TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI KHOA KINH TẾ & QUẢN LÝ BỘ MÔN KINH TẾ Bài giảng GIỚI THIỆU LÝ THUYẾT MÔ HÌNH KINH TẾ (Lưu hành nội bộ) GS TS Nguyễn Khắc Minh (Chủ biên) PGS TS Bùi Duy Phú NCS Đào Văn Khiêm Hà[.]
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tổng quan về các mô hình cân bằng tổng quát và mô hình cân bằng tổng quát tính đo ảnh hưởng của tự do hóa thương mại (Tác động của hiệp định thương mại)
Các mô hình toán học đo lường ảnh hưởng của khu vực thương mại đến nền kinh tế đa ngành đã được sử dụng hơn hai thập kỷ như công cụ lập kế hoạch phát triển Mặc dù các mô hình quy hoạch tinh vi hơn chưa vượt qua ranh giới học thuật, hầu hết các nước đang phát triển đã nỗ lực mở rộng lập tài khoản quốc gia để tích hợp Bảng vào - ra Vào đầu những năm 1970, nhiều quốc gia đã áp dụng phân tích vào - ra như khuôn khổ cơ bản cho lập kế hoạch chính thức, giúp phân tích tác động của khu vực kinh tế đối ngoại.
Cấu trúc lý thuyết của các mô hình vào - ra và quy hoạch tuyến tính rất phù hợp cho các tình huống mà một cơ quan thẩm quyền trung ương kiểm soát hoàn toàn các biến định lượng trong hệ thống, nhưng phải đối mặt với các ràng buộc công nghệ và vật lý Những mô hình này phản ánh tốt nhất nền kinh tế kế hoạch tập trung, thường được sử dụng để giải quyết các bài toán cân đối vật chất trong sản xuất, bao gồm cả khu vực kinh tế đối ngoại Kantorovich đã chỉ ra mối liên kết giữa kế hoạch hóa tập trung và giá bóng trong lý thuyết kinh tế tân cổ điển, trong khi Dantzig phát triển quy hoạch tuyến tính như một công cụ ra quyết định tối ưu trong nhiều bối cảnh khác nhau Tuy nhiên, dạng chuẩn của các mô hình này không phù hợp với các tình huống mà nhiều tác nhân tối đa hóa hàm phúc lợi độc lập và xác định kết quả một cách gián tiếp qua nhà lập kế hoạch hay nhà hoạch định chính sách.
Chương 1 Mô hình cân bằng riêng phân tích tác động của hiệp định thương mại đến một số chỉ tiêu của nền kinh tế
Các nước đang chuyển đổi kinh tế thường có hệ thống kinh tế hỗn hợp, trong đó nhiều hoạt động kinh tế không bị kiểm soát trực tiếp bởi các nhà hoạch định chính sách Trong bối cảnh này, quyết định của các chủ thể kinh tế và cơ chế thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực Các mô hình quy hoạch tuyến tính thường không bao gồm các biến mà các nhà hoạch định chính sách có thể kiểm soát, dẫn đến khó khăn trong việc liên kết các biến tính toán với các quyết định chính sách thực tế Việc áp dụng các mô hình này ở các nước đang phát triển thường yêu cầu các điều chỉnh để phản ánh chính xác hơn tác động của chính sách lên các biến nội sinh Các cải biên đã được thực hiện nhằm nắm bắt gián tiếp ảnh hưởng của chính sách, nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề cơ bản là các mô hình không tích hợp trực tiếp các biến khuyến khích bằng giá cả Để đạt được sự phù hợp chính sách, cần phải từ bỏ giả thiết về nền kinh tế mệnh lệnh tập trung và thay vào đó là một khung cho phép các biến lượng và giá nội sinh tương tác Tính nội sinh của giá cả và các tương tác cân bằng tổng quát không thể đạt được với mô hình quy hoạch tuyến tính chuẩn, do đó cần phải xem xét lại các mối quan hệ kinh tế như ràng buộc ngân sách và hàm tiêu dùng để phản ánh chính xác hơn thực tế.
Một lớp mô hình mới, gọi là mô hình cân bằng tổng quát có thể tính toán (CGE), đã xuất hiện, kết hợp các liên kết cân bằng tổng quát giữa cấu trúc sản xuất, thu nhập của các nhóm khác nhau và mẫu cầu Mô hình CGE là công cụ hữu ích để đo lường ảnh hưởng của tự do hóa thương mại Nổi bật trong lĩnh vực này là công trình của deMoelo (1988) với tiêu đề "Các mô hình cân bằng tổng quát tính cho phân tích chính sách thương mại trong các nước đang phát triển".
Martens (1986) "Mô hình cân bằng tổng quát tính và các nền kinh tế đang phát triển", Dervis,K và Robinson,S.(1982) "Phân tích cân bằng tổng quát của nguyên nhân khủng
11 hoảng tỷ giá", Dervis,K Melo,J.de và Robinson,S.(1982) "Mô hình cân bằng tổng quát cho các nước đang phát triển".
Mô hình cân bằng riêng
Mô hình cân bằng tổng quát là công cụ mạnh mẽ để phân tích ảnh hưởng của tự do hóa thương mại, nhưng yêu cầu về số liệu rất lớn, dẫn đến tốn thời gian và chi phí Do đó, nhiều nhà kinh tế đã chuyển sang sử dụng mô hình cân bằng riêng Mặc dù mô hình này không mạnh bằng mô hình tổng quát, nhưng chi phí và thời gian cần thiết cho nó chỉ chiếm một phần nhỏ, trong khi vẫn cung cấp những kết quả cơ bản về lợi ích và thiệt hại cho người sản xuất, người tiêu dùng, nguồn thu của chính phủ và ảnh hưởng đến việc làm.
Mô hình cân bằng riêng mà chúng ta áp dụng để xây dựng phương pháp tính toán là mô hình do hai nhà kinh tế Mỹ Morke và Tarr đề xuất vào năm 1980 Mô hình này đã được sử dụng để phân tích tác động của chi phí bảo hộ mậu dịch tại Mỹ (Hufbauer, 1994), Nhật Bản (Sazanami, 1995) và Hàn Quốc (Kim).
