VŨ THỊ THU HẰNG THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ DẠY HỌC CHƯƠNG: SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN SH11 BẰNG PHẦN MỀM LECTURE MAKER 2.0 Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học sinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VŨ THỊ THU HẰNG
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
DẠY HỌC CHƯƠNG: SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN(SH11) BẰNG PHẦN MỀM
LECTURE MAKER 2.0
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên – 2011
Trang 2VŨ THỊ THU HẰNG
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
DẠY HỌC CHƯƠNG: SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN (SH11) BẰNG PHẦN MỀM
LECTURE MAKER 2.0
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học sinh học
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN LUẬN VĂN: PGS.TS NGUYỄN VĂN HỒNG
Thái Nguyên – 2011
Trang 3Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Hồng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tác giả thực hiện luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô trong tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy thuộc khoa Sinh – KTNN, khoa Sau đại học trường ĐHSP Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tác giả nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy cô giáo tổ Hóa Sinh ba trường: THPT Văn Lãng, THPT Dân Tộc Nội Trú, THPT Ngô Thì Sỹ tỉnh Lạng Sơn
đã tạo điều kiện thuận lợi và hợp tác cùng chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng, hình iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông là góp phần thực hiện đổi mới PPDH ở nhà trường nước ta hiện nay 5
1.1.2 Dạy học bằng bài giảng điện tử là hướng đi đúng trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học .7
1.1.3 Ưu điểm của phần mềm Lecture Maker 2.0 trong thiết kế BGĐT .9
1.2 Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1 Sơ bộ đánh giá hiệu quả giảng dạy của một số phần mềm thiết kế BGĐT ở trường THPT .11
1.2.2 Sơ bộ điều tra những xu hướng sử dụng CNTT và những vướng mắc khi sử dụng CNTT trong dạy học .14
1.2.3 Sơ bộ đánh giá thực trạng sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0 trong dạy học sinh học ở trường THPT 18
Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ ĐA PHƯƠNG TIỆN CHƯƠNG “SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN” (SINH HỌC 11 CB) BẰNG PHẦN MỀM LECTURE MAKER 2.0 21
2.1 Cấu trúc nội dung chương “Sinh trưởng và phát triển” (Sinh học 11 CB) 21 2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 26
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế .26
Trang 52.2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử .30
2.2.3 Ví dụ minh họa quy trình thiết kế bài 34 “Sinh trưởng ở thực vật” 37
2.3 Quy trình sử dụng 40
2.3.1 Nguyên tắc sử dụng 40
2.3.2 Quy trình sử dụng .41
2.3.3 Một số ví dụ minh họa về tổ chức quá trình dạy - học trên lớp theo hướng sử dụng BGĐT 46
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52
3.1 Mục đích thực nghiệm 52
3.2 Nội dung thực nghiệm 52
3.3 Phương pháp thực nghiệm: 52
3.3.1 Chọn trường, lớp thực nghiệm và giáo viên dạy thực nghiệm 52
3.3.2 Bố trí thực nghiệm 53
3.3.3 Phương pháp phân tích kết quả thực nghiệm 54
3.4 Kết quả thực nghiệm 55
3.4.1 Kết quả phân tích 3 bài kiểm tra trong thực nghiệm 55
3.4.2 Đánh giá kết quả phân tích bài kiểm tra sau thực nghiệm 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Phân tích kết quả tham vấn ý kiến của học sinh 12
Bảng 1.2 Đáp ứng của phần mềm với yêu cầu của GV 18
Bảng 2.1 Cấu trúc nội dung chương sinh trưởng và phát triển 21
Bảng 2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử đa phương tiện 31
Bảng 2.3 Một số phần mềm dùng gia công tư liệu thu từ internet 34
Bảng 2.4 Quy trình tổ chức dạy học sử dụng BGĐT 41
Bảng 2.5 Hình thức tổ chức nhóm học tập 43
Bảng 3.1: Các bài dạy thực nghiệm 52
Bảng 3.2 Thống kê điểm số các bài kiểm tra trong thực nghiệm 55
Bảng 3.3 Bảng tần suất điểm (%) 56
Bảng 3.4 Bảng tần suất điểm (%) 57
Bảng 3.5 Kiểm định X điểm trắc nghiệm 58
Bảng 3.6: Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 59
Bảng 3.7 Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra sau TN 60
Bảng 3.8 Bảng phân phối tần suất điểm kiểm tra 60
Bảng 3.9 Bảng phân phối tần suất tích lũy hội tụ tiến (f%) 61
Bảng 3.10 Kiểm định X điểm trắc nghiệm 63
Bảng 3.11 Phân tích phương sai điểm trắc nghiệm 64
Bảng 3.12 Phân tích kết quả thăm dò ý kiến GV 65
Bảng 3.13 Phân tích kết quả thăm dò ý kiến HS 67
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 56
Hình 3.2: Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra 57
Hình 3.3 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN và trước TN 61
Hình 3.4 Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra STN và TTN 62
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu thực hiện đổi mới PPDH ở trường phổ thông
Ngày nay, các nhà khoa học cho rằng: tri thức của nhân loại tăng nhanh theo tốc độ lũy tiến Vì vậy, dạy học phải giúp cho người học có phương pháp học tập để nâng cao năng lực tự thu nhận, xử lí và sử dụng thông tin vào thực tiễn cuộc sống Nghị quyết TW4 khóa VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy và học và được quán triệt toàn
diện trong Nghị quyết TW2 khóa VIII: “Đổi mới manh mẽ phương pháp
GD-ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” [27] Định hướng chiến lược này của Đảng tiếp tục phát triển
qua các kì Đại hội Đảng và trong chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 cũng đã nêu những giải pháp cụ thể về đổi mới phương pháp giáo dục, trong
đó có chỉ rõ: " Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ
việc truyền đạt tri thức chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống
và có tư duy phân tích, tổng hợp phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của HS, sinh viên…”[32] Thực hiện
tinh thần nói trên, Bộ GD – ĐT nước ta cũng đã ra nhiều văn bản, thông tư hướng dẫn thực hiện, trong số đó có xác định lấy công nghệ thông tin là một trong năm nhiệm vụ trọng tâm
1.2 Xuất phát từ bản chất kiến thức chương “sinh trưởng và phát triển” SGK Sinh học 11 CB [13], [14]
Nội dung kiến thức chương “sinh trưởng và phát triển” đề cập đến những loại kiến thức phản ánh các hiện tượng sống ở sinh vật, đó là kiến thức về các quá trình sinh học Để làm rõ bản chất các cơ chế diễn ra trong các quá trình
Trang 10này đòi hỏi phải có phương tiện dạy học có khả năng trực quan hóa tốt Một trong những phương tiện đáp ứng tốt yêu cầu trên là phải kể đến đóng góp của CNTT và Lecture Maker là một trong số đó
1.3 Xuất phát từ tính ƣu việt của phần mềm lecture maker [31]
Lecture Maker là một sản phẩm của công ty Daulsoft Hàn Quốc, đây là một phần mềm hoàn thiện phù hợp cho việc soạn thảo bài giảng điện tử trong dạy học hiện nay ở trường phổ thông và nó cũng đáp ứng cho việc dạy học điện tử trong tương lai gần ở nước ta
