ĐỖ QUỲNH TRANG NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA CÁC HỘ TRỒNG MÍA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ CẨM TÚ, HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC H
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Những hộ nông dân trồng mía tại xã Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Xã Cẩm tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2015 đến hết tháng 4 năm 2015
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Cẩm Tú
- Đánh giá thực trạng sản xuất và phát triển cây mía tại xã Cẩm Tú giai đoạn 2012-2014
- Thực trạng phát triển sản xuất mía tại các hộ điều tra
- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế của cây mía trên địa bàn xã.
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập thông tin từ các công trình khoa học, báo cáo tổng kết, bài viết về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã giúp đánh giá chính xác tiềm năng sản xuất mía Dữ liệu về tổng diện tích, năng suất và sản lượng mía hàng năm là cơ sở quan trọng để lập kế hoạch phát triển bền vững Việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đảm bảo cập nhật thông tin mới nhất, nâng cao hiệu quả sản xuất mía và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
- Thu thập số liệu tại chính quyền của xã, thống kê của UBND xã, thu thập từ các báo cáo, tạp chí, tổng hợp từ internet,…
Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu nhằm cải biến những thông tin có sẵn trong các tài liệu để rút ra những dữ liệu cần thiết cho một vấn đề cụ thể Quá trình này giúp làm rõ các nội dung quan trọng, hỗ trợ xây dựng kiến thức chính xác và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Việc thu thập và phân tích tài liệu đóng vai trò then chốt trong quá trình nghiên cứu khoa học, giúp nâng cao độ tin cậy của các kết quả thu được.
3.3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được thực hiện trực tiếp trên các hộ nông dân để thu thập dữ liệu về thu nhập, sau đó tổng hợp thành các bảng biểu nhằm đưa ra những nhận định liên quan đến nội dung nghiên cứu Việc thu thập dữ liệu sơ cấp chủ yếu dựa trên điều tra các hộ trồng mía, với mẫu chọn ngẫu nhiên 3 trong 19 thôn của xã gồm Cẩm Hoa, Lương Thành, Thuần Lương Trong quá trình nghiên cứu, do hạn chế về thời gian và điều kiện địa phương, tôi chọn điều tra ngẫu nhiên 3 thôn có diện tích trồng mía lớn nhất, gồm 60 hộ gia đình (mỗi thôn 20 hộ), và sau đó tính trung bình các giá trị thu thập được để phân tích.
Phương pháp quan sát thực tế giúp hiểu rõ hoạt động sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của người dân, từ đó đánh giá chính xác thực trạng phát triển cây mía tại địa phương Đây cũng là công cụ hữu hiệu để kiểm tra chéo thông tin, đảm bảo độ chính xác của dữ liệu nghiên cứu.
3.3.2 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu
Phương pháp so sánh là công cụ quan trọng giúp xác định xu hướng và biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu Phương pháp này hỗ trợ việc tổng hợp tài liệu chính xác, đảm bảo tính đúng đắn của các chỉ tiêu tính toán Ngoài ra, so sánh còn giúp phân tích tài liệu khách quan, khoa học, phản ánh chính xác các nội dung cần thiết trong quá trình nghiên cứu.
Đối với thông tin thứ cấp, sau khi thu thập, cần phân loại và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên dựa trên mức độ quan trọng của từng loại thông tin Đặc biệt, các dữ liệu số liệu nên được lập thành bảng biểu rõ ràng để dễ dàng phân tích Việc tổ chức thông tin một cách có hệ thống giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu và đảm bảo dữ liệu phục vụ đúng mục đích của đề tài.
Sau khi hoàn thành phiếu điều tra sơ cấp, dữ liệu sẽ được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel để phân tích phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài Những số liệu không thể nhập vào Excel sẽ được tính toán bằng máy tính cá nhân để đảm bảo độ chính xác và đầy đủ của dữ liệu nghiên cứu.
