1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn tập vb 1 cốm vòng

78 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn tập văn bản 1 cốm vòng
Tác giả Vũ Bằng
Trường học Học Viện Báo Chí Và Tuyên Truyền
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Tài liệu ôn tập
Năm xuất bản 1960
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 2: Nguyên liệu của cốm được tác giả nhắc đến trong đoạn trích là cái hạt non của “thóc nếp hoa vàng”... Đề bài 02: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Cốm, một món quà t

Trang 1

ÔN TẬP QUÀ TẶNG THIÊN NHIÊN

Trang 2

ÔN TẬP VĂN BẢN 1

CỐM VÒNG

(Vũ Bằng)

Trang 3

1 Tác giả Vũ Bằng

- Vũ Bằng (1913-1984) sinh tại Hà Nội Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn

để viết báo và làm hoạt động tình báo

- Sở trường của ông là viết truyện ngắn, tuỳ bút và bút kí Ông nổi tiếng là cây bút trữ tình, tinh tế và giàu chất thơ Đặc biệt, ông có nhiều bài viết hay thể hiện những cảm xúc sâu lắng về quê hương, đất nước

- Các tác phẩm tiêu biểu của ông: Miếng ngon Hà Nội, Miếng là miền

Nam, Thương nhớ mười hai,…

I KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN

Trang 4

2 Văn bản “Cốm vòng”

a Xuất xứ

Trích từ tập Món ngon Hà Nội (xuất bản đầu năm 1960) Đây là tập

tuỳ bút viết về những món ăn thường ngày, bình dị nhưng đậm đà hương

vị đất nước, quê hương

b Thể loại: Tuỳ bút

Trang 5

I KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN

c Bố cục: 3 phần

- Phần 1: Từ đầu đến “sợi tơ hồng quấn quýt”: Cảm nhận về

màu sắc và mùi vị của cốm và hồng.

- Phần 2: Tiếp đến “Làm vậy, cốm có còn là cốm đâu!”: Giới

thiệu về nguồn gốc và quy trình làm cốm.

- Phần 3: Còn lại: Cảm nhận về cách thưởng thức cốm.

Trang 6

I KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN

d Giá trị nội dung

- Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị

và thanh khiết của đồng quê nội cỏ, sự tinh tế và thái độ trân trọng, cái nhìn văn hoá trong ẩm thực

- "Một thứ quà của lúa non - Cốm" đã cho thấy một tâm hồn trân trọng, say mê của tác giả đối với cốm, với mảnh đất và con người Hà Nội

Trang 7

I KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN

Trang 8

DẠNG 1: LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU

II LUYỆN ĐỀ

Đề bài 01:

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Cốm nguyên là cái hạt non của “thóc nếp hoa vàng”1 Một ngày đầu tháng tám, đi dạo những vùng trồng lúa đó, ta sẽ thấy ngào ngạt mùi lúa chín xen với mùi cỏ, mùi đất của quê hương làm cho ta nhẹ nhõm và đôi khi… phơi phới

Trang 9

Hỡi anh đi đường cái, hãy cúi xuống hái lấy một bông lúa mà xem Hạt thóc nếp hoa vàng trông cũng giống hạt thóc nếp thường, nhưng nhỏ hơn một chút mà cũng tròn trặn hơn Anh nhấm thử một hạt, sẽ thấy ở đầu lưỡi ngọt như sữa người.

Người làng Vòng đi ngắt lúa về và nội trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ phải bắt tay vào việc chế hóa hạt thóc ra thành cốm.

[…]

Trang 10

Lúa ngắt đem ở cánh đồng về, kị nhất là không được vò hay đập, nhưng phải tuốt để cho những hạt thóc vàng rơi ra Người ta cho rằng bí quyết của cốm Vòng là lúc đem đảo ở trong những nồi rang.

Tất cả cái khéo tay, cộng với những kinh nghiệm lâu đời xui2 cho người đàn bà làng Vòng đảo cốm trong những nồi rang vừa dẻo; lửa lúc nào cũng phải đều; nhất là củi đun phải là thứ củi gỗ cháy âm, chứ không được dùng đến củi rơm hay củi đóm

Công việc xay, giã cũng cần phải gượng nhẹ, chu đáo như vậy: chày giã không được nặng quá, mà giã thì phải đều tay, không được chậm vì cốm sẽ nguội đi, thứ nhất là phải đào từ dưới lên, từ trên xuống cho đều, không lỏi

Trang 11

Những hạt thóc nào hái vừa vặn thì dẻo; hơi già, ăn cứng mình; mà non quá, hãy còn nhiều sữa thì quánh lại với nhau từng mảng Thứ cốm sau đó gọi là cốm dót.