Cách tiếp cận nghiên cứu được thực hiện bởi các tác giả như Nguyễn Khắc Minh (2001), Nguyễn Văn Luyện (2002) và Phan Hữu Nhật Minh (2002) tại Việt Nam, cùng với các nghiên cứu từ Trung Quốc (Shuguang, 1998) và các quốc gia khác từ năm 1996, đã đóng góp quan trọng vào việc mô tả nội dung nghiên cứu này.
1.1.2.1 Giả thiết của mô hình
Mô hình đƣợc xây dựng dựa trên tập hợp các giả thiết cơ bản sau đây:
1 Hàng hoá được sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu là thay thế không hoàn hảo
2 Biểu cung cho hàng nhập khẩu là phẳng (co giãn hoàn toàn)
3 Biểu cung cho hàng sản xuất trong nước có độ dốc dương
4 Tất cả các thị trường là cạnh tranh hoàn hảo
1.1.2.2 Mô tả ảnh hưởng bằng đồ thị Ảnh hưởng của việc loại bỏ hàng rào thương mại (thuế quan hoặc cô ta) được minh hoạ ở Hình 1.1 và Hình 1.2 dưới đây
Khi có bảo hộ, giá hàng nội địa là Pd với lượng cầu Qd Việc tự do hóa, tức là loại bỏ thuế quan hoặc quota, sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu, dẫn đến cầu hàng hóa nội địa giảm Sự dịch chuyển từ đường cầu Dd xuống Dd' khiến lượng tiêu thụ giảm xuống Qd' và giá mới trở thành Pd'.
Chương 1 Mô hình cân bằng riêng phân tích tác động của hiệp định thương mại đến một số chỉ tiêu của nền kinh tế
Hình 1.1 Ảnh hưởng trên thị trường trong nước
Khi áp dụng hàng rào thương mại, giá hàng hóa sản xuất trong nước là p d và lượng cầu đạt Q d Tuy nhiên, sau khi tự do hóa thương mại, giá nhập khẩu giảm xuống còn p m ’, dẫn đến việc cầu cho hàng hóa thay thế sản xuất trong nước giảm, làm dịch chuyển đường cầu từ D d đến D d ’ Kết quả là lượng tiêu dùng giảm xuống còn Q d ’ và giá giảm xuống còn p d ’.
Hình 1.2 Ảnh hưởng của giảm rào cản thuế quan ở thị trường nhập khẩu
Khi có hàng rào thương mại, giá hàng nhập khẩu tại thị trường được bảo hộ là p m và lượng nhập khẩu là Q m Sau khi tự do hóa thương mại, giá nhập khẩu giảm xuống p m ’, tương đương với giá thế giới Sự điều chỉnh giá này dẫn đến việc đường cầu nhập khẩu D m dịch chuyển sang D m ’, làm tăng lượng nhập khẩu lên Q m ’.
Khi loại bỏ thuế quan, giá hàng nhập khẩu trong thị trường nội địa sẽ giảm, cụ thể là từ mức giá pm xuống p m ‟, như thể hiện trong hình vẽ.
Giảm giá hàng nhập khẩu khiến đường cầu hàng nội địa dịch chuyển vào trong, từ Dd đến Dd', dẫn đến việc giảm giá hàng sản xuất trong nước từ pd đến pd'.
Việc giảm giá hàng sản xuất trong nước sẽ dẫn đến sự dịch chuyển của đường cầu hàng nhập khẩu từ Dm đến Dm‟ Khi cân bằng được thiết lập lại, giá cả của hàng nội địa và hàng nhập khẩu đều giảm, sản lượng hàng hóa sản xuất trong nước sẽ giảm xuống (từ Qd đến Qd‟) so với trước khi tự do hóa thương mại Đồng thời, lượng hàng nhập khẩu sẽ tăng lên (từ Qm đến Qm‟).
1.1.2.3 Phân tích ảnh hưởng phúc lợi của việc loại bỏ hàng rào thương mại a Cơ sở kinh tế của việc phân tích
Việc áp dụng các mô hình cho thấy rằng sự thay đổi về giá và lượng hàng hóa do tự do hóa thương mại mang lại lợi ích thặng dư cho người tiêu dùng.
Một phần thặng dư của người tiêu dùng tăng lên là do các nguyên nhân sau:
(i) Người tiêu dùng bây giờ phải trả ít hơn cho cùng lượng hàng hoá mà họ phải trả khi có hàng rào thương mại
(ii) Thêm vào đó những người tiêu dùng mà trước đây không mua hàng hoá này vì giá cao, nay do giá thấp họ tham gia vào thị trường
Tuy nhiên, thặng dư của người tiêu dùng từ tự do hóa thương mại bị ảnh hưởng bởi sự giảm sút thặng dư của người sản xuất trong nước do hàng hóa nhập khẩu thay thế hàng nội địa, dẫn đến việc giá cả và sản lượng hàng hóa nội địa giảm.
Nếu hàng rào thương mại là thuế quan thì tổn thất nguồn thu của chính phủ, một phần được bù đắp bởi thặng dư của người tiêu dùng
Nếu hàng rào thương mại được hiểu là hạn ngạch, thì tự do hóa thương mại sẽ loại bỏ lợi ích trước đây thuộc về người nhập khẩu trong nước hoặc người xuất khẩu nước ngoài, hoặc cả hai Điều này phụ thuộc vào cách phân phối hàng hóa và sức mạnh kinh tế của các bên tham gia thị trường.
Việc xóa bỏ hàng rào thương mại đã giúp cải thiện hiệu quả kinh tế, khôi phục định hướng đúng đắn trong việc phân phối nguồn lực.
Trước tự do thương mại, thuế quan và hạn ngạch tạo ra sự chênh lệch lớn giữa giá nội địa và giá thế giới của hàng nhập khẩu Điều này dẫn đến tình trạng phi hiệu quả, khi nguồn lực bị chuyển hướng vào sản xuất hàng hóa thay thế không hiệu quả, thay vì được sử dụng một cách tối ưu trong các khu vực có hiệu suất cao.