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của chủ hộ
- Tuổi, giới tính, dân tộc
- Số nhân khẩu, số lao động
- Số lao động bình quân/hộ = Tổng số lao dộng/tổng số hộ
3.4.2 Chỉ tiêu về kết quả sản xuất mía
3.4.3 Chi phí đầu tư cho 1 ha mía
- Chi phí vật chất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vất, công cụ lao động)
- Chi phí công lao động
* Chỉ tiêu phản nhr kết quả sản xuất
Tổng doanh thu (TR) là tổng giá trị bằng tiền của các loại sản phẩm sản xuất ra, phản ánh toàn bộ giá trị hàng hóa trong ngành Nó bao gồm phần giá trị dành cho tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng cho tái sản xuất, giúp đo lường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài ra, tổng doanh thu còn thể hiện giá trị các sản phẩm đã bán ra trên thị trường, là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quy mô và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tổng chi phí (TC) phản ánh toàn bộ các khoản chi phí vật chất trong quá trình sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu, giống cây trồng, thuốc chống bệnh, và lao động thuê ngoài dịch vụ khác Việc nắm rõ tổng chi phí giúp doanh nghiệp kiểm soát ngân sách, tối ưu hóa lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất Đặc biệt, quản lý tốt các khoản chi phí vật chất đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động sản xuất ổn định và cạnh tranh trên thị trường.
Tổng lợi nhuận (Pr) là giá trị của các sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành sản xuất tạo ra trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong khoảng thời gian nhất định Việc tính toán tổng lợi nhuận giúp xác định khả năng sinh lời của các hoạt động sản xuất và dịch vụ, từ đó hỗ trợ quản lý và đưa ra các quyết định chiến lược phù hợp.
Lợi nhuận đƣợc tính theo công thức:
TR là tổng doanh thu
TC: là tổng chi phí
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu Doanh thu chia sẻ chi phí (TR/TC) phản ánh mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí, giúp đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Cụ thể, chỉ tiêu này cho biết cứ bỏ ra 1 đồng chi phí, doanh nghiệp thu về bao nhiêu đồng doanh thu, từ đó đo lường khả năng sinh lời và hiệu quả sử dụng chi phí Tỷ lệ TR/TC cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng sinh lời tốt, trong khi tỷ lệ thấp có thể là dấu hiệu cần xem xét lại hiệu quả hoạt động Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sinh lợi và hiệu quả quản lý chi phí của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tỉ suất lợi nhuận trên chi phí (Pr/TC) thể hiện tỷ lệ lợi nhuận thu được so với tổng chi phí đã bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Chỉ số này giúp đánh giá hiệu quả của việc sử dụng chi phí, cho biết cứ bỏ ra 1 đồng chi phí thì doanh nghiệp thu về bao nhiêu đồng lợi nhuận Viết tắt của chỉ tiêu này là lợi nhuận trên chi phí, và nó là yếu tố quan trọng để đo lường mức độ sinh lời của hoạt động kinh doanh, góp phần cải thiện chiến lược tài chính và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp.
Chỉ tiêu Doanh thu trên diện tích (TR/DT) phản ánh lợi nhuận trung bình mà một đơn vị diện tích canh tác mang lại Đây là chỉ số quan trọng giúp xác định hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đo lường tổng doanh thu chia sẻ cho mỗi mét vuông đất Việc theo dõi tỷ lệ này giúp nông dân và nhà quản lý đánh giá hiệu quả sản xuất và đưa ra các chiến lược tối ưu hóa lợi nhuận từ diện tích canh tác.
+ Doanh thu/vốn = Tổng doanh thu/tổng nguồn vốn (TR/V)
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn đƣợc sử dụng cho sản xuất kinh doanh thì thu đƣợc bao nhiêu đồng doanh thu
+ Lợi nhuận/vốn = Tổng lợi nhuận/tổng nguồn vốn (Pr/V)
Chỉ tiêu này cho biết cứ sử dụng một đồng vốn cho sản xuất kinh doanh thì thu đƣợc bao nhiêu đồng lợi nhuận
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm điêu kiện tự nhiên kinh tế, xã hội ở xã Cẩm Tú – huyện Cẩm Thủy – tỉnh Thanh Hóa
4.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Xã Cẩm Tú là một xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Cẩm Thủy, cách trung tâm huyện khoảng 5 km Trung tâm xã hiện nay có tọa độ địa lý theo hệ thống bản đồ VN 2000, giúp xác định vị trí chính xác của xã trên bản đồ Khu vực này nổi bật với đặc điểm địa hình đồi núi, phù hợp cho các hoạt động nông nghiệp và du lịch sinh thái Vị trí địa lý thuận lợi cũng góp phần vào phát triển kinh tế và giao thương của xã Cẩm Tú.
