Microsoft Word 02 09 Bia Bai giang TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI Khoa Kinh tế và Quản lý Bộ môn Quản trị kinh doanh BÀI GIẢNG ỨNG DỤNG LTTC TRONG KINH DOANH Hà Nội, tháng 09 năm 2021 Ứng dụng Lý thuyết trò[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
Khoa Kinh tế và Quản lý
Bộ môn Quản trị kinh doanh
BÀI GIẢNG
ỨNG DỤNG LTTC TRONG
KINH DOANH
Hà Nội, tháng 09 năm 2021
Trang 2Ứng dụng Lý thuyết trò chơi
trong Kinh doanh
TS Nguyễn Thế Hòa Email: nthoa56.ktcs@tlu.edu.vn
Mobile: 0913530859
Trang 3Mục lục
Chương 1: Nhập môn
Chương 2: Trò chơi tĩnh với thông tin đầy đủ
Chương 3: Xác định cân bằng của trò chơi tĩnh với thông tin đầy đủ Chương 4 :Ứng dụng LTTC tĩnh với thông tin đầy đủ để xác
định chiến lược kinh doanh Chương 5: Các chiến lược hỗn hợp và sự tồn tại cân bằng
Chương 6: Trò chơi tĩnh với thông tin không đầy đủ
Chương 7: Mở rộng trò chơi tĩnh với thông tin đầy đủ
Trang 4 Lý thuyết trò chơi (LTTC) nghiên cứu các tình huống chiến lược trong đó mỗi đấu thủ lựa chọn những hành động khác nhau để làm cực đại lợi ích của mình dưới điều kiện đối thủ khác cũng làm như vậy.
từ Kinh tế học, Quản trị học, Chính trị học, Xã hội học, Sinh học cho tới Triết học.
Trang 5Chương 1: Nhập môn
1 Các quyết định chiến lược
chiến lược Các quyết định không mang tính chiến lược không liên quan đến các hãng khác, nên hoạt động của các hãng khác không cần xem xét
Các quyết định chiến lược đặc trung bởi các thanh toán có tương tác lẫn
nhau, quyết định của bạn phụ thuộc vào cả hoạt động của bạn và cả hoạt động của người khác
trong cuộc chơi của người tham gia là như nhau, một quyết định dẫn tới không những lợi ích của người ra quyết định thay đổi mà cả sự thay đổi lợi ích của các bên tham gia gọi là một quyết định chiến lược.
Trang 62 Quyết định chiến lược trong cấu trúc thị trường độc quyền nhóm
giá, sản lượng, mở rộng qui mô, thay đổi công nghệ, tham gia thị trường mới, quảng cáo, đầu tư … là những quyết định chiến lược
Trong thị trường độc quyền nhóm đôi khi các hãng lại cấu kết với nhau, sự cấu kết thường rất mong manh và luôn có hãng phá vỡ thỏa thuận; nhiều khi các hãng lại cạnh tranh với nhau rất gay gắt Ở đây có vấn đề về lòng tin vào đối thủ
Mô hình lý thuyết trò chơi xem lòng tin giữa các đối thủ cạnh tranh là điều khó có thể đạt được.
Trang 7 Một đặc trưng của các quyết định chiến lược là kết quả trực tiếp của những thanh toán có quan hệ tương tác với nhau, không có một chiến lược tối ưu vô điều kiện Việc tối ưu thường có điều kiện về các tham số tình huống, phần nhiều được kiểm soát bởi các nhà quản lý Các nhà quản lý có thể thay đổi các tham số để làm tăng thanh toán của họ
Lý thuyết trò chơi giúp chúng ta hiểu tốt hơn về các quyết định chiến lược
Trang 83 Trò chơi Tình thế lưỡng nan của người tù
Có hai kẻ tình nghi về một tội nghiêm trọng bị bắt do một tội nhẹ hơn và
được thẩm vấn tách biệt nhau Mỗi người tù nhận được các lựa chọn sau:
Nếu không ai thú nhận, thì mỗi người sẽ nhận một bản án 2 năm cho loại tội không nghiêm trọng.