Lecture Maker có khả năng đưa vào những tâp tin multimedia, power point, pdf đã sẵn có… Bộ công cụ soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm được tích hợp vào chương trình rất hiệu quả Các nhà CNTT khẳng định rằng Lecture Maker trong dạy - học là một loại phương tiện dạy học có khả năng tăng cường tính trực quan rất hiệu quả, nó có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo của người học , giúp thực hiện tốt việc phân hóa, cá thể hóa trong dạy học Bởi vì: Phần mềm Lecture Maker là một trong những phần mềm thể hiện được rất nhiều ưu điểm: Giúp tạo được bài giảng với đầy đủ hình ảnh sinh động kèm theo âm thanh, các đoạn video clip, tích hợp trắc nghiệm khách quan, có thể
sử dụng những học liệu tin học từ những nguồn cung cấp khác nhau kể cả những bài soạn cũ trên các phần mềm khác của giáo viên Lecture Maker giúp bài giảng trở nên sinh động hơn, logic hơn, ấn tượng tốt hơn, HS dễ hiểu và khắc sâu kiến thức tốt hơn Cũng vì những lẽ đó Cục CNTT của Bộ GD – ĐT cho rằng Lecture Maker tuy là con đẻ của power point nhưng trong tương lai gần chính nó sẽ thay thế cho phần mềm power point trong soạn thảo bài giảng điện tử
Với những lý do trên tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: "Sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0 thiết kế bài giảng điện tử dạy học chương “sinh trưởng
và phát triển” (Sinh học 11 CB) bằng phần mềm Lecture Maker 2.0”
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
Sử dụng phần mềm Lecture maker 2.0 thiết kế bài giảng điện tử chương
“sinh trưởng và phát triển” (Sinh học 11 CB ) nhằm nâng cao kết quả học tập của HS THPT
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: bài giảng điện tử
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học chương “sinh trưởng và phát triển” (Sinh học 11 CB )
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và sử dụng bài giảng hợp lí trong dạy học chương sinh trưởng và phát triển (Sinh học 11 CB ) thì sẽ góp phần nâng cao kết quả học tập của HS
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan để xây dựng cơ sở lí thuyêt cho đề tài nghiên cứu, xây dựng quy trình thiết kế và quy trình sử dụng BGĐT
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng và đánh giá hiệu quả về ứng dụng một số phần mềm soạn thảo BGĐT để làm cơ sở đề xuất ứng dụng phần mềm Lecture maker 2.0 soạn thảo BGĐT
- Thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trao đổi với giáo viên hướng dẫn và các chuyên gia giàu kinh nghiệm về những vấn đề liên quan đến đề tài luận văn
5.3 Các phương pháp thống kê toán học: Xử lí số liệu nghiên cứu thực
nghiệm sư phạm
6 Giới hạn nghiên cứu
- Sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0 thiết kế bài giảng điện tử
Trang 12chương sinh trưởng và phát triển (Sinh học 11 CB)
- Thực nghiệm sư phạm: một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
7 Những đóng góp mới của luận văn
7.1 Xây dựng các bài giảng tích hợp TTĐPT trong chương “sinh trưởng và
phát triển” (SGK Sinh học 11 CB) bằng phần mềm Lecture Maker
7.2 Xây dựng Blog cá nhân để cung cấp tài liệu và hướng dẫn học tập cho HS
trong website của Công ty Tin học Bạch Kim (http://violet.vn)
7.3 Tổ chức dạy học theo hình thức thảo luận có sử dụng các bài giảng và
Blog cá nhân
7.4 Đánh giá được nhu cầu và triển vọng sử dụng bài giảng tích hợp TTĐPT
trong dạy học Sinh học 11 CB, kiến thức chương “sinh trưởng và phát triển”
ở trường THPT
Trang 13và truyền thông (Information and Communication Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện nay Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác Trong giáo dục – đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn Hiệu quả rõ rệt nhất là chất lựơng giáo dục tăng lên cả về mặt lý thuyết và việc thực hành Nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT ”
Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, việc đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện
kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này trong các văn bản: Nghị quyết của Chính phủ về chương trình quốc gia đưa công nghệ thông tin (CNTT) vào giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương
Trang 142 khóa VIII, Luật giáo dục, Nghị quyết 81 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị
29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010,… Trong Nghị quyết Trung ương 2, khoá VIII Đảng và Nhà nước ta khẳng định, phải “đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS,…”[27]
Chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn
2001 – 2005 nêu rõ “CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học tập”, nhưng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của CNTT ” [3]
Trong “Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010” của Bộ Giáo dục – Đào tạo đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bước phát triển giáo dục dựa trên CNTT, vì “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học” [ 3 ]
Đặc biệt, công văn số 9584/BGDĐT-CNTT ngày 7/9/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi cho các sở giáo dục và đào tạo, các trường đại học, cao đẳng sư phạm và các khoa sư phạm, yêu cầu phải nhanh chóng “đẩy mạnh việc dạy môn Tin học và ứng dụng CNTT trong giáo dục, góp phần đổi mới phương pháp dạy-học và quản lí giáo dục” Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát
động “lấy năm học 2008 – 2009 sẽ là năm Công nghệ thông tin” [4]
Nâng cao nhận thức về tin học và ứng dụng CNTT trong nhà trường nhằm giúp các cấp lãnh đạo, các lực lượng xã hội nhận thức một cách đầy đủ
ý nghĩa và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào trong nhà trường;
Trang 15Đánh giá, xây dựng và nhân rộng các mô hình tốt, tổ chức các diễn đàn, hội thảo để chia sẻ và phổ biến kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong việc quản lí nhà trường, hỗ trợ dạy và học; Tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng về CNTT cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các cấp; Tuyển chọn, thẩm định tài liệu dạy học tin học theo chương trình đã được Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành; Khuyến khích các địa phương dạy tin học như môn học tự chọn, những nơi có điều kiện có thể tăng thêm thời lượng và nội dung dạy tin học; Khuyến khích sử dụng giáo án điện tử trong các trường học, sử dụng tin học là công
cụ tích cực đổi mới phương pháp dạy học ở trường học trong giai đoạn mới Như vậy, CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp dạy học, đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục mạnh mẽ không chỉ tại Việt Nam mà trên toàn thế giới
1.1.2 Dạy học bằng bài giảng điện tử là hướng đi đúng trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học [11], [12], [16]
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy
tính, với Internet, dạy học qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình…
Bài giảng điện tử : là một tập hợp các học liệu điện tử được tổ chức lại
theo một kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức và kỹ năng cho người học một cách hiệu quả thông qua sự trợ giúp của các phần mềm quản lý học tập (Learning Management System -LMS) [6] Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học bằng bài giảng điện tử so với phương pháp dạy học truyền
Trang 16thống là:
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh vedeo, camera … với âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, trên cơ thể con người mà thực tế ta không thể hoặc không thực hiện được trong điều kiện nhà trường hiện nay
- Hệ thống công nghệ thông tin tạo điều kiện để trí thông minh của con người, thực hiện được những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau cùng với người sử dụng qua mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo, HS sẽ độc lập tiếp thu được hệ thống kiến thức cơ bản một cách thuận lợi nhất
- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, hứng thú, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin, truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin, truyền thông chắc chắn có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS, điều này làm nảy sinh những phương pháp học tập mới
- Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay mỗi giáo viên phải đặt trọng tâm là dạy sao để cho
HS hứng thú, chủ động, sáng tạo có phương pháp học tâp Nếu trước kia
Trang 17người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành
kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của HS Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn
- Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà HS trung bình, thậm chí HS trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của giáo viên tới từng gia đình HS thông qua hệ thống mạng
- Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạo hứng thú nơi HS Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học Những khả năng mới
mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin, truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn là cách ra quyết định của mỗi con người Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập của HS, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, HS được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình
1.1.3 Ƣu điểm của phần mềm Lecture Maker 2.0 trong thiết kế BGĐT [25]
Lecture Maker là phần mềm soạn thảo bài giảng điện tử , sản phẩm của
Trang 18công ty Daulsoft Hàn Quốc (www.daulsoft.com) Với Lecture Maker, bất kỳ
ai cũng có thể tạo được bài giảng điện tử nhanh chóng và dễ dàng Không chỉ
có vậy, bạn còn có thể tận dụng tất cả các bài giảng đã từng làm trên những định dạng khác như PowerPoint, PDF, Flash, HTML, Audio, Video… để đưa vào làm nội dung bài giảng mới của mình
Bài giảng được tạo ra từ Lecture Maker tương thích với chuẩn SCORM
để làm bài giảng e-learning cho các hệ thống học tập trực tuyến
a Các chức năng chính
- Master Slide - Tạo thể hiện thống nhất
Nếu bạn đã từng biết đến Master Slide trong PowerPoint thì khái niệm Master Slide cũng như vậy Xây dựng Master Slide trước khi đưa nội dung vào sẽ giúp bạn sắp xếp, tổ chức bài giảng nhất quán, hợp lý hơn Master Slide có thể chứa tất cả các đối tượng bạn mong muốn có trên từng trang bài giảng, bao gồm các nút điều khiển, các chi tiết thiết kế trang
- Nhiều bộ soạn thảo khác nhau
Lecture Maker có sẵn các bộ công cụ soạn thảo trực quan cần thiết để tạo bài giảng điện tử như: soạn thảo công thức toán học, vẽ biểu đồ, vẽ đồ thị, tạo bảng, text box, và các ký tự đặc biệt
- Đa dạng nội dung đa phương tiện
Bạn có thể chèn nhiều loại nội dung đa phương tiện vào bài giảng của mình như: hình ảnh, video, âm thanh, flash…
- Điều khiển Video
Video có thể được sử dụng như một phần của bài giảng như là những minh họa Với khả năng đồng bộ video với nội dung bài giảng, video không chỉ còn là minh họa trên từng trang riêng lẻ mà thực chất còn là một phần của bài giảng điện tử trong đó vừa có nội dung bài giảng, vừa có hình ảnh, tiếng nói của giáo viên đi kèm với nội dung
Trang 19b Các tính năng đặc biệt
- Thiết kế và phác thảo mẫu trình bày
Phần mềm cung cấp sẵn nhiều mẫu trình bày Nhiều dạng bài giảng learning sống động với sự kết hợp các mẫu trình bày được cung cấp như của PowerPoint, hay kết hợp giữa video với text, hay âm thanh với text,… có thể được tạo ra một cách dễ dàng
- Nút tương tác
Các nút liên kết nội dung và các nút định vị trang được sử dụng trong soạn thảo bài giảng nhằm định hướng nội dung bài học cũng như làm tăng khả năng tương tác học tập
- Bài giảng sinh động
Với việc sử dụng webcam, microphone, chức năng bảng điện tử, khả năng
tự ghi lại giúp bài giảng có thể được soạn thảo một cách hiệu quả và sáng tạo bằng cách ghi hình, ghi âm và đồng bộ bài giảng Kết quả thu được là một bài giảng sinh động với đầy đủ các hoạt động trên lớp mà qua đó người học hoàn toàn tự học được
a Về phía HS
Chúng tôi sử dụng các phiếu tham vấn ý kiến của HS với 14 câu hỏi để xác định hiệu quả của GAĐT với việc học tập của HS Chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Trang 20Bảng 1.1 Phân tích kết quả tham vấn ý kiến của học sinh
1 Nhóm câu hỏi khảo sát về mối
quan tâm của HS đối với hai
phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học bằng BGĐT khêu gợi sự quan tâm của HS vào chủ đề của bài học hơn phương pháp truyền thống
2 Nhóm câu hỏi khảo sát về mức
độ khác biệt của lượng thông tin
được tiếp nhận của hai phương
pháp dạy học
Với phương pháp dạy học truyền thống, HS khó có thể trả lời đúng hết 60% các câu trả lời ôn tập
3 Phương pháp dạy học nào giúp
HS theo dõi xuyên suốt nội dung
bài học hơn?
Phương pháp dạy học truyền thống giúp HS theo dõi xuyên suốt nội dung bài học hơn phương pháp dạy học bằng BGĐT
4 Phương pháp dạy học nào đòi
hỏi HS phải trao đổi thêm với bạn
bè ?
Cả hai phương pháp dạy học trên đều đòi hỏi HS phải trao đổi thêm với bạn bè
5 HS tự tin rằng mình sẽ vượt
qua được kỳ thi các môn với
phương pháp dạy học nào?
Sau khi học xong bằng BGĐT thì phần lớn HS tự tin rằng mình sẽ vượt qua kỳ thi lý thuyết hơn là học bằng phương pháp truyền thống
6 Với phương pháp dạy học nào
HS cho rằng cần phải trao đổi với
giáo viên để làm rõ thêm các vấn
đề trong mục tiêu học tập ?
Phương pháp dạy học truyền thống đòi hỏi HS phải trao đổi với giáo viên giảng dạy để làm rõ thêm các vấn đề trong mục tiêu học tập
7 Phương pháp dạy học nào giúp
HS tiếp thu được nhiều kiến thức,
Phương pháp học bằng BGĐT giúp
HS tiếp thu được nhiều kiến thức,
Trang 21kỹ năng làm việc nhóm và tiếp cận
công nghệ mới hơn ?
kỹ năng làm việc nhóm và tiếp cận công nghệ mới
8 Phương pháp dạy học nào đòi
hỏi HS phải đọc thêm tài liệu
tham khảo mới có thể đạt được
mục tiêu học tập ?