- Phía Đông giáp xã Thạch Cẩm – huyện Thạch Thành;
- Phía Tây giáp xã Cẩm Quý và xã Cẩm Giang;
- Phía Nam giáp xã Cẩm Phong, Sông mã Cẩm Thủy;
- Phía Bắc giáp xã Thạch Quảng – huyện Thạch Thành
Xã có vị trí địa lý thuận lợi với tuyến đường Hồ Chí Minh dài 3 km chạy qua, kết nối đơn vị với các khu vực lân cận Tuyến đường liên huyện từ Cẩm Tú đến huyện Bá Thước thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa Ngoài ra, hệ thống đường liên xã và liên thôn được phân bố hợp lý giúp thúc đẩy giao thương, trao đổi hàng hóa và nâng cao đời sống của người dân địa phương.
Xã Cẩm Tú có vị trí địa lý chiến lược và hệ thống giao thông thuận lợi, mở ra nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội.
Cẩm Tú là xã miền núi thuộc huyện Thanh Hóa, có diện tích tự nhiên 1.885,35 ha Với địa hình phức tạp do ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo và biến đổi địa chất qua nhiều năm, xã bị chia cắt bởi nhiều ngọn núi có độ cao khác nhau, tạo thành các thung lũng hẹp Địa phương có thể phân chia thành 5 cấp đặc trưng địa hình khác nhau, phản ánh sự đa dạng của cảnh quan tự nhiên nơi đây.
+ Địa hình có độ dốc hơn 20 0 chiếm khoảng 23,09% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc, thuộc hai dãy núi Ái Nàng và Đồi
Mã, hiện tại thích hợp cho phát triển cây lâm nghiệp
Địa hình dốc từ 15-20 độ chiếm khoảng 30,9% tổng diện tích tự nhiên, là phần chuyển tiếp giữa hai dãy núi Ái Nàng và Đồi Mã Hiện nay, khu vực này chủ yếu được sử dụng cho hoạt động trồng rừng và cây lâu năm, góp phần vào mục đích bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương.
Địa hình có độ dốc từ 8–15 độ chiếm khoảng 23,7% tổng diện tích tự nhiên, phân bổ rải rác trong toàn xã Hiện tại, phần lớn diện tích này được sử dụng làm đất trồng cây hàng năm, trong khi các công trình xây dựng cơ bản chủ yếu nằm trên đất thổ cư.
+ Địa hình dốc hơn 3 – 8 0 chiếm khoảng 13,7 % tổng diện tích tự nhiên, thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp
Địa hình dốc thấp hơn 30 độ chiếm khoảng 8,7% tổng diện tích tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp thâm canh 3 vụ trong năm Đồng thời, khảo sát địa chất công trình tại xã Cẩm Tú xác định nền đất ổn định, đảm bảo an toàn cho việc xây dựng các công trình kiến trúc cao tầng và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật khác.
Xã Cẩm Tú thuộc vùng khí hậu trung du miền núi tỉnh Thanh Hóa, chịu ảnh hưởng của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa và khí hậu gió Lào Nơi đây có nhiệt độ cao quanh năm, dao động từ 25°C đến 39,8°C, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt Tổng tích ôn lớn, phần lớn đều vượt mức, góp phần duy trì đặc trưng khí hậu khắc nghiệt nhưng phù hợp với nhiều loại cây trồng và vật nuôi phù hợp với vùng khí hậu này.
