lượt trải qua các giai đoạn:

+ Giai đoạn xã hội truyền thống: nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu; năng suất lao động thấp, mức thu nhập, mức sống của dân cư rất thấp

+Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Hai đặc trưng và cũng là hai nhiệm vụ quan trọng

mà các quốc gia phải thực hiện trong giai đoạn này là: thương mại hoá sản xuất và lựa chọn các ngành kinh tế mũi nhọn

+Giai đoạn cất cánh: Đây là giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh, mức thu nhập, mức sống của dân cư tăng nhanh Giai đoạn này có những đặc trưng kinh tế quan trọng: tỷ lệ đầu tư phải lớn hơn 10% GDP; các ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng cao, trở thành “đầu tầu” kéo các ngành kinh tế khác tăng trưởng; hệ thống các định chế (hệ thống ngân hàng, các thể chế, chính sách ) được xây dựng, hoàn thiện hỗ trợ đắc lực cho quá trình tăng trưởng kinh tế

Trang 4

+ Giai đoạn chín muồi về kinh tế: Đây là giai đoạn hoàn thành việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội; quốc gia nông nghiệp đã trở thành quốc gia công nghiệp; đời sống vật chất và tinh thần của dân cư khá cao; các mặt của đời sống kinh tế - xã hội được phát triển Xã hội nông nghiệp chuyển thành xã hội công nghiệp

+ Giai đoạn xã hội tiêu dùng: Giai đoạn này được đặc trưng bởi mức sống, mức tiêu dùng rất cao

Mô hình này có nhiều điểm hợp lý và việc nghiên cứu nó là bổ ích đối với nhiều quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, mô hình này đã không chú ý thích đáng đến mặt xã hội của quá trình tăng trưởng

- Lý thuyết hai khu vực:

+ Mô hình được xây dựng xuất phát từ thực tế nền sản xuất có hai ngành kinh tế

chủ yếu: nông nghiệp và công nghiệp Mô hình hàm ý: nền kinh tế có thể tăng trưởng, phát triển bằng cách thay đổi cơ cấu giữa hai khu vực

+Mô hình hai khu vực do D Ricardo khởi xướng Ông cho rằng giới hạn của tăng trưởng kinh tế là đất đai Do diện tích đất đai có hạn và độ màu mỡ đất đai giảm dần sản lượng lương thực sẽ tăng chậm dần và đạt ngưỡng tối đa Thậm chí nếu tiếp tục đầu tư lao động, sản lượng lương thực có thể giảm xuống

Như vậy, nền kinh tế có thể tăng trưởng bằng cách tập trung đầu tư cho công nghiệp Vốn lấy từ lợi nhuận công nghiệp, lao động lấy từ nông nghiệp

Nhược điểm:

+ Trước hết, theo mô hình thì tỷ lệ chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp sẽ tương ứng với tỷ lệ việc làm tạo ra được trong công nghiệp và tích luỹ vốn ở đó Nếu các nhà tư bản công nghiệp dùng công nghệ cần nhiều vốn, ít lao động thì ý nghĩa tạo việc làm của công nghiệp sẽ không còn nữa

+Thứ hai, giả định toàn bộ lợi nhuận công nghiệp được tái đầu tư là khá xa thực tế Trên thực tế, do đầu tư nhỏ hơn lợi nhuận nên mức tăng trưởng sẽ nhỏ hơn so với

mô hình

+Thứ ba, mô hình giả thiết khu vực nông nghiệp có lao động dư thừa còn khu vực công nghiệp có đầy đủ việc làm Trên thực tế, điều này không đúng

+Thứ tư, mô hình giả định mức tiền lương trong công nghiệp cố định Điều đó chỉ đúng khi còn lao động dư thừa trong nông nghiệp Khi lao động dư thừa trong nông nghiệp không còn nữa, muốn thu hút lao động từ nông nghiệp thì tiền lương

Trang 5

trong công nghiệp phải tăng lên Lúc đó, lợi nhuận và đầu tư trong công nghiệp sẽ giảm, nền kinh tế sẽ tăng trưởng chậm hơn

- Lý thuyết hiện đại

Lý thuyết tân cổ điển cho biết để có tăng trưởng trong dài hạn thì phải có tiến bộ công nghệ nhưng lại không chỉ ra các yếu tố quyết định tiến bộ công nghệ (coi đây

là yếu tố ngoại sinh); các lý thuyết tăng trưởng kinh tế sau này cố gắng đưa tiến bộ công nghệ vào trong mô hình (yếu tố nội sinh) để xem điều gì quyết định tiến bộ công nghệ