ỨNG DỤNG THỰC NGHIỆM ĐO LƯỜNG TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI NGÀNH Ô TÔ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2028
Giới thiệu
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương được xem là một hiệp định quan trọng của thế kỷ XXI, với khả năng mở rộng cho các thành viên APEC và ngoài khu vực châu Á - Thái Bình Dương Hiệp định này mở cửa thị trường toàn diện, cắt giảm gần như 100% thuế quan và bao gồm 22 lĩnh vực đàm phán, trong đó ưu tiên các lĩnh vực như dịch vụ tài chính, đầu tư, lao động và sở hữu trí tuệ Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, như nông sản, thủy sản và dệt may, sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi hiệp định có hiệu lực Ngược lại, một số mặt hàng như thịt, bia, đường và ô tô sẽ được giảm thuế nhập khẩu sau 10-11 năm Theo các chuyên gia kinh tế, tham gia hiệp định này sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm khoảng 26,2 tỷ USD từ khi ký kết đến năm 2025.
Việt Nam đang có cơ hội mở rộng thị trường và thu hút đầu tư, tạo vị thế trong chuỗi liên kết và phân công lao động, đồng thời hiện đại hóa các lĩnh vực dịch vụ Nếu tận dụng tốt thời cơ này, Việt Nam sẽ hưởng lợi từ làn sóng đầu tư mới, phát triển năng lực sản xuất để khai thác cơ hội xuất khẩu và tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu Người tiêu dùng trong nước sẽ được hưởng lợi từ việc giảm thuế suất hàng hóa nhập khẩu, làm tăng thặng dư tiêu dùng và phúc lợi xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là đối với cộng đồng doanh nghiệp trong nước.
Việc mất thặng dư của người sản xuất khiến doanh nghiệp Việt Nam giảm khả năng cạnh tranh Giảm thuế quan sẽ làm gia tăng nhanh chóng hàng nhập khẩu từ các nước tham gia Hiệp định vào Việt Nam với giá cả cạnh tranh, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt và thu hẹp thị phần hàng hóa nội địa Doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh lẫn nhau, và những doanh nghiệp yếu kém sẽ bị đào thải Tham gia Hiệp định đồng nghĩa với việc mở cửa thị trường dịch vụ, lĩnh vực mà Việt Nam còn hạn chế Sự mở cửa này sẽ tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ quốc tế có tiềm lực, kinh nghiệm và danh tiếng lớn vào Việt Nam, gây khó khăn cho các đơn vị cung cấp dịch vụ nội địa và dự báo nguy cơ mất thị phần.
Giảm thuế quan đối với hàng hóa từ các nước đối tác có thể gây ra hai bất lợi chính cho Việt Nam: giảm doanh thu thuế nhập khẩu và tăng cường cạnh tranh trong nước, đặc biệt trong ngành ô tô, một trong những mặt hàng chủ lực nhập khẩu Việt Nam vẫn đang duy trì mức thuế ưu đãi khá cao cho nhiều nhóm hàng và lộ trình mở cửa thị trường còn dài Việc cam kết giảm thuế sẽ dẫn đến sự gia tăng luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP với giá cả cạnh tranh hơn, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến ngân sách nhà nước và thị trường nội địa.
Hiệp định tự do hóa thương mại có thể dẫn đến tình trạng mất việc làm cho một bộ phận lao động do doanh nghiệp không cạnh tranh nổi, dẫn đến thu hẹp sản xuất hoặc phá sản Khi thị trường mở cửa, hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là hàng tiêu dùng, sẽ gia tăng về số lượng và đa dạng, dễ dàng chiếm lĩnh thị trường nhờ chất lượng và giá cả cạnh tranh, cũng như tâm lý ưa chuộng hàng ngoại của người tiêu dùng Việt Điều này tạo áp lực lớn cho doanh nghiệp trong nước, buộc họ phải tái cơ cấu và có thể dẫn đến thất nghiệp Đồng thời, quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa sẽ thúc đẩy di chuyển lao động từ nông thôn đến thành phố và khu công nghiệp, làm tăng sức ép về việc làm tại các đô thị Sự mất cân bằng giữa cung và cầu lao động có thể trở nên nghiêm trọng hơn, làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp Mặc dù nguồn nhân lực Việt Nam trẻ và dồi dào, nhưng trình độ chuyên môn và kỹ thuật vẫn còn hạn chế.
Chương 1 Mô hình cân bằng riêng phân tích tác động của hiệp định thương mại đến một số chỉ tiêu của nền kinh tế
Tỷ lệ lao động được đào tạo tại Việt Nam hiện chỉ đạt 22%, giảm từ 19,5% vào năm 2015, điều này có thể dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao khi các ngành nghề phát triển mạnh mẽ nhờ các hiệp định thương mại và yêu cầu chất lượng lao động ngày càng cao Hơn nữa, sự cạnh tranh từ lao động của các nước láng giềng sẽ gia tăng khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hình thành.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của việc tham gia ký kết Hiệp định đối với doanh thu của chính phủ, thiệt hại của người sản xuất, tình trạng thất nghiệp của công nhân, lợi ích của người tiêu dùng và phúc lợi xã hội trong ngành ô tô Việt Nam là rất cần thiết hiện nay.
Mô tả số liệu
Nghiên cứu này sử dụng số liệu hỗn hợp năm 2015, bao gồm sản lượng ô tô nhập khẩu từ Tổng cục hải quan, được cung cấp bởi Vnexpress Sản lượng ô tô lắp ráp trong nước trong năm 2015 được lấy từ báo cáo của hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), thông qua thời báo Kinh tế Sài Gòn Bảng giá ô tô lắp ráp trong nước và nhập khẩu được cập nhật từ VAMA trên báo điện tử Dân trí Thông tin về độ co giãn thay thế giữa các nguồn nhập khẩu và độ co giãn tổng cầu nhập khẩu theo giá nhập khẩu ngành ô tô được lấy từ nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Khắc Minh và các cộng sự (2004) về ảnh hưởng của tự do hóa thương mại tại Việt Nam Ngoài ra, sản lượng ô tô nội địa và nhập khẩu cũng được lấy từ số liệu của Tổng cục thống kê (2007-2014) để phân tích xu hướng tiêu dùng của xe nội địa và nhập khẩu.
Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu
1.2.3.1 Một vài nét về ngành sản xuất ô tô ở Việt Nam
Bảng 1.1c Sản lƣợng ô tô nội địa - nhập khẩu giai đoạn 2007-2015
Năm Sản lƣợng ô tô nội địa (chiếc)
Sản lƣợng ô tô nhập khẩu (chiếc)
Nguồn: Tổng cục thống kê (2016), Báo Vnexpress và Kinh tế Sài Gòn (2016)
Bảng dưới đây đưa ra giá cả trung bình của các dòng xe nội địa và dòng xe nhập khẩu chính trên thị trường Việt Nam hiện nay
Bảng 1.2 Bảng giá nội địa và nhập khẩu trung bình các dòng xe chính ở Việt Nam Đơn vị tính: triệu đồng
Giá nội địa trung bình(đã gồm thuế GTGT)
Giá nhập khẩu trung bình (gồm thuế NK,GTGT và tiêu thụ đặc biệt)
Nguồn: Báo điện tử Dân trí (2016)
1.2.3.2 Thảo luận ảnh hưởng của Hiệp định thương mại đến các chỉ tiêu kinh tế
Dựa trên dữ liệu từ Bảng 1.1 và Bảng 1.2, độ co giãn thay thế và độ co giãn của tổng cầu nhập khẩu theo giá nhập khẩu tương đối đã được ước lượng cho ngành ô tô (Nguyễn Khắc Minh).
2004), ta có có Bảng kết quả tính toán nhƣ sau:
Chương 1 Mô hình cân bằng riêng phân tích tác động của hiệp định thương mại đến một số chỉ tiêu của nền kinh tế
Bảng 1.3 Ƣớc lƣợng các tham số trong mô hình
Edt Qd Qm Sd Sm Edd Emm Edm Emd Es
Nguồn: Ước lượng của tác giả
Việt Nam cam kết mở cửa thị trường ôtô theo lộ trình giảm thuế nhập khẩu về 0% sau hơn 10 năm khi gia nhập Hiệp định thương mại Đến năm 2028, hầu hết xe ô tô dưới 10 chỗ nhập khẩu từ các nước tham gia Hiệp định sẽ có thuế suất 0% Kể từ 1/7/2016, mức thuế cho các loại xe ô tô với dung tích xi lanh khác nhau sẽ tăng giảm khác nhau Giả định các yếu tố không thay đổi từ 2016 đến 2028, nếu mức thuế trung bình giảm 5% vào năm 2016, chúng ta có thể tính toán các số liệu liên quan đến thuế suất trong các năm tiếp theo.
Bảng 1.4 Giá và lượng xe nhập khẩu và nội địa khi có Hiệp định Thương mại từ năm
2015-2028 Đơn vị tính: triệu đồng/chiếc
Khi có hiệp định Đơn vị:
Khối lƣợng nhập khẩu Qm
Giá nội địa Pd 778,66 Pd‟ 772,71 761,76 738,59 698,36
Khối lƣợng sản phẩm nội địa Qd
Nguồn: Ước lượng của tác giả
Theo Bảng 1.4, khi gia nhập TPP, từ năm 2016 đến năm 2028, thuế nhập khẩu giảm xuống 0% sẽ khiến giá xe nhập khẩu giảm tới 50%, trong khi giá xe nội địa giảm khoảng 10% sau hơn 10 năm thực hiện hiệp định Cụ thể, vào năm 2016, người tiêu dùng sẽ tiết kiệm gần 6 triệu đồng khi mua xe sản xuất trong nước.
Đến năm 2028, khi người tiêu dùng mua xe sản xuất trong nước giảm trung bình 80 triệu đồng, giá trị mua xe nhập khẩu dự kiến sẽ giảm một nửa, đạt khoảng 1127 tỷ đồng Từ năm 2015 đến 2028, lượng xe nhập khẩu tăng gần gấp đôi, từ 125.000 xe lên 231.644 xe, trong khi lượng xe nội địa tiêu thụ giảm đáng kể từ 173.000 xe xuống còn 155.161 xe Sự thay đổi này được thể hiện rõ qua Bảng 1.4 và hình minh họa.
Hình 1.3 Giá ô tô nhập khẩu và nội địa khi ký Hiệp định
Nguồn: Ước lượng của tác giả
Hình 1.4 Lƣợng ô tô nhập khẩu và nội địa khi ký hiệp định
Nguồn: Ước lượng của tác giả
Kết quả ước lượng các tham số cho thấy hiệp định thương mại có ảnh hưởng đáng kể đến năm chỉ tiêu kinh tế xã hội trong ngành Ô tô, bao gồm thiệt hại doanh thu của chính phủ, tổn thất của người sản xuất, tình trạng thất nghiệp của công nhân, lợi ích của người tiêu dùng và phúc lợi xã hội toàn ngành.
Kết quả ước lượng trong Bảng 1.5 cho thấy thiệt hại của chính phủ từ thuế sau khi hiệp định thương mại được ký kết đã tăng hơn 10 lần, từ khoảng 13.413 tỷ đồng vào năm 2016 lên mức cao hơn.
Dự báo đến năm 2028, tổng giá trị thị trường ô tô sẽ đạt 140840 tỷ đồng, trong khi thiệt hại của các nhà sản xuất trong nước tăng hơn 12 lần, từ 1024 tỷ đồng lên 13174 tỷ đồng sau hơn 10 năm Hiệp định Thương mại đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, với mức tăng hơn 14 lần, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội từ gần 300 tỷ đồng năm 2016 lên 60079 tỷ đồng năm 2028 Tuy nhiên, xã hội vẫn phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng, khi ngành ô tô chỉ tạo ra khoảng 80000 việc làm vào năm 2015 (Lê Hùng, 2016).