8600 0 C), lƣợng mƣa biến động theo mùa khá rõ ràng (mùa mƣa và mùa khô) và chịu ảnh hưởng nhiều của bão
- Nhiệt độ trung bình năm 24,1 o C
- Biên độ nhiệt độ trong năm là 12 - 13 0 C
- Nhiệt độ trung bình các tháng từ 28,3 o C - 39,8 o C, tối thấp trung bình các tháng 14,6 o C - 26,2 o C
- Biên độ nhiệt bình quân các tháng từ 4,0 - 7,2 0 C
- Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm vào tháng 7 khoảng 39,1 o C
- nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm vào tháng 1 khoảng 10,5 o C
Mƣa rào trong thời gian ngắn, với lƣợng mƣa nhiều khi vƣợt quá 200mm/ngày Mƣa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 8 với 70% tổng lƣợng mƣa
- Tổng lƣợng mƣa trung bình năm: 1.800 mm;
- Lƣợng mƣa trung bình cao nhất: 495 mm vào tháng 7 - 8 hàng năm;
- Lƣợng mƣa trung bình thấp nhất: 33 mm vào tháng 12 hàng năm;
- Số ngày mƣa trong năm cộng dồn 127,0 ngày;
- Mùa mưa thường gây xói lở, xói mòn đất và gây ra lũ lụt
- Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lƣợng mƣa chiếm 11,6% cả năm
Độ ẩm Độ ẩm tương đối trung bình năm: 85-86%
- Độ ẩm cao nhất là: 89% Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9,10,11
- Độ ẩm trung bình thấp nhất 60 - 65%
Khả năng bốc hơi trung bình hàng năm đạt 977 mm, cao nhất từ tháng 5 đến tháng 8, với tháng 7 có lượng bốc hơi lớn nhất là 138 mm Trong khi đó, tháng có lượng bốc hơi thấp nhất là tháng 2, chỉ đạt 39,6 mm, thể hiện sự biến đổi rõ rệt theo mùa trong quá trình bốc hơi.
Xã Cẩm Tú chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính:
Gió Đông Nam bắt đầu thổi từ tháng 4 đến tháng 8, với tốc độ trung bình từ 2-3 m/s, có khi lên tới 7-8 m/s Trong mùa này, gió thường mang đặc điểm khô nóng, gây ra hiện tượng bốc hơi mạnh và dẫn đến tình trạng khô hạn kéo dài, ảnh hưởng lớn đến mùa vụ và đời sống sinh hoạt của người dân.
Gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, with tốc độ gió trung bình từ 4-6 m/s, mang theo mưa lớn gây ra khí hậu lạnh ẩm Tác động của gió mùa Đông Bắc thường dẫn đến lũ lụt và ngập úng ở nhiều nơi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất.
Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khu vực chịu tác động trực tiếp của lốc, giông và gió mùa Đông Bắc Trong các trận bão, tốc độ gió có thể đạt trên 30-40 m/s, trong khi gió mùa Đông Bắc chỉ đạt khoảng 15-20 m/s, gây thiệt hại lớn về mùa màng và cơ sở hạ tầng.
Hàng năm, khu vực chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng kéo dài khoảng 35 ngày, thường xảy ra vào các tháng 5 và tháng 6 Gió Tây khô nóng này ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng, gây hạn chế năng suất và gây ra nhiều khó khăn cho nông dân trong quá trình canh tác trong giai đoạn này.
Số giờ nắng trung bình năm: 1.736 h/năm và số ngày nắng trung bình năm là 275 ngày/năm
Xã có đặc điểm địa hình chia cắt nhiều, tạo nên hệ thủy văn phong phú với sông Mã dài 1 km và hệ thống suối chính gồm Bai Bông, Vòng Đọ, Vòng Hy cùng 9 đập nước Trong đó, năm đập lớn là Vòng Đọ, Bai Bông, Hai Dòng, Hón Cạn, Vòng Hy, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước tưới cho khoảng 60% diện tích đất trồng cây hàng năm của xã và dự trữ nước phục vụ mùa khô.
Tài nguyên khí hậu có tính biến động cao và phân hóa mạnh, đa dạng liên quan đến vị trí địa lý và điều kiện địa hình của khu vực Điều này ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, đời sống người dân và các hoạt động kinh tế khác Nhận xét chung cho thấy chế độ thời tiết tại đây đóng vai trò quan trọng trong việc định hình đặc điểm khí hậu và tác động trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của cộng đồng địa phương.