Paul Romer một nhà kinh tế học người Mỹ đã đưa ra lý thuyết tăng trưởng kinh tế trong đó tiến bộ công nghệ được quyết định bởi vốn tri thức mà vốn tri thức lại phụ thuộc vào hoạt động đầu tư cho lĩnh vực R&D của nền kinh tế

Ông chỉ ra vốn tri thức là một loại vốn đặc biệt Xét trên giác độ vi mô thì nó có lợi tức giảm dần (giống các loại hình vốn vật chất khác) nhưng xét trên giác độ vĩ mô thì nó có lợi tức tăng dần theo quy mô

Vì các hãng không sẵn lòng đầu tư lắm cho hoạt động R&D nên chính phủ cần phải thực hiện các chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động này

+ Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

+ Trợ cấp cho hoạt động R&D

+ Trợ cấp cho giáo dục: (giáo dục là quốc sách hàng đầu)

2. Phân tích và đánh giá quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sau

30 năm mở cửa và hội nhập kinh tế

 Bối cảnh kinh tế xã hội trước đổi mới (Đại hội VI năm 1986)

Giai đoạn này, toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế nổi bật và tất yếu chi phối thời đại; là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các nước Cùng với đó, cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới lần thứ 3 diễn ra với nhịp độ ngày càng mạnh mẽ, mà cốt lõi là dựa trên việc ứng dụng các phát minh khoa học công nghệ, phát triển các ngành công nghệ cao, như công nghệ truyền thông và tin học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học… đã làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế

- chính trị và xã hội nhân loại

Bối cảnh kinh tế thế giới thay đổi đã tác động và làm thay đổi các quan hệ kinh tế, quản lý kinh tế Làn sóng cải cách kinh tế rộng khắp theo hướng: (i) các nước tư bản phát triển điều chỉnh chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tập trung vào các ngành

có hàm lượng KHCN cao, thực hiện điều tiết kinh tế chủ yếu thông qua các công

cụ vĩ mô, thực hiện tư nhân hóa khu vực kinh tế nhà nước, tăng cường vai trò kinh

tế tư nhân; (ii) các nước đang phát triển (Đông Á và Đông Nam Á) cải cách cơ cấu theo hướng nâng cao sức cạnh tranh và phát triển mở cửa hội nhập, phát triển liên

Trang 6

kết kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, coi đây là động lực cho phát triển kinh tế; (iii) các nước xã hội chủ nghĩa cũ trước các khó khăn chồng chất cũng tiến hành cải cách kinh tế nhằm khắc phục cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang cơ chế thị trường (Trung Quốc năm 1978)

Ở trong nước, sau khi thống nhất đất nước đến trước năm 1986, cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô viết đã được áp dụng rộng rãi trên cả nước Việc áp dụng quá lâu và cứng nhắc, máy móc cơ chế này trong khi bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước đã

có nhiều thay đổi làm cho tình hình kinh tế trong nước trở nên khó khăn Nguồn viện trợ của bên ngoài, các nguồn vốn và hàng hoá vật tư, nguyên liệu và hàng hoá tiêu dùng đã bị cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấm vận của Hoa Kỳ ngăn cản Việt Nam bình thường hoá quan hệ với thế giới

Trước bối cảnh đó, nhiều địa phương đã tiến hành tìm lối thoát và đổi mới kinh tế, những cải tiến quản lý thử nghiệm được tiến hành từ những năm 1981 với khoán trong nông nghiệp, điều chỉnh kế hoạch và mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp công nghiệp quốc dân… song vẫn chưa thể thay đổi thực trạng của nền kinh tế khủng hoảng vẫn rất trầm trọng, lạm phát có thời điểm lên đến 700%

Trước thực trạng kinh tế như vậy, yêu cầu đổi mới toàn diện nền kinh tế trở thành yêu cầu cấp bách ở nước ta và công cuộc đổi mới đất nước được chính thức tiến hành từ Đại hội VI (năm 1986), ghi lại dấu ấn về vai trò đặc biệt của Cố Tổng Bí

thư Trường Chinh Với nhận định về thực trạng nền kinh tế lúc bấy giờ “đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý năng động có khả năng bãi bỏ tập trung quan liêu, bảo thủ, trì trệ và bao cấp tràn lan” và Đảng phải “kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng để từng bước cùng với tập thể Bộ Chính trị và Ban Chấp hành T.Ư khóa V xác lập nên mô hình mới, cơ chế mới, đặt nền tảng lý luận cho đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội Đảng VI”, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã đặt nền móng

cho các quan điểm, chủ trương cũng như đường lối chính sách để cải cách toàn diện đất nước trong đó có lĩnh vực Hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung văn kiện

Đại hội Đảng VI dựa trên quan điểm đổi mới của Đ/c Trường Chinh “chuyển đổi

cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư (trong đó ưu tiên tập trung làm hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng thay vì hàng công nghiệp; bỏ, hoãn các dự án lớn nhưng không hiệu quả…” đã mở ra một trang mới cho Hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta.