Với phương pháp dạy học bằng BGĐT, HS cần phải đọc thêm tài liệu tham khảo mới có thể đạt được mục tiêu học tập
9 Phương pháp học nào khuyến
khích HS trình bày ý kiến thắc
mắc của mình hơn ?
Phương pháp học truyền thống khuyến khích HS trình bày ý kiến thắc mắc của mình hơn là phương pháp học bằng BGĐT
10 Phương pháp dạy học nào
giúp HS nhớ được các phần quan
trọng của bài học hơn ?
Phương pháp dạy học truyền thống giúp HS nhớ được các phần quan trọng của bài học hơn là học bằng BGĐT
11 Phương pháp nào giúp HS
học thêm được nhiều nội dung
không có trong sách giáo khoa ?
Cả hai phương pháp trên đều giúp
HS học thêm được nhiều nội dung không có trong sách giáo khoa
12 Phương pháp dạy học nào làm
phí thời gian của HS hơn ?
HS cho rằng học bằng BGĐT không phí thời gian như là phương pháp học truyền thống
13 Phương pháp dạy học nào
giúp HS nhớ bài hơn sau thời gian
2 tuần ?
Dù là phương pháp nào thì HS cũng không nhớ hơn được 50% nội dung bài học sau 2 tuần
14 HS mong muốn được học
Trang 22sự trao đổi giữa các HS và HS-GV
2 Mặc dù 7/10 GVcảm thấy mình chia sẻ những ý kiến thắc mắc của HS qua
sự cần thiết phải trả lời thấu đáo các câu hỏi của họ nhưng 12/20 GV cho rằng mình không cảm thấy gần gũi với HS như với GDTT, cũng chỉ có 7/20 GV cảm thấy thực sự thích thú khi dạy bằng BGĐT( đa số là GV trẻ)
3 Chỉ có 9/20 GV cảm thấy hài lòng với BGĐT do bộ môn mình biên soạn Lý
do hài lòng là nội dung đáp ứng được mục tiêu học tập, hình thức đẹp, rõ ràng
4 Có 14/20 GV cảm thấy thoải mái khi giảng dạy với BGĐT vì đỡ phải thuyết giảng mất nhiều thời gian và HS chủ động tích cực
1.2.2 Sơ bộ điều tra những xu hướng sử dụng CNTT và những vướng mắc khi sử dụng CNTT trong dạy học [24]
Qua điều tra về hiên trạng sử dụng phần mềm thiết kế ở trường THPT trong dạy học trong cả nước ta hiện nay ta có thể thấy rõ có những xu hướng
sử dụng CNTT như sau:
a Những xu hướng sử dụng CNTT hiện nay [8]
Theo những điều tra nghiên cứu mới đây cuả thạc sỹ Lê Viết Chung [10], trong “Trao đổi về Ứng dụng CNTT trong dạy học” thì ta có thể nhận thấy xu hướng sử dụng CNTT trong giáo dục của nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung gồm 3 xu hướng chính như sau
- Thứ nhất: CNTT được sử dụng như là một công cụ của người dạy
Hình thức này vốn đã đươc người dạy sử dụng để thiết kế bài giảng ngay
từ khi bắt đầu ứng dụng CNTT vào giảng dạy Người dạy sử dụng các phần
Trang 23mềm thiết kế bài giảng thông dụng như PowerPoint, Frontpage, Acrobat để chuyển tải các nội dung giảng dạy từ ngôn ngữ của sách vở sang ngôn ngữ của máy tính Chính vì vậy sau một thời gian dài thì chúng ta đã nhận thấy rằng đây chỉ là một xu hướng chuyển HS từ thế thụ động đọc- chép sang thế thụ động khác là chiếu – chép Xu hướng này không chỉ làm giảm độ tích cực của HS
mà còn tạo điều kiện cho các giáo viên ngại viết bảng, không thuộc giáo án
- Thứ hai: CNTT được sử dụng như là một phương tiện cho giáo viên
và HS tương tác trong quá trình dạy và học
Ở xu hướng này, giữa GV và HS có sự tương tác hai chiều nhờ sử dụng CNTT như là một kênh để thu nhận và phản hồi thông tin của bài giảng đến thầy giáo Xu hướng này không chỉ kích thích sự tích cực trong HS mà còn thúc đẩy sự tích cực trong việc cải tiến phương pháp dạy học của GV Chính
vì vậy dang đang là xu hướng được khuyến khích ở các trường học hiện nay nhằm cải tiến dạy học theo hướng tích cực Trong tình hình hiện nay, xu hướng này là một giải pháp tương đối hoàn thiện mà người thầy cần chọn lựa, tuy nhiên xu hướng này ở một góc độ nào đó chưa thật sự để cho người học chủ động, tự chủ trong quá trình học tập
- Thứ ba: Sử dụng CNTT tạo ra một môi trường học tập mới mẻ, tạo nên một sự đa dạng về hình thức, phong phú về mặt phương pháp
Đây là xu hướng đang được phổ biến trên thế giới ở các nước đã phát triển Trên các trang Web trong nước và quốc tế hiện nay ta có thể thấy rất nhiều các lớp học ảo ( E- learning), các lớp đào tạo qua mạng này đang phát triển mạnh mẽ và là xu thế tương lai cho giáo dục toàn cầu Với xu hướng này vai trò chủ động học tập của người học được tăng lên rõ rệt, người thầy chỉ đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn, gợi mở, kích thích sự tò mò tìm tòi kiến thức Người học hoàn toàn chủ động về thời gian, địa điểm, cách thức việc
Trang 24trường ảo, lớp ảo phục vụ cho việc học tập thật sự Ở nước ta, trong những năm gần đây xu hướng này cũng đã được tiếp cận và triển khai, nhưng do điều kiện trang thiết bị còn hạn chế nên xu hướng này thực sự chưa có khả năng nhân rộng
Trong môi trường giáo dục và đào tạo ở bậc THPT, xu hướng thứ 2 và thứ 3 sẽ trở thành những hướng đi chính nhằm thay đổi hoàn toàn phương thức dạy học hiện nay, đưa HS trở về đúng với vai trò “trung tâm” trong dạy học mà các em đáng được thụ hưởng Với mức độ ứng dụng CNTT vào dạy học như hiện nay, hầu hết các trường THPT trên cả nước đều có khả năng thử nghiệm và phổ biến xu hướng thứ 2 và thứ 3 trong công việc dạy, học Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi nghiên cứu để sử dụng tốt phần mềm Lecture Maker theo xu hướng thứ hai
b Những vướng mắc khi sử dụng CNTT trong dạy học [30], [31]
Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa công nghệ thông tin, truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy vẫn còn nhiều hạn chế từ thực tiễn Chẳng hạn:
- Máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể thay thế giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ hỗ trợ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho HS, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng
và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức
Trang 25“vận dụng” đòi hỏi giáo viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được nhiều kĩ năng cho HS
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin của giáo viên vẫn còn hạn chế, trong khi thiết kế nên BGĐT cần có sự kiên trì, sáng tạo mới
có thể tạo nên những bài giảng hay Điều đó khiến nhiều giáo viên còn né tránh làm cho phương pháp dạy học cũ trở thành lối mòn khó thay đổi Muốn khắc phục được những hạn chế trên, tạo dựng được môi trường và cơ sở vật chất cho việc thực hiện phương pháp dạy học ứng dụng CNTT là công việc đòi hỏi cần có thời gian và sự nỗ lực chung của mỗi giáo viên và những nhà quản lí giáo dục
Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn là điều mới mẻ đối với giáo viên, đòi hỏi giáo viên phải biết cập nhật mọi kiến thức, phải cố gắng vươn lên nhiều mặt, vững kiến thức, biết kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học, biết vận dụng, phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống, mạnh dạn, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm có như vậy mới có thể phát huy trọn vẹn tính tích cực và tính hiệu quả của dạy học ứng dụng CNTT Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
Trang 26Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền Công tác đào tạo, Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp có hiệu quả
1.2.3 Sơ bộ đánh giá thực trạng sử dụng phần mềm Lecture Maker 2.0 trong dạy học sinh học ở trường THPT
Phân tích ưu nhược điểm của các phần mềm được sử dụng phổ biến hiện nay ở trường phổ thông dựa trên các tiêu chí mà GV chọn lựa khi sử dụng
để thiết kế bài giảng điện tử, chúng tôi thu được kết quả bảng 1.1 dưới đây
Bảng 1.2 Đáp ứng của phần mềm với yêu cầu của GV
mong muốn
Khả năng đáp ứng của phần mềm
Microsoft Powerpoint
Trang 27Kết quả so sánh cho thấy, chỉ phần mềm công cụ Lecture Maker là đáp ứng tất cả các tiêu chí đề ra, trong đó nổi bật là: dễ sử dụng, tương tác
“nhúng” cao, tạo được chuẩn giáo án điện tử theo chuẩn SCORM quốc tế Có thể nói Lecture Maker không chỉ là một phần mềm thiết kế bài giảng mà nó còn là “sân khấu” giúp các phần mềm dạy học khác cùng trình diễn, tương tác
để đạt hiệu quả dạy học cao nhất đối với một bài giảng tích hợp TTĐPT Hiện nay phần mềm Lecture Maker đang được Cục CNTT của Bộ GD&ĐT khuyến khích sử dụng để thiết kế bài giảng phục vụ tốt cho dạy học E-learning thông
qua cuộc thi “Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e-Learning năm học
2009-2010” Vì vậy, đây cũng là lí do để chúng tôi lựa chọn sử dụng phần mềm
Lecture Maker trong việc thiết kế các bài giảng tích hợp TTĐPT ở đề tài nghiên cứu này
Phần mềm Lecture Maker là phần mềm đã mang lại những hiệu quả tốt bởi tính ưu việt của mình Tuy nhiên tại các truờng THPT ở Việt Nam nói chung và tại địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng thì phần mềm này còn rất mới
mẻ Một số trưòng THPT của nhiều tỉnh thành trong cả nước cũng đã được tập huấn để áp dụng phần mềm này vào trong dạy học để thay thế cho phần mềm trình chiếu bằng Power Point nhưng mức độ ứng dụng phần mềm này vẫn đang chỉ dừng ở việc “tập huấn” hay ứng dụng tính năng chính “trình chiếu” như Power Point chứ chưa thể hiện được tính ưu việt vượt trội đích thực của nó
Tiểu kết:
- Mặc dù đã có nhiều phần mềm được đưa vào sử dụng, nhưng những phần mềm có mục đích hỗ trợ GV đổi mới cách dạy và giúp HS tự học vẫn chưa được nghiên cứu và thiết kế Do đó cần có những nghiên cứu thêm về sử dụng BGĐT trong giảng dạy ở nhà trường để cái tiến phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng như thúc đẩy quá trình tự giác tích cực chủ động trong
Trang 28học tập của mỗi người học sao cho phù hợp và bắt kịp với quá trình phát triển của tri thức, khoa học công nghệ đang ngày càng phát triển trên thế giới
- Việc sử dụng phần mềm Lecture Maker trong giảng dạy là cần thiết
về cả mặt lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả trong giảng dạy sinh học nói riêng và các môn học khác nói chung ở trường phổ thông Có thể coi phần mềm Lecture Maker là một phương tiện dạy học, tuy nhiên phương pháp
sử dụng chúng như thế nào vào thiết kế và tổ chức dạy học cũng là vấn đề cần phải được làm sảng tỏ Đây chính là hướng mà chúng tôi muốn nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài này
Trang 29Chương 2 THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ ĐA PHƯƠNG TIỆN CHƯƠNG “SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN” (SINH HỌC 11 CB)
BẰNG PHẦN MỀM LECTURE MAKER 2.0 2.1 Cấu trúc nội dung chương “Sinh trưởng và phát triển” (Sinh học 11 CB) [1], [13], [14], [15], [34]
Bảng 2.1 Cấu trúc nội dung chương sinh trưởng và phát triển
Chủ
đề Số tiết Tên bài Nội dung kiến thức
Kiến thức trọng tâm
- Định nghĩa sinh trưởng và phát triển
- Mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển
- Sinh trưởng và phát triển của thực vật được chia làm 2 pha:
+ Pha STPT sinh dưỡng + Pha STPT sinh sản
- Sinh trưởng sơ cấp
- Sinh trưởng thứ cấp
- Nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
Sinh trưởng thứ cấp: chú ý hai tầng sinh trưởng
là tầng sinh vỏ và tầng sinh mạch làm cho cây lớn lên về chiều ngang
Bài 35:
Hooc môn thực vật
- Khái niệm hoocmôn thực vật
- Hoocmôn kích thích sinh trưởng: auxin, gibêrelin,
xitôkinin: vai trò từng loại hoocmôn
Trang 30xitôkinin
Hooc môn ức chế sinh trưởng: Axit abxixic, êtilen, chất làm chậm sinh trưởng và chất diệt cỏ
- Sự cân bằng hoocmôn thực vật
- Ứng dụng trong nông nghiệp
Phân biệt tác dụng chủ yếu và ứng dụng của từng loại
- Ứng dụng trong nông nghiệp
- Hoocmôn ra hoa
ở động vật
- Khái niệm sinh trưởng và phát triển
- Mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển
- Hai giai đoạn sinh trưởng và phát triển chính ở động vật:
giai đoạn phôi và giai đoạn hậu phôi
- Phát triển không qua biến thái
- Phát triển qua biến thái
+ Phát triển qua biến thái
- phân biệt phát triển phôi và hậu phôi
- phân biệt phát triển qua biến thái và phát triển không qua biến thái Phát triển qua biến thái hoàn toàn và biến thái không hoàn toàn
Trang 31hoàn toàn
+ phát triển qua biến thái không hoàn toàn
Bài 38, 39: Các nhân tố ảnh hưởng đến ST
và PT ở động vật
- Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong:
+ Cải tạo vật nuôi
+ Cải thiện dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Hoocmôn sinh trưởng và hoocmôn tirôxin
- Hoocmôn điều hoà sự phát triển qua biến thái
- Hoocmôn điều hoà chu kì động dục ở động vật, chu kì kinh nguyệt ở người
- Các nhân tố bên ngoài: thức
ăn, các nhân tố khác
Bài 40:
thực hành quan sát
ST và PT của một
số động vật
- Quan sát phát triển không qua biến thái ở gà
- Quan sát phát triển qua biến thái ở tằm
- Quan sát phát triển ở ếch
Chương này đề cập đến đặc tính sinh trưởng và phát triển ở động vật và
Trang 32phát triển Đối với cơ thể đơn bào như vi khuẩn mà đã được nghiên cứu ở lớp
10 thì sự sinh trưởng và phát triển của chúng là thể hiện sự tăng số lượng cá thể trong quần thể Thực chất của sự tăng sinh này là do sự phân đôi của tế bào (cũng là sinh sản của tế bào) qua nhiều thế hệ Đối với sinh vật đa bào, khái niêm sinh trưởng và phát triển có hơi khác và nó được dùng để biểu đạt
sự tăng sinh của tế bào (cũng là sinh sản của tế bào) và đi theo là sự phân bố
và biệt hoá tế bào để tạo thành các cơ quan trong cơ thể đa bào Tuyệt đại đa
số cơ thể đa bào phức tạp đều được hình thành từ một tế bào là hợp tử Quá trình hình thành cơ thể đa bào từ 1 tế bào hợp tử theo thời gian là thể hiện sự sinh trưởng và phát triển Quá trình này diễn ra gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau bao gồm quá trình sinh trưởng trong đó sự tăng sinh tế bào (do sự phân chia tế bào), tăng trưởng mô, tăng trưởng cơ quan và cơ thể do sự tăng lên về khối lượng Đồng thời cũng diễn ra quá trình phát triển tức là quá trình hình thành các tế bào khác nhau (do biệt hoá tế bào), các mô khác nhau, các cơ quan khác nhau tạo nên cơ thể trưởng thành có khả năng sinh sản để cho ra thế hệ mới Như vậy sự sinh trưởng là sự tăng khối lượng mô, cơ quan, cơ thể, còn sự phát triển là sự tạo thành cái mới tức là các tế bào mô, cơ quan khác nhau Nhà phôi sinh học gọi quá trình sinh trưởng phát triển để tạo thành
cơ thể là quá trình phát triển cá thể (ontogenesis) và sinh học hiện đại đã bước đầu làm sáng tỏ cơ sở phân tử, tế bào và quá trình di truyền của quá trình phức tạp này và trên cơ sở đó đã hình thành nên các công nghệ phôi, công nghệ nhân bản vô tính, công nghệ tế bào gốc… ứng dụng có hiệu quả trong nông nghiệp và y dược Hai quá trình sinh truởng và phát triển tuy khác nhau nhưng có sự liên quan mật thiết, mối tương quan này ở các cơ thể khác nhau
là không giống nhau và còn tuỳ thuộc vào môi trường sống Nếu ta trồng cà chua với chế độ tưới nước và phân bón đầy đủ cà chua sẽ lớn đến một mức độ tối đa mới ra hoa kết trái, nhưng trong điều kiện thiếu nước đất cằn cối thì cà chua sẽ bé nhỏ còi cọc Mỗi một loài có độ dài sinh trưởng và tuổi thọ khác nhau Cây một năm thấp bé có tuổi thọ chỉ một năm (lúa, ngô) còn cây lâu
Trang 33năm cao to có tuổi thọ hàng chục, hàng trăm năm (cây mít, cây chò) Ở động vật, chuột có tuổi thọ chỉ chục năm, con người có tuổi thọ khoảng trăm năm, còn rùa có tuổi thọ khoảng vài trăm năm Thực vật và động vật có nhiều đặc điểm rất khác nhau về sinh trưởng và phát triển Nhìn chung sự sinh trưởng và phát triển ở động vật phức tạp hơn và đa dạng hơn so với thực vật
Trong phần sinh trưởng và phát triển ở thực vật, phần mới của SGK là bài
35 giới thiệu các chất điều hoà sinh trưởng (các phitôhoocmon) SGK cũ giới thiệu phần này còn rất sơ lược nhưng SGK mới đã đi sâu giới thiệu các nhóm chất điều hoà sinh trưởng khác nhau cùng cơ chế tác động của chúng Có nhóm hoocmôn kích thích sinh trưởng như auxin, gibêrelin, xitôkinin Có nhóm kìm hãm sinh trưởng như axit abxixic, êtilen Sự phát triển như ra hoa kết quả, chín quả… cũng được điều hoà bởi các chất kích thích khác nhau như hoocmôn ra hoa florigen, các phitôcrôm, êtilen Các yếu tố của môi trường tác động lên sinh trưởng và phát triển của cây thường thông qua tác động của các chất điều hoà sinh trưởng Trên cơ sở hiểu biết về các chất điều hoà sinh trưởng, các nhà nông nhiệp đã áp dụng nhiều công nghệ để tăng năng suất cây trồng
Phần sinh trưởng và phát triển ở động vật, SGK mới đề cập sâu hơn, có
hệ thống hơn đặc biệt giới thiệu các giai đọan phát triển phôi và hậu phôi ở các nhóm động vật phát triển qua biến thái và không qua biến thái Phần tác động của hoocmôn sinh trưởng được giới thiệu sâu hơn đặc biệt là các hoocmôn điều hoà chu kì kinh nguyệt ở người và đây là cơ sở khoa học cho các biện pháp bảo vệ sức khoẻ sinh sản tuổi vị thành niên cũng như kế hoạch hoá gia đình
Sinh trưởng phát triển là kiến thức về quá trình sinh lý ở cấp độ tế bào
và cơ thể Giáo viên cần cho học sinh thấy rõ chuỗi các sự kiện xảy ra theo một trình tự nhất định, có tính chất định hướng trong quá trình sinh trưởng phát triển của thực vật và động vật
Trang 34Trong thực tế quá trình sinh trưởng và phát triển có thể quan sát bằng mắt thường thông qua nhận biết quá trình tăng về kích thước và khối lượng của cơ thể thực vật và động vật hay những biểu hiện ra bên ngoài cho thấy sự phát triển của chúng như ra hoa, kết quả ở thực vật hay sự động dục ở động vật Nhưng phải mất rất nhiều thời gian để quan sát bằng mắt thường cả quá trình đó một cách toàn vẹn Hơn nữa ta cũng chỉ quan sát được những biểu hiện bên ngoài của quá trình sinh trưởng và phát triển mà không thấy đựơc những diễn biến bên trong của quá trình Chính vì vậy việc sử dụng những thước phim về sinh trưởng