Thực trạng sản xuất và phát triển cây mía tại địa bàn nghiên cứu
4.2.1 Thực trạng phát triển chung
4.2.1.1 Diện tích trồng mía của xã Cẩm Tú trong 3 năm gần đây
Bảng 4.6: Diện tích trồng mía của xã qua 3 năm 2012 – 2014 ĐVT: Ha
(Nguồn: UBND xã Cẩm Tú, năm 2014)
Ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.885,35ha , trong đó diện tích đất trồng mía là 380ha chiếm 20,16% trong tổng diện tích đất tự nhiên
Trong những năm qua, diện tích mía biển của xã không ngừng mở rộng theo quy mô sản xuất, thể hiện xu hướng tăng trưởng ổn định Năm 2012, diện tích mía của toàn xã chỉ đạt 323,89ha, nhưng đến năm 2013 đã tăng lên 360,5ha, tăng 11,3% so với năm 2012 Đến năm 2014, diện tích mía tiếp tục mở rộng lên 380ha, tăng 5,41% so với năm 2013 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong ba năm liên tiếp của xã đạt mức 8,4%, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành trồng mía địa phương.
Năm 2014, thôn Lương Thành có diện tích trồng mía lớn nhất, đạt 109,4ha, chiếm 28,79% tổng diện tích mía của toàn xã Bên cạnh đó, thôn Thuần Lương cũng có diện tích trồng mía đáng kể với 106ha, chiếm 27,89% tổng diện tích mía của toàn xã.
Thôn không trồng mía là các thôn Bắc Thái, Bắc Sơn, Liên Sơn
4.2.1.2 Diện tích, sản lượng trồng mía của xã Cẩm Tú qua 3 năm
Trong phần trên, ta nhận thấy diện tích trồng mía đã tăng liên tục trong 3 năm Tuy nhiên, cần xem xét liệu sự gia tăng về diện tích có đi kèm với tăng năng suất và sản lượng hay không Để đánh giá rõ hơn về biến động của năng suất và sản lượng mía nguyên liệu trong giai đoạn này, ta sẽ phân tích dữ liệu từ bảng 4.7.
Bảng 4.7 Diện tích, năng suất, sản lƣợng mía của xã qua 3 năm 2012 – 2014
Chỉ tiêu ĐVT 2012 2013 2014 So sánh (%)
Diện tích Ha 323,89 360,5 380 111,3 105,41 108,36 Năng suất Tấn/ha 60 62 65 103,33 104,84 104,09 Sản lƣợng Tấn 19433,4 22351 24700 115,01 110,51 112,76
(Nguồn: UBND xã Cẩm Tú, năm 2014)
Qua 3 năm diện tích mía có sự thay đổi trong thời gian ngắn nhƣ vậy là do năm 2012 nhu cầu mía nguyên liệu tăng lên Tốc độ tăng bình quân qua 3 năm 8,36% Đặc biệt là sau 1 năm thử nghiệm mô hình thấy cây mía phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương (có thể tận dụng được nhiều loại đất khác nhau) và cho hiệu quả cao hơn các câu trồng khác
Trong giai đoạn từ 2012 đến 2014, năng suất mía tăng từ 60 tấn/ha lên 65 tấn/ha, tương ứng với mức tăng trưởng đều hàng năm (3,33% năm 2013 và 4,84% năm 2014), nhờ người dân chú trọng đầu tư và áp dụng đúng quy trình kỹ thuật trồng mía Sự hỗ trợ về kỹ thuật và sự quan tâm sát sao từ cán bộ nông vụ của nhà máy đường Tân Bình đã góp phần nâng cao năng suất, thể hiện sự nỗ lực không ngừng của cộng đồng nông dân vùng nguyên liệu và các cấp lãnh đạo địa phương.
Sản lượng mía của xã Cẩm Tú đang tăng trưởng mạnh mẽ nhờ vào sự gia tăng diện tích trồng trọt và năng suất Trong những năm gần đây, sản lượng mía đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 12,76% Cụ thể, năm 2012, sản lượng mía đạt 19.433,4 tấn, và xu hướng phát triển này dự kiến sẽ tiếp tục duy trì trong các năm tới, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho địa phương.