 Quan điểm của Đảng về Hội nhập kinh tế quốc tế

Cùng với sự chuyển biến của bối cảnh trong và ngoài nước, quan điểm và nhận thức của Đảng về Hội nhập kinh tế quốc tế cũng có những thay đổi, làm kim chỉ nam cho các chính sách đối nội và đối ngoại của đất nước trong từng thời kỳ Nếu như tại Đại hội V (1982), Đảng chỉ xác định “Ưu tiên mở rộng sự hợp tác toàn diện giữa nước ta với Liên Xô và các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế” thì đến Đại hội Đảng VI (1986) Đảng đã xác định quan hệ kinh tế quốc tế giai đoạn này không chỉ tập trung vào Liên xô và các nước trong cùng hệ thống xã hội chủ nghĩa

Trang 7

mà phải mở rộng quan hệ với các nước thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.

Đây là quan điểm mở đường cho việc “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ chức kinh tế” của Việt nam giai đoạn sau này (Đại hội VII năm 1991) Tuy nhiên, thuật ngữ “hội nhập” chỉ được chính thức được đề cập tại Đại hội VIII (năm 1996) khi Đảng xác định nhiệm vụ, giải pháp cho giai đoạn mới phải “đổi mới cơ chế kinh tế đối ngoại, hội nhập với khu vực và thế giới”.Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996), lần đầu tiên Nghị quyết của Đảng đã xác định việc đẩy nhanh quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế (hội nhập KTQT) nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước Nghị quyết nhấn mạnh

“xây dựng một nền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới hướng mạnh về xuất khẩu”, "Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài", "tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế".

Giai đoạn sau này (Đại hội IX, X, XI, XII), Đảng đã nhấn mạnh tới việc chủ động, tích cực Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế song vẫn phải đảm bảo độc lập tự chủ Khác với giai đoạn trước, đẩy mạnh hợp tác với các nước trên thế giới và khu vực của giai đoạn này không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn ở các lĩnh vực khác, thể hiện tinh thần hội nhập toàn diện với khu vực và thế giới

Nhằm thực hiện các quan điểm đó, nhiều văn bản đã được ban hành Cụ thể: Ngày 27-11-2001, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế”; ngày 05-02-2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X

đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới”; Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế; Ngày 7 tháng 1 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Quyết định số 40/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Việt Nam; Nghị quyết số 06-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 khóa XII ngày 5/11/2016…

Đây là các văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới Xem xét quan điểm về hội nhập quốc tế của Đảng suốt 30 năm qua, có một số điểm đáng chú ý như sau: (i) Hội nhập kinh tế quốc tế do yêu cầu xuất phát từ nội tại nền kinh

tế nhằm xây dựng và phát triển đất nước Do vậy Hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm

vụ của cả hệ thống chính trị; (ii) Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước nhưng phải gắn liền với việc giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước; khẳng định mở cửa, hội nhập để khai thác các mặt có lợi cho sự phát triển kinh tế của ta từ nền kinh tế thế giới

 Thành tựu 30 năm đổi mới trong lĩnh vực Hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 8

Các đường lối, chủ trương hội nhập kinh tế của Đảng đã được đề ra nhất quán, không ngừng được hoàn thiện và triển khai tích cực, phù hợp với tình hình cụ thể của từng giai đoạn, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Đổi mới, phát triển đất nước

Với phương châm “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc

lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực Trong đó:

Về quan hệ hợp tác song phương Với đường lối đổi mới, nước ta đã mở rộng và

củng cố quan hệ đối ngoại, vượt qua những khó khăn về thị trường do những biến động Liên xô cũ và Đông Âu gây ra, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc

tế Tính đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với khoảng 180 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết gần 100 Hiệp định thương mại song phương, trên 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, khoảng 70 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế

Về hợp tác đa phương và khu vực Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với nhiều

tổ chức định chế tài chính quốc tế, cụ thể: ngày 15/9/1976, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngày 21/9/1976 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Ngân hàng thế giới (WB), ngày 23/9/1976 Việt Nam gia nhập vào Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) Tháng 7/1995 Việt Nam