Nếu một người tù nhận tội và người kia không, thì người nhận tội chỉ bị 1 năm tù còn người kia bị mức án tù 10 năm.
Nếu cả hai thú nhận, thì mỗi người sẽ nhận một bản án 5 năm tù.
Chiến lược nào mỗi người sẽ lựa chọn? Nếu không người nào có thể báo cho người kia đừng nhận tội, thì chiến lược tối ưu (chiến lược làm cực đại hóa lợi ích kỳ vọng) đối với mỗi người sẽ là nhận tội, vì mỗi người phải giả định người kia cũng sẽ làm như vậy Nhận tội là hành vi hợp lý mà mỗi người tù phải làm Nếu những người tù có thể tin tưởng lẫn nhau, thì
chiến lược tối ưu sẽ không phải là thú nhận, và cả hai sẽ chỉ bị một án tù rất nhẹ
Trang 9Ma trận lợi ích của trò chơi Tình thế lưỡng nan của những người tù
Các chiến lược của B
Các chiến lược
của A
Thú nhận (-5 năm; -5 năm) (-1 năm; -10 năm)
Từ chối (-10 năm; -1 năm) (-2 năm; -2 năm)
Trang 10 Tình thế lưỡng nan
Cả hai đều biết nếu cùng từ chối họ chỉ bị 2 năm Nhưng không tù nhân nào có cách gì để biết được người kia sẽ từ chối Mỗi tù nhân tự hỏi: Liệu mình có nên từ chối và dựa vào sự từ chối của người kia để
hy vọng cả hai chỉ bị 2 năm tù không? Hoặc mình có nên thú nhận và
hy vọng người kia từ chối thì chỉ bị 1 năm tù, nhưng nếu người kia cũng thú nhận thì cả hai sẽ bị 5 năm tù Tình thế lưỡng nan này giải được bằng cách tìm trạng thái cân bằng cho trò chơi.
Trang 11 Trạng thái cân bằng
- Trạng thái cân bằng là trạng thái mà không có đối thủ nào có động cơ rời khỏi đó,
vì nếu đấu thủ nào làm như vậy thì lợi ích của đấu thủ đó sẽ bị giảm.
- Trạng thái cân bằng của một trò chơi đạt được khi đấu thủ A có hành động tốt
nhất mà anh ta có thể làm khi cho biết hành động của B, và đấu thủ B có hành động tốt nhất anh ta có thể làm khi biết hành động của A
Theo B: nếu A thú nhận, khiến B cũng phải thú nhận, vì như vậy anh ta chỉ bị 5
năm tù còn hơn là bị 10 năm Nhưng nếu A không thú nhận, thì khiến B vẫn thú nhận vì như vậy anh ta chỉ bị 1 năm tù còn hơn là bị 2 năm B suy luận hành
động tốt nhất của mình là thú nhận không phụ thuộc vào hành động của A.
Theo A: nếu B thú nhận, A sẽ nhận 10 năm tù nếu không thú nhận hoặc 2 năm nếu
thú nhận Do đó nếu B thú nhận thì khiến A cũng thú nhận Tương tự, nếu B không thú nhận thì A vẫn thú nhận vì bị 1 năm còn hơn là không thú nhận sẽ bị
2 năm Điều đó khiến A cũng thú nhận Hành động tốt nhất của A là thú nhận không phụ thuộc vào hành động của B.
Mỗi người tù đều có hành động tốt nhất là thú nhận Cân bằng của trò chơi này là cả hai người tù cùng thú nhận Bản án được giải quyết và cả hai người tù đều lĩnh án
5 năm tù.
Trang 124 Các tham số của trò chơi
1 Các đấu thủ: Các mô hình vừa mô tả cách nhận diện các đấu thủ và vừa
mô tả số lượng cầu thủ của chúng, khi trò chơi thay đổi một trong hai yếu tố này thì có thể làm thay đổi trò chơi .