Năm 2013, sản lượng mía đạt 22.351 tấn và tăng lên 24.700 tấn vào năm 2014, cho thấy sự phát triển liên tục của ngành sản xuất mía Việc tăng trưởng sản lượng mía không ngừng này đã góp phần nâng cao tổng sản lượng mía nguyên liệu của toàn xã, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp địa phương.
Tình trạng phát triển sản xuất mía tại các hộ điều tra
4.3.1 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra
Lao động và nhân khẩu đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kết quả kinh doanh và thu nhập của các hộ nông dân trồng mía Lao động chiếm vị trí chủ đạo trong các công đoạn từ gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch đến tiêu thụ mía, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất Qua điều tra 60 hộ nông dân, nhận thấy tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ trồng mía có những đặc điểm cơ bản rõ ràng, phản ánh rõ sự ảnh hưởng của yếu tố lao động đến kết quả sản xuất mía.
Bảng 4.8 Đặc điểm cơ bản của các hộ điều tra
Stt Đặc điểm của chủ hộ Đơn vị tính
Tổng số hộ điều tra Hộ 60 100
1 Độ tuổi của chủ hộ
Giới tính của chủ hộ
Dân tộc của chủ hộ
Trình độ văn hóa của chủ hộ
5 Số nhân khẩu bình quân/hộ Người 3,8
6 Số lao động bình quân/hộ Người 2,58
7 Số diện tích mía trung bình/hộ Ha 0,2
(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2015)
Trong 60 họ được khảo sát, có đến 71,7% số hộ có chủ hộ trong độ tuổi từ 30 đến 55 tuổi, cho thấy lực lượng lao động của các hộ này rất cao Số người trong độ tuổi lao động chiếm 16,7%, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ phát triển hoạt động sản xuất và kinh doanh hiệu quả.
Trong tổng số chủ hộ, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn với 65%, trong khi nữ giới chiếm 35% Chủ hộ đa phần là người dân tộc Kinh, chiếm 51,7%, còn lại là người dân tộc Mường với tỷ lệ 48,3%.
Trình độ văn hóa của các chủ hộ còn thấp, cao nhất chỉ học trung học phổ thông, chiếm 25% trung học cơ sở chiếm 45%, học tiểu học chiếm 30%
Trung bình mỗi hộ gia đình có số nhân khẩu khá cao, đạt 3,8 người, cùng với đó là số lao động trung bình là 2,58 người/hộ Diện tích trồng mía bình quân trên mỗi hộ cũng tương đối lớn, đạt khoảng 0,20ha, tương đương 5,7 sào mỗi hộ, góp phần thúc đẩy năng suất và thu nhập của cư dân địa phương.
* Ƣu điểm và nhƣợc điểm của các hộ điều tra
Kết quả điều tra các hộ trồng mía tại xã Cẩm Tú cho thấy, có tới 71,7% chủ hộ dưới 55 tuổi, thể hiện khả năng lao động dồi dào Bình quân mỗi hộ có 2,78 người lao động, giúp các hộ có nguồn nhân lực phong phú để mở rộng diện tích trồng mía Đây là lợi thế lớn thúc đẩy sự phát triển của ngành trồng mía tại địa phương.
Dù các hộ còn trẻ tuổi và lực lượng lao động dồi dào, nhưng số lao động bình quân trên hộ gặp phải gánh nặng lớn do nhiều nhân khẩu trong gia đình cần chăm sóc Trình độ văn hóa của các hộ còn thấp, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tiếp thu và áp dụng khoa học kỹ thuật, cũng như việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của họ.
4.3.2 Tình hình trồng mía tại các hộ điều tra
Giống mía đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng cây trồng Một giống mía tốt không chỉ mang lại năng suất cao và hàm lượng đường lớn mà còn giúp khắc phục các nhược điểm trong quá trình chế biến và thích nghi với điều kiện tự nhiên bất lợi Việc chọn giống mía phù hợp là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả, năng suất và chất lượng trong toàn bộ quá trình sản xuất mía.