và phát triển sẽ giúp học sinh nắm bắt được quá trình đó một cách đầy đủ hơn
Thông qua những thước phim như: sinh trưởng của cây cà chua HS có thể quan sát thấy toàn bộ quá trình sinh trưởng phát triển của thực vật từ lúc hạt nảy mầm=> cây => ra hoa => kết quả => hạt Đây là cả một quá trình biến đổi dần dà và liên tục diễn ra trong cơ thể do các quá trình sinh lí, sinh hoá ở từng tế bào, mô cơ quan trong cơ thể HS sẽ thấy rõ được tính định hướng của quá trình sinh trưởng và phát triển ở động vật và thực vật Những thước phim
về cơ chế tác động của các hoocmon ở cả thực vật và động vật sẽ cho thấy sự
tự điều chỉnh của quá trình Qua đó sẽ toát lên mối quan hệ chặt chẽ của quá trình sinh trưởng và phát triển trong cơ thể sinh vật tạo một thể thống nhất toàn vẹn ở cấp độ cơ thể
Để có thể sử dụng các thước phim này được hiệu quả cao về cả chất lượng hình ảnh, âm thanh cũng như kết hợp hoàn thiện với nội dung kiến thức
mà học sinh cần đạt được thì phần mềm Lecture Maker là một trong những phần mềm có thể đáp ứng hiệu quả nhất
2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế [5], [6]
Dạy học là một quá trình đòi hỏi sự thống nhất cao giữa mục tiêu, nôị dung, phương pháp dạy học Quá trình dạy học gồm 6 thành tố cơ bản: Mục
Trang 35tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện - hình thức tổ chức - đánh giá, xét trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh Nhiệm vụ của các nhà lý luận dạy học là nghiên cứu tìm ra những quy luật của sự tương tác giữa các thành tố này để tổ chức, thiết kế và điều khiển hợp lý quá trình dạy học nhằm đạt hiệu quả cao nhất Logíc của mối quan hệ giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy học là: dựa vào nội dung sách giáo khoa đã được biên soạn, giáo viên phải phân tích nội dung, căn cứ vào đối tượng cụ thể để xác định những mục tiêu mà học sinh phải đạt được sau khi học một bài hoặc một chương Để đạt được mục tiêu giáo viên phải xác định được cần tập trung vào nội dung nào, sử dụng phương pháp dạy học nào, phương tiện dạy học nào để đạt hiệu quả cao nhất
a Nguyên tắc thống nhất mục tiêu dạy học và quá trình truyền thông
Mục tiêu dạy học và quá trình truyền thông phải có sự thống nhất, không rời rạc:
Mục tiêu dạy - học là những tiêu chí về mặt nhận thức và kỹ năng, thái
độ phải đạt được khi thực hiện một hoạt động dạy - học, có thể là cho một bài hoặc một chương cụ thể
Căn cứ vào mục tiêu dạy học, khi thiết kế bài giảng , người giáo viên phải cụ thể hoá được nội dung dạy học bằng hệ thống câu hỏi, phiếu học tập,
sơ đồ, hình ảnh, nói chung là phương tiện dạy học mà phương tiện dạy học này phải chứa đựng nội dung học tập trong đó Thông qua quá trình truyền thông (thao tác giữa người học với các phương tiện dạy học) thì nội dung dạy học đến được với HS
Cụ thể, tài liệu hướng dẫn dạy học theo hướng thiết kế bài giảng điện tử (BGĐT) phải chứa đựng các thành tố sau:
- Mục tiêu dạy học : mục tiêu được dựa trên tài liệu chuẩn kiến thức cho bộ môn Sinh học lớp 11 CB do Bộ Giáo dục ban hành
Trang 36- Nội dung dạy học: Theo SGK Sinh Học 11 CB
- Cách xây dựng, sưu tầm và xử lý tư liệu dạy học để tạo nên phương tiện dạy học (Theo các quy trình được trình bày phần 2.2.2 )
- Phương tiện dạy học bao gồm các dạng: hình ảnh, các đoạn video, các file ảnh động, sơ đồ, phiếu học tập,
- Hình thức tổ chức hoạt động nhận thức: Theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS HS chủ động trong quá trình tiếp thu tri thức
b Nguyên tắc đảm bảo tính chính xác của nội dung dạy học và quá trình truyền thông
Để đảm bảo tính chính xác về nội dung và quá trình truyền thông góp phần thành công cho một BGĐT, chúng ta phải có được những số liệu, những thông tin chính xác và hình ảnh sinh động đưa vào trong bài giảng đúng nơi – đúng chỗ giúp cho giá trị bài giảng cao hơn Bên cạnh đó, việc thiết kế bài giảng theo từng chương, mục, điều, khoản, điểm một cách khoa học các vấn
đề được xâu chuỗi một cách đan kết và dính lồng vào nhau, cái này được trình bày trước là để tạo tiền đề cho kia hiện thân sau tạo nên một chất keo dính logic kết nối các vấn đề một cách mạch lạc, nhằm làm nổi lên được tính khoa học trong một bài giảng
c Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong quá trình dạy học và quá trình truyền thông
Nhận thức chỉ có thể bắt đầu từ cái cụ thể hiện thực, có thể tri giác trực tiếp bằng giác quan Đây là giai đoạn phản ánh cảm tính - vật thể của hiện thực vào ý thức con người dưới dạng những tri giác, biểu tượng, mà cơ sở là
hệ thống tín hiệu thứ nhất
Nguyên tắc trực quan trong dạy học sinh học nhằm làm cho giai đoạn nhận thức này thực hiện dễ dàng hơn
Trang 37Nên sử dụng nhiều màu sắc, ánh sáng và âm thanh trên máy chiếu nhiều hơn là các chữ viết với những dấu gạch đầu dòng đơn điệu và chữ nghĩa dài lê thê dễ gây cảm giác nhàm chán cho giác quan người nghe Đồng thời, việc dùng nhiều màu sắc, ánh sáng, âm thanh kết hợp với lối nói thuyết phục của người chủ thuyết sẽ khiến cho bài giảng thực sự thấm sâu vào tâm hồn người nghe hơn
Ví dụ: khi chúng ta nói đến 2 từ quả táo, thông thường trong trí óc của chúng ta – điều đầu tiên sẽ là hiện lên hình ảnh của quả táo chứ không phải là
2 chữ quả táo Chính vì não của chúng ta dễ nắm bắt được thông tin thông qua hình ảnh, màu sắc và âm thanh cho nên việc chúng ta thiết kế bài giảng có lồng thanh âm, ánh sáng, màu sắc và trình bày vấn đề dưới dạng sơ đồ hóa sẽ khiến cho học viên hay thính giả thấy thích thú hơn đồng thời dễ khắc trí hơn