2 Tập chiến lược khả thi: chỉ có những hành động trên cơ sở xác suất xuất
hiện khác không là được đánh giá trong phạm vi mô hình Các hành động này thiết lập nên một tập chiến lược khả thi
3 Các kết quả: Mỗi đấu thủ có một tập chiến lược khả thi (tức hành vi) bao
gồm các chiến lược tiềm năng mang tính cá nhân Mỗi chiến lược của một đấu thủ giao cắt tất cả các tổ hợp chiến lược của các đấu thủ khác để hình thành nên ma trận kết quả Một kết quả cụ thể được xác định bởi sự lựa
chọn chiến lược của mỗi đấu thủ.
4 Thanh toán: Mô hình phân bổ một thanh toán (hay thu hoạch) cho mỗi
đấu thủ về tất cả các kết quả Mỗi kết quả có thể xảy ra có một giá trị thanh toán tương ứng.
5 Trật tự của trò chơi Các mô hình có tính đồng thời nếu tất cả đấu thủ bộc
lộ chiến lược của họ mà không biết chiến lược của các đấu thủ khác Trò chơi đồng thời không hoàn toàn phụ thuộc vào thời gian Trò chơi không đồng thời được định nghĩa là tuần tự.
Trang 135 Các dạng mô hình trò chơi
Trò chơi dạng ma trận
Hai hãng, Allied và Barkley lập kế hoạch để tiến hành một chương trình phát triển sản phẩm cạnh tranh Họ có thể lựa chọn hoặc là giữ nguyên chi tiêu ở mức kế hoạch hiện tại hoặc tăng chi tiêu nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển sản phẩm và đưa ra thị trường đầu tiên Lợi nhuận kỳ vọng là một hàm của chi phí phát triển và doanh thu kỳ vọng.
Trang 141 Các đấu thủ: Có hai đấu thủ là Allied và Barkley.
2 Trật tự của trò chơi: Đồng thời, mỗi hãng phải đi đến một quyết định mà
không biết quyết định của hãng kia.
3 Tập chiến lược khả thi: mỗi đấu thủ có thể lựa chọn hoặc giữ nguyên chi
tiêu hiện tại hoặc tăng chi tiêu.
4 Các kết quả: Do có hai đấu thủ, và mỗi đấu thủ có hai lựa chọn chiến
lược nên có bốn kết quả có thể xảy ra.
5 Thanh toán: Các thanh toán được liệt kê cho mỗi đấu thủ trong phạm vi
mỗi kết quả có thể xảy ra Qui ước trong lý thuyết trò chơi là liệt kê thanh toán của đấu thủ hàng (Allied) ở vị trí thứ nhất trong mỗi ô và thanh toán của đấu thủ cột (Barkley) ở vị trí thứ hai Như vậy nếu
Allied tăng chi tiêu nhưng Barkley không tăng chi tiêu, thì lợi nhuận kỳ vọng của Allied là 4 triệu $ và của Barkley là 3 triệu $
Trang 15Trò chơi dạng dạng mở rộng
Allied và Barkley phải quyết định một chính sách đặt giá cho sản phẩm mới Họ biết rằng hãng kia sẽ đưa ra một sản phẩm cạnh tranh tương tự Do Barkley kỳ vọng ra nhập thị trường sớm hơn, nên Barkley công bố giá của nó trước (ký hiệu hình vuông rỗng) Barkley có thể chọn một trong ba mức giá: 1.00 $; 1.35 $; hay 1.65 $ Allied sẽ bộc lộ giá của nó sau đó Do nó là người thứ hai vào thị trường, nên các mức giá có thể của nó là 0.95 $; 1.30 $; và 1.55 $ Các thanh toán thể hiện lợi nhuận là một hàm của chi phí và doanh thu.