Chọn giống tốt, chất lượng cao là yếu tố quan trọng để đảm bảo năng suất cao và ổn định Giống cần thích nghi rộng với điều kiện đất đai ở địa phương, có sức sinh trưởng khỏe mạnh, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, ít trổ cờ, giúp cây phát triển ổn định và cho năng suất vượt trội.
Trung tâm giống cây trồng, vật nuôi tỉnh Thanh Hóa đã nghiên cứu và đưa vào địa phương các giống mía mới như giống MY để trồng đại trà Nhờ việc ứng dụng giống mía mới này, năng suất cây mía đã tăng vọt, đạt mức 65 tấn/ha, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất ngành mía đường tại khu vực.
Giống mía có khả năng lưu gốc từ 2 đến 3 năm, giúp tiết kiệm công làm đất và giảm chi phí giống Nhờ đó, người dân địa phương ưu tiên phát triển cây mía vì hiệu quả cao hơn so với các loại cây trồng khác Điều này góp phần nâng cao năng suất và lợi nhuận của người nông dân trong vùng.
4.3.3 Diện tích, năng suất, sản lượng của cây mía trong những năm qua tại các hộ điều tra trên địa bàn xã Cẩm Tú
Nhờ các giải pháp phù hợp và sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là cây mía đã trở thành "cây xóa đói, giảm nghèo" trong đời sống nông dân Cây mía đã giúp cải thiện đáng kể đời sống của người dân nông thôn, nhiều gia đình vùng sâu, vùng xa trở nên giàu có hơn nhờ phát triển cây mía Diện tích, năng suất và sản lượng mía ngày càng tăng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương.
Bảng 4.9 Diện tích, năng suất, sản lƣợng mía của các hộ điều tra qua 3 năm khai thác (từ năm 2012 – 2014) (60 hộ)
Diện tích Ha 7,52 9,47 12,42 127,27 129,75 128,51 Năng suất Tấn/ha 60 62 65 103,33 104,84 104,09 Sản lƣợng Tấn 451,2 587,14 807,3 130,13 137,50 133,81
(Nguồn: Số liệu điều tra, năm 2015)
Theo bảng 4.9, diện tích, năng suất và sản lượng mía của các hộ điều tra tại xã Cẩm Tú đều có sự biến động qua các năm khai thác kéo dài 3 năm Những thay đổi này phản ánh xu hướng biến động của ngành trồng mía địa phương, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân Điều này cho thấy quá trình khai thác mía tại xã Cẩm Tú đang diễn ra với những biến đổi liên tục, đòi hỏi các biện pháp quản lý và nâng cao năng suất phù hợp để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Sau khi trồng mới và khai thác năm đầu tiên, diện tích mía tăng từ 7,52 ha lên 9,47%, tăng 27,27% Đến sau năm thứ hai khai thác, diện tích mía tiếp tục mở rộng lên 12,4 ha, tăng 29,75% so với sau năm thứ hai Việc lưu gốc và trồng mới liên tục giúp mở rộng vùng trồng mía, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất Do đó, chương trình trồng mới mía góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững ngành nông nghiệp, nâng cao lợi nhuận cho người nông dân.
Năng suất mía đã tăng lên theo từng giai đoạn, bắt đầu từ 60 tấn/ha khi trồng mới, đạt 62 tấn/ha ở lưu gốc khai thác năm thứ 2 và cao nhất là 65 tấn/ha ở lưu gốc khai thác năm thứ 3 Năng suất mía khai thác năm thứ 3 là cao nhất, đồng thời chất lượng mía cũng được cải thiện rõ rệt Trong khi đó, mía trồng mới còn nhỏ và hàm lượng đường chưa đạt mức cao nhất.
Năng suất và diện tích trồng mía ngày càng tăng thúc đẩy sản lượng mía của các hộ điều tra không ngừng phát triển Trong năm 2012, sản lượng mía đạt 451,2 tấn, đến năm 2013 tăng lên 587,14 tấn, tức tăng 30,13% so với năm trước Đến năm 2014, sản lượng mía tiếp tục tăng lên 807,3 tấn, ghi nhận mức tăng 37,50% so với năm 2013.