Giá nhập khẩu Pm Giá nội địa Pd
Khối lƣợng nhập khẩu Qm Khối lƣợng sản phẩm trong nước Qd
Chương 1 Mô hình cân bằng riêng phân tích tác động của hiệp định thương mại đến một số chỉ tiêu của nền kinh tế
Bảng 1.5 Kết quả ƣớc lƣợng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội Đơn vị tính: triệu đồng và lao động
Thiệt hại của chính phủ (GL) 13413345,24 36740902,17 80480071,43 140840125
Thiệt hại nhà sản xuất trong nước (PL)
Thặng dư của người tiêu dùng (CS)
Hiệu quả kinh tế cho xã hội (TS) 297635,26 2433215,208 14048715,82 60079196,35
Số việc làm mới (N000 năm 2015)
Nguồn: Ước lượng của tác giả
Khi có Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), số lượng công ăn việc làm trong ngành giảm xuống còn khoảng 79,390 Dự kiến, số người lao động mất việc trong ngành này ước tính sẽ tăng từ hơn 600 người vào năm 2016 lên hơn 8,000 người sau một thời gian.
10 năm là vấn đề mà các nhà làm chính sách và cơ quan quản lý nhà nước cần quan tâm và có các giải pháp phù hợp.
CÁC MÔ HÌNH ĐẦU VÀO ĐẦU RA
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Nghiên cứu về phân tích đầu vào - đầu ra đã sử dụng nhiều mô hình kế hoạch hoá dựa trên hàm tuyến tính từ những ngày đầu Gần đây, trong khoảng năm đến mười năm qua, việc áp dụng các mô hình phi tuyến trong khung cân bằng tổng quát đã trở nên khả thi Mặc dù giả thuyết tuyến tính rất mạnh và được sử dụng rộng rãi, các mô hình này vẫn giúp làm rõ nhiều vấn đề lý thuyết quan trọng Chương này sẽ trình bày nghiên cứu về các mô hình đầu vào - đầu ra truyền thống và quy hoạch tuyến tính, tập trung vào các thuộc tính toán học và kinh tế cơ bản của chúng Mục tiêu là phát triển các mô hình cân bằng tổng quát phi tuyến thế hệ mới.
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày khung kế toán cùng với các giả thiết kinh tế và cấu trúc toán học của mô hình đầu vào - đầu ra tĩnh, điều này là nền tảng cho mọi mô hình kế hoạch hoá nhiều ngành Tiếp theo, chúng tôi sẽ thảo luận về mô hình đầu vào - đầu ra động, nhấn mạnh vai trò của tích luỹ tư bản và bản chất của cân bằng liên thời gian Cuối cùng, chúng tôi sẽ mô tả cách áp dụng các mô hình đầu vào - đầu ra trong việc lập kế hoạch và phân tích các hệ thống giá tương hợp.
2.1.2 Mô hình đầu vào đầu ra tĩnh
Dưới mỗi phân tích kinh tế đều có một tập hợp các tài khoản kinh tế, cả tường minh lẫn không tường minh Sự phát triển các phương pháp kế toán mới trong lịch sử kinh tế học là yếu tố quan trọng cho sự tiến bộ của lý thuyết và mô hình mới Trong mô hình hóa vĩ mô, khung kế toán dựa trên các tài khoản thu nhập và sản phẩm quốc gia, với sự phát triển hiện đại gắn liền với Simon Kuznets Đối với lập kế hoạch nhiều ngành, hệ thống tài khoản đầu vào - đầu ra, được phát triển chủ yếu nhờ nghiên cứu của W Leontief, đóng vai trò quan trọng.
Khi nghiên cứu hệ thống kế toán như một khung cho việc phân tích hoặc mô hình hóa toàn nền kinh tế, cần xem xét ba khía cạnh chính Đầu tiên, các thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và điều chỉnh hệ thống kế toán.
Tác nhân kinh tế là gì và các thị trường được đưa vào một cách tường minh hoặc không tường minh ra sao? Bên cạnh đó, các giả thiết hành vi hay kỹ thuật dưới các tài khoản là gì? Ví dụ, Hình 2.1 minh họa một cái nhìn đơn giản về “luồng tuần hoàn” trong nền kinh tế, trong đó không tính đến ngoại thương, chỉ có hai tập hợp chính.
Các tác nhân kinh tế bao gồm các nhà sản xuất nhận đầu vào và cung cấp sản phẩm, trong khi các hộ gia đình nhận sản phẩm và cung cấp dịch vụ Thị trường trong nền kinh tế được chia thành hai loại: thị trường nhân tố và thị trường sản phẩm.
Có 29 sản phẩm phục vụ cho hai nhóm khách hàng khác nhau, bao gồm cả hộ gia đình và các nhà sản xuất Các nhà sản xuất không chỉ cung cấp sản phẩm cuối cùng mà còn bán hàng hóa trung gian cho các nhà sản xuất khác Việc đưa hàng hóa trung gian vào phân tích là trọng tâm của hệ thống kế toán đầu vào - đầu ra, giúp hiểu rõ cấu trúc tổng sản phẩm và các mối liên kết giữa các ngành Tuy nhiên, các tài khoản thu nhập và sản phẩm quốc gia thường không tính đến hàng hóa trung gian, và các mô hình vĩ mô cũng loại trừ chúng khỏi phân tích.
Các mũi tên trong Hình 2.1 minh họa các luồng hàng hóa và dịch vụ thực trong hệ thống, với mỗi mũi tên tương ứng chỉ ra luồng tiền thanh toán cho các hàng hóa và dịch vụ đó Tùy thuộc vào vấn đề phân tích, có thể xem xét luồng hàng hóa và dịch vụ theo chiều ngược kim đồng hồ hoặc luồng thanh toán theo chiều kim đồng hồ Tuy nhiên, sẽ có những vấn đề mang tính khái niệm trong việc hòa giải các tài khoản thực và danh nghĩa, như sẽ được thảo luận sau.
Hình 2.1 Luồng tuần hoàn kinh tế
Khung kế toán đơn giản trong Hình 2.1 chỉ tập trung vào hai nhóm tác nhân chính: các nhà sản xuất và các hộ gia đình, cùng với hai loại thị trường là thị trường sản phẩm và thị trường nhân tố Mặc dù không xem xét vai trò của các thể chế quan trọng như chính phủ hay hệ thống ngân hàng, khung này vẫn cung cấp nền tảng cho việc phân tích các mô hình đầu vào - đầu ra tĩnh và động Ngoại thương được hiểu đơn giản là nguồn cung và cầu cho hàng hóa trên thị trường sản phẩm Trong khung kế toán đa ngành, có nhiều phương pháp để xử lý ngoại thương, đặc biệt là nhập khẩu, mỗi phương pháp phản ánh những quan điểm khác nhau về vai trò của ngoại thương trong nền kinh tế.