Trang 16 Các trò chơi dạng mở rộng còn được gọi là các cây trò chơi
Dạng mở rộng cho chi tiết hơn so với dạng ma trận bằng cách định vị tường minh thời điểm lựa chọn giữa các đấu thủ
Trang 17Dạng mở rộng cũng có thể minh họa các trò chơi đồng thời Tức là, khi bộc lộ chiến lược của mình, một đấu thủ không biết
quyết định của tất cả các đấu thủ khác
Trang 18Câu hỏi thảo luận
1 Thế nào là một quyết định chiến lược? Trong các tình huống sau, hãy chỉ ra đâu là quyết định chiến lược, giải thích:
a Một công ty vận tải biển đang xem xét mở một loại hình du lịch “honey moon” cho các cặp đôi đi nghỉ tuần trăng mật bằng hình thức vận chuyển tàu biển.
b Giả thiết công ty vận tải trên đã đi vào hoạt động loại hình du lịch “honey moon”, công ty xem xét chọn tuyến đường đi phù hợp cho mỗi tour du lịch trăng mật sao cho
Trang 192 Trước khi ra một quyết định chiến lược, bạn cần xem xét các yếu tố nào? Hãy chỉ ra
cụ thể các yếu tố đó trong các tình huống sau:
a Hãng điện thoại di động Nokia đang xem xét tung ra thị trường dòng sản phẩm điện thoại di động cao cấp.
b Cửa hàng áo cưới Phượng Anh chuẩn bị các phương án khuyến mại cho mùa cưới năm 2011.
c Siêu thị điện máy Topcare định giảm giá các mặt hàng trong khung giờ vàng trong tháng 9 nhằm kích cầu mua sắm.
3 Hãy mô tả lại trò chơi tình thế lưỡng nan của người tù? Và chỉ ra rằng mỗi quyết định của một người tù đều là những quyết định chiến lược.
Trang 204 Hãy chỉ ra các tham số của trò chơi trong các tình huống trò chơi sau
Unilever và Kao
Định giá 1,4 $ Định giá 1,5 $
P&G
Định giá 1,4 $ (12, 12) (29, 11) Định giá 1,5 $ (3, 21) (20, 20)
5 Các đặc trưng cơ bản của thị trường cạnh tranh độc quyền là gì? Tại sao các quyết định của hãng trong cạnh tranh độc quyền lại không được xem là các quyết định chiến lược?
Trang 21Chương 2: Trò chơi tĩnh với thông tin đầy đủ
2.1 Khái niệm trò chơi tĩnh với thông tin đầy đủ
2.2 Chiến lược thuần túy và chiến lược hỗn hợp
2.3 Chiến lược cân bằng
2.4 Các chiến lược trội và chiến lược cân bằng trội
2.5 Cân bằng Nash
2.6 Một số mô hình LTTC trong kinh tế và kinh doanh
Trang 222.1 Khái ni ệ m trò ch ơ i tĩnh v ớ i thông tin đ ầ y đ ủ
Trò chơi bất hợp tác là trò chơi đó các đấu thủ không thể có những cam kết ràng
buộc lẫn nhau
Kiến thức chung là những thông tin mà ta cả mọi mọi đấu thủ đều biết, và việc
mỗi đấu thủ biết thông tin đó được tất cả các đấu thủ biết
Thông tin đầy đủ là nói đến việc mỗi đấu thủ đều biết
1 Tập hợp các đấu thủ là những ai.
2 Tập hợp những hành động sẵn có để sử dụng đối với tất cả các đấu thủ và
3 Tất cả các kết quả tiềm năng đối với mỗi đấu thủ
Trường hợp một đấu thủ thiếu kiến thức về một trong ba điều kiện trên gọi là thông
tin không đầy đủ Ví dụ, mỗi đấu thủ chỉ biết thanh toán của chính mình là trường
hợp thông tin không đầy đủ.
Trò chơi với thông tin đầy đủ là trò chơi trong đó hàm thu hoạch của mỗi đấu thủ
là kiến thức chung.
Trò chơi với thông tin không đầy đủ là trò chơi trong đó có ít nhất một đấu thủ
không chắc chắn về hàm thu hoạch của đấu thủ khác.
Trang 23Trò ch ơ i tĩnh v ớ i thông tin đ ầ y đ ủ là trò chơi thỏa mãn:
Trật tự của trò chơi là chơi đồng thời.
Trò chơi chỉ diễn ra một lần.