4.3.4 Chi phí sản xuất cho 1 ha mía
4.3.4.1 Xác định chi phí cho 1 ha mía của các hộ điều tra qua khai thác 3 năm
Vai trò của cán bộ nông vụ của công ty mía đường trong quá trình sản xuất
Các công việc hỗ trợ thực hiện bao gồm thường xuyên theo dõi tình hình sản xuất của người dân đến khi thu hoạch, giám sát nhu cầu về vốn, giống, phân bón, thuốc BVTV để đảm bảo quá trình sản xuất thuận lợi Việc thu mua được thực hiện bởi cán bộ nông vụ của nhà máy, kiểm tra độ chín của cây để đưa ra quyết định phù hợp Ngoài ra, hỗ trợ kỹ thuật thông qua các lớp tập huấn nhằm tư vấn cách sản xuất hiệu quả, nâng cao năng suất mía, đồng thời đối phó hiệu quả với các bệnh dịch và mở rộng vùng nguyên liệu.
Chính sách của công ty mía đường đối với người dân và chính quyền địa phương
Đầu tư trực tiếp vào diện tích mía trồng mới hoặc trồng lại dưới 150 dốc phải đảm bảo ký hợp đồng và tuân thủ quy trình kỹ thuật nhằm giảm thiểu rủi ro Lãi suất áp dụng được tính theo quy định của ngân hàng tại thời điểm đầu tư, không vượt quá số tiền đã bỏ ra Chính sách này nhằm thúc đẩy phát triển diện tích trồng mía mới một cách bền vững, đảm bảo hiệu quả kinh tế và tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật.
+ Đối với diện tích trồng mới: tổng mức cho vay là 29 tr/ha
+ Đối với diện tích trồng lại: tổng mức cho vay là 20tr/ha
Ngoài diện tích đầu tư trực tiếp, toàn bộ diện tích sẽ được đầu tư gián tiếp thông qua các ngân hàng, đơn vị cung ứng phân bón và chủ máy cày Việc này giúp mở rộng quy mô sản xuất và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Đầu tư gián tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và giảm thiểu rủi ro cho nông dân Các hình thức đầu tư này thúc đẩy phát triển bền vững trong ngành nông nghiệp Việt Nam.
Hỗ trợ kinh phí các hoạt động cho ban chỉ đạo trồng mía nhƣ sau:
+ Các huyện (thị) là 1000 đồng/tấn mía sạch
+ Ban chỉ đạo các xã (phường) là 3000 đồng/tấn mía sạch
Các chủ hợp đồng có sản lượng mía sạch cao hơn vụ cũ, đạt mức tăng 5.000 đồng/tấn, trong khi những chủ hợp đồng có sản lượng mía sạch thấp hơn vụ cũ sẽ nhận mức giảm 4.000 đồng/tấn.
Các chính sách hỗ trợ khác:
Diện tích đất lúa, đất bãi ven sông và các nhóm đất trồng lâu năm khác có độ dốc dưới 10 độ, chuyển đổi sang trồng mía với diện tích từ 0,5 ha trở lên sẽ được hỗ trợ 3 triệu đồng trên mỗi hécta sau khi trồng và nghiệm thu đạt chất lượng Ngoài ra, ban chỉ đạo trồng mía có diện tích mía chuyển đổi cũng sẽ nhận được khoản hỗ trợ 300.000 đồng trên mỗi hécta, nhằm khuyến khích chuyển đổi đất trồng trọt hiệu quả và bền vững.
Công ty sẽ xác định thời điểm thích hợp để mua bọ hung non và bọ hung trưởng thành nhằm xử lý các diện tích mía bị bọ hung phá hoại, với giá mua sẽ được công bố sau Những diện tích lưu gốc năm thứ nhất bị bọ hung phá mất trắng sẽ được trồng lại và công ty hỗ trợ 3 triệu đồng trên mỗi hectare.
+ Diện tích bị nhiễm rệp nặng, nếu có nhu cầu công ty sẽ cho vay thêm tiền mua thuốc rệp theo định mức 2tr/ha