đã gia nhập vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996 Đây là sự kiện đánh dấu bước đột phá của Việt Nam trong tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được công nhận là thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Đặc biệt, ngày 11/1/2007 Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được nâng lên một tầm cao hơn thông qua việc tham gia ký kết các hiệp định kinh tế đa phương và song phương Thực hiện chủ trương, chính sách lớn của Đảng về Hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều Hiệp định thương mại và cũng đang tham gia đàm phán một số hiệp định thương mại quan trọng khác Cụ thể: Tính hết năm 2016, Việt Nam đã ký kết và thực thi 10 FTA, kết thúc đàm phán 2 FTA, và đang đang đàm phán 4 FTA khác Trong 10 FTA đã ký kết và thực thi có 6 FTA ký kết với tư cách là thành viên ASEAN (gồm AFTA, 5 FTA giữa ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc,

Trang 9

Ấn Độ, Nhật Bản, Úc và New Zealand), 4 FTA ký kết với tư cách là một bên độc lập (Chile, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh kinh tế Á-Âu) Hai FTA đã kết thúc đàm phán là FTA với Liên minh châu Âu, và Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Bốn FTA còn lại đang được đàm phán bao gồm: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), FTA ASEAN- Hồng Kông, FTA với Israel và FTA với Khối thương mại tự do châu Âu (EFTA)

Từ quan điểm, chủ trương của Đảng, quá trình mở cửa, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam Thể hiện trên những mặt chính sau:

Thứ nhất, tác động tới phát triển kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế về cơ bản đã tác

động tích cực và dài hạn , góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong thời gian qua: HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ đã thúc đẩy tăng trưởng giá trị thương mại hai chiều giữa Việt Nam với các đối tác, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn FDI, ODA cho phát triển kinh tế đất nước Trong đó:

Đối với hoạt động xuất, nhập khẩu: Kim ngạch xuất khẩu không ngừng được tăng

lên, đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng GDP Nếu năm 1986, tổng kim ngạch xuất khẩu mới đạt 789 triệu USD, thì năm 2006 xuất khẩu đã đạt trên 39

tỷ USD và kể từ sau khi gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên, đạt trên 170 triệu USD năm 2016 Không chỉ xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu cũng tăng lên tương ứng cho thấy mức độ mở cửa của nền kinh tế là tương đối lớn với tỷ lệ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã lên đến trên 150% GDP

Hình 1: Diễn biến xuất nhập khẩu qua 30 năm đổi mới giai đoạn 1986-2016

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Về cơ cấu, mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú, đa dạng, có nhiều nhóm hàng “chủ lực” đạt kim ngạch lớn Nhiều mặt hàng xuất khẩu có khối lượng lớn, kim ngạch đứng thứ hạng cao trên thế giới Nếu như năm 1986 chúng ta chưa có mặt hàng nào xuất khẩu trên 200 triệu USD thì hiện này đã có nhiều mặt hàng vượt

Trang 10

kim ngạch 1 tỷ USD, 5 tỷ USD Cơ cấu mặt hàng đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng hàng thô hoặc mới sơ chế giảm

Đối với hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Vốn FDI đã trở

thành một trong những động lực chính cho phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt kể từ sau khi Việt nam gia nhập WTO Nếu như những năm đầu của thời kỳ

mở cửa, vốn FDI vào Việt Nam không đáng kể thì kể từ sau năm 2007, lượng vốn FDI không ngừng tăng lên Số vốn đăng ký và cấp mới có năm (2007) còn lên đến trên 70 tỷ USD Nếu xét về vốn thực hiện, xu hướng tăng lên cũng xuất hiện rõ rệt

kể từ năm 2007 Vốn FDI thực hiện đạt 15,8 tỷ USD, tương đương 23,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2015

Hình 2: Vốn FDI thực hiện trong giai đoạn 30 năm đổi mới 1986-2016

(đơn vị tính: triệu USD)

Nguồn: Tổng cục Thống kê Thứ hai, tác động tới năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm.

Thông qua những cam kết minh bạch, rõ ràng, HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm huy động nguồn vốn và các nguồn lực khoa học – công nghệ cho phát triển nền kinh tế Bên cạnh đó, cũng thông qua tính minh bạch và hấp dẫn của môi trường đầu tư, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, hài hòa hóa các quy trình,…HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ đã góp phần hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam tại các thị trường trong và ngoài nước

Thứ ba, thông qua việc mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia trong khu vực và

thế giới, Việt Nam đã tiếp thu được khoa học - công nghệ mới và cách quản lý tiên tiến trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật, văn hóa - xã hội… góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh… Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cũng đã góp phần đào tạo cho Việt Nam có được đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ và năng lực cả về chuyên môn lẫn quản

lý Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, cải cách thể chế kinh tế thị trường, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Ngày đăng: 07/11/2023, 00:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w