Các đấu thủ đều cạnh tranh vì lợi ích của mình mà không hợp tác
Trò chơi có thông tin đầy đủ, tức là các đấu thủ đều biết rõ không gian chiến
lược và hàm thu hoạch của nhau.
Trang 242.2 Chi ế n l ượ c thu ầ n túy và chi ế n l ượ c h ỗ n h ợ p
Một chiến lược của một đấu thủ là khả năng lựa chọn để hành
động của đấu thủ đó trong mọi tình huống bất ngờ khi đến lượt phải hành động.
Chiến lược thuần túy là một chiến lược không có những lựa
chọn ngẫu nhiên
Chiến lược hỗn hợp là một chiến lược được lựa chọn ngẫu
nhiên
2.3 Chiến lược cân bằng
đơn phương chiến lược của anh hay chị ta, đó là bộ chiến lược cân bằng mang lại lợi ích tốt nhất cho tất cả người chơi.
Một cân bằng là có tính hợp lý, tối ưu và ổn định
Trang 252.4 Các chi ế n l ượ c tr ộ i và chi ế n l ượ c cân b ằ ng tr ộ i
Một chiến lược trội là một chiến lược mà thanh toán của nó trong bất cứ kết
quả nào, so với các chiến lược khả thi khác đều thực sự lớn hơn
Nếu bạn là người có hành vi hợp lý, thì bạn chọn chiến lược trội của bạn; không quan tâm tới các lựa chọn chiến lược của những đấu thủ khác
Cân bằng mà tại đó mọi người đều chọn chiến lược trội gọi là cân bằng trội
Trang 26Khi trò chơi không giải được bằng tính trội, thì quá trình loại bỏ các chiến lược bị trội làm co bớt lại tập các chiến lược có thể chơi; lúc đó lại có thể thay đổi một chiến lược chính thức không bị trội thành một chiến lược bị trội Quá trình lặp này có thể tiếp tục cho tới khi mỗi đấu thủ chỉ còn lại một chiến lược có thể chơi được (tức là, tìm được cân bằng trội).
Barkley có một chiến lược bị trội (chiến lược 1.00 $ bị trội so với 1,35 $)
Trang 27Barkley có một chiến lược bị trội (chiến lược1.00 $ bị trội so với chiến lược 1.35$), vì khi so sánh chiến thứ nhất và thứ hai của Barkley ta thấy:
U B (1,00; 0,95) =3 < U B (1,35; 0,95) = 5;
U B (1,00; 1,30) =7 < U B (1,35; 1,30) = 8;
U B (1,00; 1,55) =10< U B (1,35; 1,55) = 14;
Trang 28Loại bỏ chiến lược 1.00 $ của Barkley, bây giờ Allied có hai chiến lược bị trội: chiến lược 1.55 $ trội hơn cả hai chiến lược 0,95 $ và chiến lược 1,30 $ Ma trận được thu hẹp sau Allied có chỉ một chiến lược có thể chơi, đặt giá 1,55 $ Barkley bây giờ có một chiến lược bị trội khác là 1,65$ nên Barkley sẽ đặt giá 1.35 $ Như vậy trò chơi này có một cân bằng chiến lược trội: Allied sẽ đặt giá 1,55 $ và Barkley sẽ đặt giá 1.35 $.
Trang 292.5 Cân bằng Nash
Cho mỗi đấu thủ trong N đấu thủ xác định một chiến lược ,
với i = 1,2,…, N Một kết quả khi đó thể hiện một dãy các chiến lược s*
= (s* 1 ,s* 2,, …,s* N ) Đặt B i (s*) là thanh toán cho đấu thủ i khi s* được
chọn, với i là đấu thủ bất kỳ, i = 1,2,…, N Khi đó, một cân bằng Nash là một dãy chiến lược s* sao cho
B i (s* 1 ,s* 2, s* i …,s* N ) ≥ B i (s* 1 ,s* 2, …s i ,…,s* N ) trong đó s i là chiến lược bất kỳ trong tập chiến lược khả thi của đầu thủ i.
của mình.