Chương 2 Các mô hình đầu vào đầu ra
Trong phần này, chúng ta sẽ khám phá 30 cứu chi tiết về thương mại, bao gồm cả tài khoản kinh tế và các mô hình dựa trên chúng Bản chất và ý nghĩa của ngoại thương sẽ được phân tích, cùng với cách tích hợp nó vào các mô hình kế hoạch hóa một cách hiệu quả.
2.1.2.2 Mô hình không tách phần nhập khẩu
Giá trị sản phẩm trong mỗi ngành không chỉ tính đến các chi phí vật chất như tiền (bao gồm cả nhập khẩu và khấu hao) cùng với tiền lương, mà còn phải xem xét các khoản thuế và lợi nhuận Do đó, Bảng I/O theo dạng giá trị sẽ có cấu trúc như sau:
Giá trị sản xuất của ngành thứ i được ký hiệu là X i, trong khi giá trị sản phẩm của ngành i được sử dụng trong ngành j được ký hiệu là x ij Giá trị sử dụng cuối cùng của ngành i được biểu thị bằng x i, và giá trị sử dụng cuối cùng của ngành i cho mục đích tiêu dùng thứ k được ký hiệu là f ik.
Giá trị của yếu tố đầu vào sơ cấp thứ h (h=1, 2, 3, 4) trong ngành j (j=1,2, n) được biểu thị bằng y hj, cho biết lượng yếu tố này được sử dụng, phải trả hoặc nhận trong từng lĩnh vực cụ thể.
Mô hình vào- ra dạng giá trị đƣợc trình bày ở Bảng 2.1
Từ Bảng 2.1 ta rút ra các phương trình sau:
- Phương trình phân phối giá trị sản phẩm
Phương trình phân phối sản phẩm này chính là phương trình:
Giá trị sản xuất = Chi phí trung gian + Tiêu dùng cuối cùng + Đầu tƣ + Xuất khẩu - Nhập khẩu
Bảng này chỉ tập trung vào việc nhập khẩu các sản phẩm cạnh tranh, tức là những sản phẩm đã có sản xuất trong nước, do đó danh mục hàng nhập khẩu hoàn toàn trùng khớp với danh mục sản phẩm trong Bảng I/O Nhập khẩu không cạnh tranh, hay còn gọi là nhập khẩu các mặt hàng không được sản xuất trong nước, không được đưa vào xem xét Phần nhập khẩu có dấu âm vì các ngành nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ này là một trong những đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất.
Bảng 2.1 Mô hình vào -ra dạng giá trị
Nhu cầu trung gian Tổng
Các yếu tố sơ cấp
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Phần này đã nằm trong giá trị sản xuất của các ngành
- Phương trình Hình thành (cơ cấu) giá trị sản phẩm:
Chương 2 Các mô hình đầu vào đầu ra
- Phương trình Hình thành (cơ cấu) giá trị sản phẩm:
Bảng I/O dạng giá trị không chỉ phản ánh quá trình phân phối giá trị sản phẩm mà còn thể hiện quá trình hình thành giá trị sản phẩm Từ các phương trình (2.1) và (2.2), chúng ta có thể rút ra những kết luận quan trọng về mối quan hệ này.
Bây giờ ta xem xét nội dung kinh tế của vế trái và vế và vế phải (2.3) Tổng giá trị nhu cầu cuối cùng 1 n i i x
MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA MÔ HÌNH ĐẦU VÀO - ĐẦU RA TRONG PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO KINH TẾ
2.2.1 Lập kế hoạch sản xuất
Giả sử rằng chúng ta có ma trận hệ số chi phí trực tiếp ở năm báo cáo, các ma trận hệ số A t B t ( ), ( ).
Từ các ma trận A(t), B (t) ta tìm được A t ( 1), ( B t 1) Thông thường khi chuyển từ t đến t+1, tức là trong ngắn hạn thì các hệ số chi phí không thay đổi, tức là:
Khi có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật làm thay đổi một số hệ số, cần điều chỉnh ma trận chi phí để thu được ma trận chi phí ở thời kỳ t+1 Tại thời kỳ t+1, các quan hệ cân đối vẫn được duy trì, dẫn đến các tình huống khác nhau.
2.2.2 Xác định mức sản xuất của các ngành Ở thời kỳ kế hoạch Chính phủ đƣa ra yêu cầu về giá trị sản phẩm (hay sản phẩm) cuối cùng Khi đó mỗi ngành phải sản xuất bao nhiêu để đảm bảo yêu cầu này? Điều này có nghĩa là x( t 1), ( q t 1)là ngoại sinh; X( t 1), Q t ( 1)là nội sinh Từ (1')và (3 '), dựa bào các ma trận ( t 1), ( t 1) hoặc A t ( 1), ( B t 1)ta tìm đƣợc giá trị sản lƣợng (sản lƣợng) các ngành và cả các dự án kế hoạch khác Cụ thể nhƣ sau:
+ Cho trước yêu cầu về nhu cầu cuối cùng năm t +1, tức là cho:
Ta tính đƣợc giá trị sản xuất và các chỉ tiêu khác của các ngành dựa vào công thức sau:
2.2.3 Xác định giá trị sản xuất và nhu cầu cuối cùng của một số ngành
Một tình huống thú vị là khi chính phủ đạt được mức sản xuất và nhu cầu cuối cùng của một số ngành, từ đó cần xác định mức sản xuất và nhu cầu của các ngành còn lại để lập kế hoạch Nếu tổng số biến ngoại sinh được xác định là n, ta có thể tìm ra n biến còn lại dựa trên hệ phương trình Tuy nhiên, giải pháp có thể không khả thi về mặt kinh tế, do đó, các yêu cầu ban đầu cần được xem xét và điều chỉnh cho hợp lý.