về những nội dung mà chúng ta cần trình bày
d Nguyên tắc đảm bảo phát huy tối đa vai trò của các giác quan trong quá trình dạy học và quá trình truyền thông
Để đảm bảo nguyên tắc này, TLHDDH xây dựng và sử dụng theo hướng thiết kế BGĐT phải thực hiện được những điểm sau:
- Cần chuyển tải được nội dung học tập từ dạng văn bản (kênh chữ), kênh hình, kênh tiếng thông qua các PTDH như: Ảnh, ảnh động, chương trình
mô phỏng, đoạn phim, sơ đồ, biểu bảng, phiếu học tập,…
- Khi sử dụng các PTDH trên, mỗi PTDH sẽ tác động vào một giác quan của người học làm cho nội dung bài học được HS tiếp thu hiệu quả nhất
- Các tư liệu đó phải được sắp xếp một cách khoa học để GV có thể sử dụng chúng dễ dàng khi tổ chức hoạt động nhận thức (truyền thông) cho HS Khi đảm bảo các nguyên tắc trên trong quá trình xây dựng và sử dụng
Trang 38sắc hơn và qua sự hỗ trợ của PTDH độ bền kiến thức được duy trì lâu dài
e Nguyên tắc lấy không gian bù thời gian trong quá trình dạy học và quá trình truyền thông
Trong thực tế, các quá trình sinh học có thể diễn ra trong một hay nhiều năm thậm chí kéo dài hàng nghìn năm Nếu sử dụng quá trình đó trong giảng dạy để giới thiệu với HS thì chắc chắn yếu tố thời gian không cho phép
Để khắc phục vấn đề này các nhà giáo dục đã tạo ra phương tiện dạy học Trong các loại phương tiện dạy học thì phương tiện điện tử được sử dụng rộng rãi hơn cả vì yếu tố công nghệ của phương tiện này cho phép trình diễn,
mô phỏng lại tất cả các quá trình Sinh học một cách nhanh chóng, tiện lợi, hiệu quả và chính xác bản chất khoa học Điều quan trọng hơn là thời gian cả quá trình sinh học đó được rút ngắn lại đến mức cho phép sử dụng được trong phạm vi một tiết học (45 phút)
Quá trình dạy học sử dụng loại phương tiện dạy học có đặc điểm trên (lấy không gian bù thời gian) đương nhiên sẽ làm cho người học hiểu nhanh, nhớ lâu, và điểm tối ưu nhất là việc hiểu một quá trình sinh học diễn ra lâu dài
và phức tạp như vậy chỉ diễn ra trong một thời gian rất ngắn (rút ngắn thời gian nhận thức của học sinh đối với nhiệm vụ học tập) tức là quá trình truyền thông được rút ngắn Tài liệu hướng dẫn dạy học theo hướng BGĐT coi việc lấy không gian bù thời gian trong quá trình dạy học và quá trình truyền thông làm nguyên tắc trong xây dựng và sử dụng
2.2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử [29]
BGĐT không chỉ là một giáo án điện tử (phiên bản điện tử của giáo trình giấy và có thể xem trên màn hình của máy tính) mà BGĐT còn là một giáo trình điện tử có khả năng tích hợp các công nghệ phần mềm dạy học như công nghệ WEB, công nghệ đa phương tiện để thể hiện các tính năng mô
Trang 39phỏng, tương tác, tích hợp hình ảnh (tĩnh, động), có khả năng thể hiện và truyền tải tri thức nhanh chóng và hiệu quả hơn bài giảng đa phương tiện, giáo trình điện tử phải còn có chức năng thay người thầy khuyến khích và giúp người học có khả năng chủ động học và đặt câu hỏi nhờ trợ giúp giáo trình điện tử có thể lưu trữ trên các đĩa CD-ROM hoặc trên một kho tài nguyên học tập trên mạng, người học có thể sử dụng học tập bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu
Một giáo trình điện tử thường được chia thành hai phần: phần giáo trình
và phần tài liệu tham khảo Phần giáo trình có nhiều bài giảng, mỗi bài giảng
có phần nội dung và đặc biệt có sự trình bày của giáo viên (video) hoặc các minh họa để giải thích nội dung quan trọng của bài giảng, sau đó là phần câu hỏi trắc nghiệm và bài tập Phần tài liệu tham khảo có thể là những tập tin (file) tài liệu đi kèm, hoặc những địa chỉ trang Web có liên quan Việc phát triển các giáo trình điện tử giống như việc sản xuất các phần mềm đóng gói truyền thống trong công nghệ thông tin gồm các bước: phân tích, thiết kế, sản xuất, cài đặt, phân phối sản phẩm Qui trình phát triển có thể được tóm tắt như sau:
Bảng 2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử đa phương tiện
Bước 1 Xác định mục tiêu dạy - học
Bước 2 Phân tích lôgic cấu trúc nội dung dạy - học
Bước 3 Sưu tầm, gia công sư phạm và gia công kỹ thuật hệ thống tư
liệu kỹ thuật số phù hợp với nội dung dạy - học
Bước 4 Thiết kế giáo án kịch bản, các form tư liệu, bài tập bổ trợ
Bước 5 Nhập liệu thông tin vào các form mẫu trong phần mềm Lecture
Maker tạo bài giảng
Bước 6 Xây dựng Blog để quản lí các tư liệu kỹ thuật số, bài giảng điện tử
Trang 40Ví dụ : Để thiết kế một bài giảng điện tử, giáo viên cần chuẩn bị:
- Nội dung chính :
+ 1 Soạn mục lục, nội dung chi tiết các mục cơ bản, rồi nhóm lại thành các mục lớn hơn (theo kinh nghiệm hoặc theo đề cương được ấn định) + 2 Soạn câu hỏi trắc nghiệm cho các mục cơ bản (đánh giá tương tác và đánh giá hiểu bài)
+ 3 Soạn các bài tập thực hành, bài tập trắc nghiệm cho từng phần hoặc toàn bài
- Nội dung minh họa:
+ 4 Âm thanh : nhạc nền, nhạc cho từng mục, giọng thuyết trình, giọng giới thiệu
- Xác định những điều kiện HS cần có để thực hiện các hoạt động học tập
- Xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ đạt mục tiêu của HS phải nắm được các kiến thức gì, những kĩ năng nào hay hình thành được thái độ gì cà với mức độ đạt được ra sao Do đó mục tiêu đặt ra càng cụ thể, sát hợp với yêu cầu của nội dung và với điều kiện dạy- học thì càng thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả và điều chỉnh hợp lý quá trình dạy- học để từng bước thực hiện mục đích dạy- học một cách vững chắc Việc xác định mục tiêu bài học làm cơ sở cho việc phân tích nội dung dạy học
b Phân tích cấu trúc nội dung dạy học
Đây là công việc được tiến hành sau bước xác định mục tiêu dạy học