Trang 30Xét trò chơi hai hãng sau đưa ra các sản phẩm mới; trước hết ta thấy không hãng nào có chiến
lược bị trội; Vì, với Allied,
Trang 31Với Barkley, không có chiến lược bị trội vì
Trang 32Nhưng trò chơi này có một cân bằng Nash (Sigma; Alpha) theo định nghĩa, vì: + B 1 (Sigma; Alpha) = B 1 (s* 1 ,s* 2 ) = 9 > B 1 (s 11 ,s* 2 ) = B 1 (pi, Alpha)=6,
+ B 1 (Sigma; Alpha) = B 1 (s* 1 ,s* 2 ) = 9 > B 1 (s 12 ,s* 2 ) = B 1 (lamda, Alpha)=4; và:
+ B 2 (Sigma; Alpha) = B 2 (s* 1 ,s* 2 ) = 8 > B 2 (s* 1 ,s 21 ) = B 2 (Sigma, beta) = 7,
+ B 2 (Sigma; Alpha) = B 2 (s* 1 ,s* 2 ) = 8 > B 2 (s* 1 ,s 22 ) = B 2 (Sigma, zeta) = 5
Trang 332.6 Một số ví dụ về LTTC
2.6.1 Trò chơi định giá Nhị độc quyền
Trên thị trường cầu dao điện có hai nhà sản xuất A và B đều có sức mạnh thị trường Cả hai hãng đi đến ký kết một một thoả hiệp cấu kết nhằm hạn chế sản lượng, tăng giá và lợi nhuân; thoả hiệp cấu kết nhằm hạn chế sản lượng để tăng giá và lợi nhuận gọi là một
cartel
Các chiến lược mà các hãng trong một cartel theo đuổi là
1 Tuân thủ (hợp đồng)
2 Lừa gạt (ký nhưng không thực hiện đúng hợp đồng).
Tuân thủ đơn giản là hành động gắn với các điều khoản của hiệp định Lừa gạt có nghĩa phá vỡ thoả thuận nhằm có lợi cho hãng có hành động lừa gạt Do mỗi hãng đều có hai chiến lược, nên tất cả có 4 khả năng hành động đối với hai hãng:
Trang 344000 5000 6000 Q
9000 7500 6000
Trang 35 Khả năng 1:
Nhị độc quyền thoả thuận hạn chế sản lượng tại mức chi phí biên bằng doanh thu biên, là
4000 cầu dao với giá 9000 USD mỗi chiếc Thoả thuận phân chia thị trường bằng nhau mỗi hãng sản xuất 2000 cầu dao Tổng chi phí trung bình ATC để sản xuất 2000 cầu dao một tuần là 8000 USD, nên lợi nhuận trên mỗi đơn vị là 1000 USD và khoản lợi nhuận kinh tế là
2 triệu USD (2000 cầu dao* 1000 USD) cho mỗi hãng Đây là giải pháp trùng với độc
quyền
Khả năng 2:
B lừa gạt, vi phạm hợp đồng Giả sử B thuyết phục A rằng cầu của ngành giảm nó không thể
bán phần sản lượng của nó với giá đã thoả thuận Nó nói với A nó có kế hoạch giảm giá để bán 2000 cầu dao mỗi tuần như thoả thuận Vì hai hãng cùng sản xuất một loại sản phẩm đồng nhất nên A cũng phải giảm giá như B nhưng vẫn chỉ sản xuất 2000 chiếc mỗi tuần Thực tế cầu không giảm B có kế hoạch tăng sản lượng, mà nó biết giá sẽ thấp hơn; B muốn đảm bảo sản lượng của A vẫn giữ ở mức 2000 chiếc như thoả thuận Giả sử nó quyết định tăng sản lượng từ 2000 lên 3000 chiếc mỗi tuần - mức sản lượng có tổng chi phí trung bình cực tiểu Nếu A vẫn giữ đúng thoả hiệp chỉ sản xuất 2000 chiếc mỗi tuần, thì tổng sản
lượng sẽ là 5000 chiếc mỗi tuần Do cầu không giảm, nên sản lượng tăng lên làm giá bị giảm xuống còn 7500 USD một chiếc.