Để xác định giá trị sản xuất của từng ngành, cần phải xem xét nhu cầu cuối cùng của các sản phẩm và dự án kế hoạch liên quan Tuy nhiên, tình huống này thường ít được đặt ra vì tổng sản phẩm không phải là mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế, mà chỉ là chỉ tiêu chứa đựng các sản phẩm trung gian.
MỘT SỐ ỨNG DỤNG THỰC NGHIỆM
2.3.1 Một số mô hình đầu vào - đầu ra để phân rã thay đổi cấu trúc kinh tế
Nguyễn Khắc Minh và Nguyễn Việt Hùng (2010) đã áp dụng mô hình vào ra để phân tích sự thay đổi trong cấu trúc kinh tế Các tác giả đã thực hiện một phương pháp phân tích cụ thể nhằm làm rõ các yếu tố tác động đến biến động kinh tế.
Các tác giả giả định rằng hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa là những sản phẩm thay thế hoàn hảo cho nhau, dẫn đến việc có thể điều chỉnh phương trình cân đối vật chất để phân biệt các nhóm cung và cầu khác nhau.
X + M = AX +F +E (2.5) ở đây các biến mới là
F = véc tơ cầu trong nước
E = véc tơ xuất khẩu Giải đối với X
Phương trình (2.6) tương tự như phương trình đã được định nghĩa trước đó, với E + F - M là cầu ròng đối với hàng hóa sản xuất trong nước Giả sử tỷ lệ cầu trong nước đối với hàng hóa sản xuất trong nước so với tổng cầu trong nước là cố định theo ngành, thì tỷ lệ cầu trong nước này được xác định như sau: i i d i d i i F V.
X d là véc tơ hàng hóa sản xuất trong nước, V là véc tơ cầu trung gian bao gồm hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước, F là véc tơ cầu cuối cùng trong nước cũng là sự kết hợp của hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước, và E d là véc tơ xuất khẩu hàng hóa của nước ta.
Chương 2 Các mô hình đầu vào đầu ra
Trong mô hình thì V=AX d Như vậy phương trình cân đối vật chất đối với hàng hóa trong nước được cho dưới dạng:
X d =V d +F d +E d (2.8) ở đây V d DˆV và F d D ˆ F vì V=Ax d , trong đó Dˆ là ma trận với các phần tử là các tham số d i Vì thế phương trình cân đối vật chất có thể viết là:
Sau một vài phép biến đổi đại số dựa trên (2.9) , có thể phân rã thay đổi tổng cầu trong nước thành dạng:
mở rộng cầu trong nước
Sự thay đổi trong các hệ số đầu vào và đầu ra được biểu diễn qua công thức R 1 = (I - Dˆ1 A 1) - 1, trong đó các chỉ số 1 và 2 đại diện cho các thời kỳ khác nhau Phương trình này cung cấp công thức phân rã cơ bản để phân tích sự thay đổi đầu ra của ngành thành các nguồn thay đổi khác nhau.
2.3.1.2 Thực nghiệm ước lượng thay đổi cấu trúc thông qua mức độ lan tỏa và độ nhậy
Phân tích lý thuyết cho thấy các mối liên hệ công nghiệp có thể tác động đến cấu trúc công nghiệp và sự phát triển kinh tế của một quốc gia Hoạt động sản xuất trong một ngành chịu ảnh hưởng từ các hiệu ứng liên kết tiếp theo (forward linkage effects) và hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) Kết quả cho thấy, đối với ngành sản xuất hàng hóa sơ cấp, chỉ số nhạy cao cho thấy mối liên hệ giữa các ngành trong nhóm và các ngành sử dụng sản phẩm của chúng làm đầu vào cho sản xuất.
Ngành trồng trọt, chủ yếu là cây lương thực, có chỉ số FL lần lượt là 1,956; 2,434; 1,695; 1,542 và 1,292; 1,980; 2,042; 2,358 theo các năm ước tính Đối với ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm cho đầu vào trung gian, như dệt may, chỉ số BL và FL đạt 1,140 và 1,971; 1,276 và 1,211; 1,424 và 1,362; 1,652 và 1,875 trong các bảng I-O năm 1989, 1996, 2000 và 2005 Các ngành sản xuất cho cầu cuối cùng với mức độ lan tỏa cao bao gồm chế biến thực phẩm, chế biến rau quả, sản xuất rượu, bia, đồ uống không cồn, thuốc lá, xà phòng, chất tẩy và chất dẻo.
Bảng 2.4 Thay đổi cấu trúc thông qua mức độ lan tỏa (backward linkage effects) và độ nhậy (foreward linkage effects) của các ngành
Cạnh tranh Phi cạnh tranh Cạnh tranh Phi cạnh tranh Cạnh tranh Phi cạnh tranh
BL FL BL FL BL FL BL FL BL FL BL FL
Cạnh tranh Phi cạnh tranh Cạnh tranh Phi cạnh tranh Cạnh tranh Phi cạnh tranh
BL FL BL FL BL FL BL FL BL FL BL FL
Nguồn: Tính toán dựa vào Bảng 1-0 1989, 1996, 2000 của GSO và 1-0 2005 của MOF
Chương 2 Các mô hình đầu vào đầu ra
2.3.1.3 Nguồn tăng trưởng công nghiệp ở Việt Nam Để thấy đƣợc Hình mẫu của thay đổi cấu trúc, họ đã tách giai đoạn nghiên cứu thành 3 giai đoạn: sau đổi mới đến trước khủng khoảng tiền tệ ở châu Á (1996); thời kỳ từ nắm 1996-
2000 và thời kỳ tiền hội nhập 2000-2005 Ở đây ta chỉ nêu kết quả thời kỳ 1989-1996
Trong giai đoạn 1989-1996, nếu lấy quy chuẩn tăng trưởng đầu ra của 52 ngành theo Bảng I-0 là 100%, thì tiêu dùng trong nước, bao gồm tiêu dùng của hộ gia đình và chính phủ, chiếm tỷ lệ lớn nhất với 51,66% Khi cộng thêm đầu tư doanh nghiệp, tỷ lệ này tăng lên 69,03% Thành phần lớn thứ hai là mở rộng xuất khẩu, chiếm 32,9%, trong khi các thành phần khác không đáng kể.
Các ngành có tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu cao bao gồm trồng trọt (chủ yếu là lúa), khai thác mỏ khác, chế biến thủy sản và sản phẩm từ thủy sản, dệt vải, dệt kim, cùng với da và các sản phẩm từ da Những ngành này đều có đặc điểm chung là tốc độ tăng trưởng đầu ra cao trong giai đoạn 1989-1996, với tỷ lệ tương ứng là 9,68%; 3,71%; 2,27%; 3,48% và 1,15%.
Ngành dệt vải và dệt kim có tỷ lệ xuất khẩu cao, với mức tăng trưởng đạt 3,48% trong giai đoạn 1989-1996 Đáng chú ý, mở rộng xuất khẩu đóng góp chính với tỷ lệ 3,67% Thành công này nhờ vào các chính sách mở rộng thị trường xuất khẩu và sự hợp tác đa phương của Đảng và nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thị trường xuất khẩu cho ngành này.
2.3.2 Sử dụng Bảng đầu vào - đầu ra để xây dựng các kênh truyền tải ảnh hưởng của FDI đến các doanh nghiệp nội địa
Chúng tôi sẽ trình bày cách thức xây dựng các kênh truyền tải ảnh hưởng của FDI đến doanh nghiệp nội địa, với cấu trúc các kênh được sắp xếp theo thứ tự hợp lý.
Kênh này thể hiện mức độ tham gia của vốn nước ngoài trong ngành, được tính bằng tỷ trọng vốn nước ngoài bình quân của tất cả các doanh nghiệp, với trọng số dựa trên tỷ trọng sản lượng của từng doanh nghiệp trong tổng sản lượng của ngành.
Y it - đầu ra thực của doanh nghiệp i, ngành j năm t; j
FS it - 1 phần chia vốn của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp i, ngành j , năm t
Nghiên cứu cho thấy rằng giá trị phần chia vốn của nhà đầu tư nước ngoài (FS) được xác định là 1 khi tỷ lệ sở hữu vượt quá 10%, trong khi nếu tỷ lệ này thấp hơn 10% thì giá trị sẽ là 0.
Do vậy, giá trị của biến này tăng theo sản lượng của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và tỷ trọng vốn nước ngoài trong các doanh nghiệp này
Kênh này thể hiện mức độ tham gia của nước ngoài trong các ngành cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp nghiên cứu, phản ánh sự hợp tác giữa nhà cung cấp nội địa và doanh nghiệp đa quốc gia Công thức tính được thể hiện như sau: jt jk kt k j.
BÀI TẬP
Bài 2.1 Cho các hệ số chi phí trực tiếp dạng giá trị năm t của 3 ngành nhƣ sau:
Chương 2 Các mô hình đầu vào đầu ra
và các hệ số chi phí lao động A t 0( )0, 2; 0,1; 0, 2
Giá trị sản lượng của các ngành trong năm t lần lượt là 480, 620 và 550 Để lập mô hình vào ra cho năm t, cần xác định mối quan hệ giữa các ngành và sản phẩm đầu vào Hệ số chi phí toàn bộ của năm t sẽ được tính toán để phân tích hiệu quả kinh tế Phần tử ở dòng thứ 2, cột thứ 3 trong ma trận này thể hiện chi phí sản xuất của ngành thứ hai liên quan đến sản phẩm của ngành thứ ba, cho thấy mức độ phụ thuộc và tác động của các ngành đối với nhau Dự báo đến năm (t+1), nhu cầu về sản phẩm cuối cùng của các ngành sẽ là 190, 160.
100), hãy tính giá trị sản lƣợng của các ngành năm (t+1) Biết rằng các hệ số chi phí của 2 năm là nhƣ nhau
Bài 2.2 Cho mô hình vào ra dạng giá trị của 3 ngành ở năm t:
Bảng 2.5a Mô hình đầu vào đầu ra dạng giá trị của 3 ngành
Để hoàn thiện Bảng trên, cần tìm các số liệu còn thiếu Tiếp theo, tính toán các hệ số chi phí trực tiếp và ma trận hệ số chi phí toàn bộ cho năm t, đồng thời giải thích ý nghĩa kinh tế của phần tử a31 và hệ số chi phí toàn bộ ở dòng 3 cột 1 Biết rằng x(t+1) = (400, 100, 200) và các hệ số chi phí của năm (t+1) không thay đổi so với năm t, hãy lập dự án cho năm (t+1).
Bài 2.3 Cho các hệ số chi phí trực tiếp dạng giá trị ở năm t của 3 ngành nhƣ sau:
Hệ số chi phí lương: 0, 2; 0, 2; 0,1, giá trị sản lượng của các ngành ở năm t là: (1450; 1990; 1500) triệu VND
Để lập mô hình vào ra cho năm t, cần xác định các yếu tố đầu vào và đầu ra của hệ thống Tiếp theo, tính toán các hệ số chi phí toàn bộ cho năm t, trong đó hệ số chi phí toàn bộ ở hàng I và cột j phản ánh mối quan hệ giữa chi phí và sản lượng trong nền kinh tế Cuối cùng, với dữ liệu x(t+1) = (900,1600,800) và các hệ số không đổi, lập mô hình vào ra cho năm (t+1) để phân tích sự thay đổi trong sản xuất và chi phí.
Bài 2.4 Cho mô hình vào ra dạng giá trị năm t của 3 ngành: Đơn vị tính: Tr VND
Bảng 2.5b Mô hình đầu vào đầu ra dạng giá trị của 3 ngành
Để hoàn thiện Bảng, cần tìm các số liệu còn thiếu và tính toán hệ số chi phí trực tiếp cho năm t Phần tử a32 có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích chi phí Đến năm (t+1), nhu cầu về sản phẩm cuối cùng của các ngành dự kiến là 540 triệu VND, 250 triệu VND, và 300 triệu VND Mô hình vào-ra cho năm (t+1) được xác định với A(t+1) = A(t) và A(t+1) trừ phần tử a22(t+1) = (4/5)a22(t).