A tiếp tuc sản xuất 2000 chiếc với chi phí 8000 USD một đơn vị, và chịu lỗ 500 USD một đơn
vị hay 1 triệu USD mỗi tuần [=(7500-8000)*2000] B sản xuất 3000 chiếc mỗi tuần với tổng chi phí trung bình 6000 USD mỗi chiếc; với giá 7500 USD 1 chiếc nó thu một khoản lợi nhuận kinh tế 4,5 triệu USD [=(7500-6000)*3000]
Khả năng 3: A lừa gạt, còn B tuân thủ thoả hiệp Xét tương tự A có lợi nhuận là 4,5 triệu
USD còn B bị lỗ 1 triệu USD.
Trang 36 Khả năng 4:
Giả sử cả hai hãng cùng gian lận và có hành vi như nhau Mỗi hãng đều nói với hãng kia không thể bán sản lượng của mình với giá đã thoả hiệp và có kế hoạch giảm giá Do cả hai cùng gian lận mỗi hãng sẽ lần lượt đề nghị một giá thấp hơn Chừng nào giá còn cao hơn chi phí biên, mỗi hãng còn có động cơ tăng sản lượng của mình - và còn lừa gạt Chỉ đến khi giá bằng chi phí biên, mới không còn có động lừa gạt Tình huống này xuất hiện khi giá đạt
mức 6000 USD, tại đây giá bằng chi phí biên và cũng bằng tổng chi phí trung bình Với giá nhỏ hơn 6000 USD mỗi hãng sẽ bị lỗ Tại giá 6000 USD mỗi hãng trang trải được chi phí của mình và tạo ra lợi nhuận kinh tế bằng 0 - tạo ra lợi nhuận thường Như vậy với giá 6000 USD, mỗi hãng muốn sản xuất 3000 chiếc mỗi tuần, cả ngành sản xuất 6000 chiếc mỗi
tuần.
Cân bằng của trò chơi nhị độc quyền
- Theo A, nếu B lừa gạt mà A tuân thủ thì nó sẽ chịu lỗ 1 triệu USD Nếu nó cũng lừa gạt, thì nó tạo ra lợi nhuận kinh tế bằng 0 Lợi nhuận kinh tế bằng 0 vẫn tốt hơn là chịu lỗ 1 triệu USD, do đó nó cũng sẽ lừa gạt Nhưng nếu B tuân thủ thoả hiệp, nó mà lừa gạt thì nó tạo ra lợi nhuận 4,5 triệu USD trong khi nó cũng tuân thủ chỉ tạo ra lợi nhuận 2 triệu USD Lợi nhuận kinh tế bằng 4,5 triệu USD vẫn tốt hơn là lợi nhuận kinh tế 2 triệu USD, do đó
nó cũng sẽ lừa gạt Như vậy theo A không quan tâm đến B lừa gạt hay tuân thủ, chiến lược trội của nó là lừa gạt.
- B cũng có chiến lược trội tương tự Do đó cả hai hãng cùng lừa gạt Đó là cân bằng của trò chơi
- Mặc dù chỉ có hai hãng nhưng giá và lượng cũng giống như trong ngành cạnh tranh Mỗi hãng tạo ra lợi nhuận kinh tế bằng 0.
Nếu trò chơi có ba, bốn hoặc nhiều hãng hơn, thì phân tích trên không có gì khác
Trang 38Ma trận lợi ích của trò chơi nhị độc quyền.
Các chiến lược của B
Trang 392.6.2 Trò chơi khoan dầu
Trữ lượng 4 triệu thùng; Chi phí khoan là chi phí cố định
Chi phí bơm: 5 triệu $/triệu thùng
Chỉ có 1 hãng:
Lợi nhuận của hãng Clampett khoan dầu với qui mô khác nhau
Chi phí
Trang 40Bảng 2.8: Ma trận thanh toán của Trò chơi khoan dầu
Các chiến lược của