Thóc giã xong rồi, người ta sàng Trấu bay ra cùng với những hạt cốm nhẹ nhàng nhất: cốm đó là cốm đầu nia3 Còn các thứ cốm khác thì là cốm thường, nhưng tất cả ba thứ đó không phải sàng sảy xong là đã ăn được ngay đâu; còn phải qua một giai đoạn nữa là hồ

Trang 12

Người ta lấy mạ giã ra, hòa với nước, làm thành một thứ phẩm xanh màu

lá cây rồi hồ cốm cho thật đều tay: cốm đương mộc mạc, nổi hẳn màu lên và duyên dáng như cô gái dậy thì bỗng tự nhiên đẹp trội lên trong một buổi sáng mùa xuân tươi tốt

Bây giờ, chỉ còn việc trình bày nữa là xong: cốm được tãi ra thật mỏng trên những mảnh lá chuối hay những cái lá sen (người ta gọi thế là lá cốm hay mẻ cốm) rồi xếp vào thúng để gánh đi bán, tinh khiết và thơm tho lạ lùng […]

(Vũ Bằng, Trích Cốm vòng, in trong Miếng ngon Hà Nội , NXB Lao động,

2009)

Trang 13

*Chú thích:

(1) “Thóc nếp hoa vàng”: tức nếp cái hoa vàng, một giống lúa quý.

(2) Xui: Ở đây “xui cho” nghĩa là “khiến cho”

(3) Cốm đầu nia: còn gọi là cốm giót/cốm dót, là những hạt cốm rất non, khi

giã thì tự quyện vào với nhau tạo thành một khối nhỏ như hạt ngô, hạt lạc, khi sàng sảy tụ lại trên đầu nia

Trang 14

Câu 1 Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2 Nguyên liệu của cốm được tác giả nhắc đến trong đoạn trích là gì?

Câu 3 Tìm các tính từ trong câu: “Những hạt thóc nào hái vừa vặn thì dẻo; hơi

già, ăn cứng mình; mà non quá, hãy còn nhiều sữa thì quánh lại với nhau từng mảng”

Câu 4 Theo tác giả bài viết, quy trình làm ra cốm bao gồm những công đoạn

nào? Quy trình đó được người làng Vòng thực hiện như thế nào?

Câu 5 Hãy chỉ ra công dụng của các dấu chấm lửng trong đoạn văn trên.

Câu 6 Hãy viết đoạn văn 7 – 10 câu cảm nhận về đặc sản ở quê hương em

(phạm vi trong tỉnh em đang sinh sống?

Trang 15

Câu 1: Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích: biểu cảm,

miêu tả, thuyết minh

Câu 2: Nguyên liệu của cốm được tác giả nhắc đến trong đoạn trích là cái

hạt non của “thóc nếp hoa vàng”

Câu 3: Các tính từ là: vừa vặn, dẻo, già, cứng, non.

Gợi ý trả lời

Trang 16

Câu 4 Theo tác giả bài viết, quy trình làm ra cốm bao gồm những công đoạn:

+ Ngắt lúa đem ở đồng về

+ Tuốt để cho những hạt thóc vàng rơi ra

+ Cho thóc vào nồi để rang lên

+ Đem thóc ra xay, giã

+ Sàng thóc

+ Làm hồ (lấy mạ giã ra, hòa với nước, làm thành một thứ phẩm màu xanh lá

để hồ cốm)

+ Đặc biệt, cốm được gói trong lá sen, gói cốm được buộc bằng cọng rơm tươi

Những công đoạn được thực hiện một cách rất cần mẫn, cầu kì, tỉ mỉ, kĩ

càng và đầy tâm huyết của người dân làng Vòng

Trang 17

Câu 5 Công dụng của các dấu chấm lửng trong đoạn trích:

- Dấu chấm lửng trong câu: “Một ngày đầu tháng tám, đi dạo những vùng trồng lúa đó, ta sẽ thấy ngào ngạt mùi lúa chín xen với mùi cỏ, mùi đất của quê hương làm cho ta nhẹ nhõm và đôi khi… phơi phới.” => Biểu thị lời nói ngập ngừng, ngắt quãng

- Dấu chấm lửng […] : Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt

Trang 18

Câu 6 HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài

Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:

- Hình thức: Đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi

chính tả, ngữ pháp Hành văn trong sáng, trôi chảy;

- Nội dung:

+ Giới thiệu sản vật quê hương em

+ Nguồn gốc của sản vật đó

+ Sự độc đáo về vẻ đẹp, hương vị của sản vật đó

+ Giá trị của sản vật đó với cuộc sống, quê hương

+ Bài học: trân trọng, giữ gìn sản vật đó

Trang 19

Đề bài 02:

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Cốm, một món quà trang nhã của Thần Nông1 đem từ những đồng quê bát ngát của tổ tiên ta lại cho ta, không thể khứng chịu2 được những cái gì phàm tục

Vì thế, ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút gì thanh lịch, cao quý; phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất

là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng

Trang 20

Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng3, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch và ta sẽ thấy rằng ăn một miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!

[…]

Trang 21

*Chú thích:

(1) Thần Nông: nhân vật trong thần thoại và truyền thuyết đã

dạy loài người trồng trọt và cày cấy.

(2) Khứng chịu: hứng chịu

(3) Lúa đòng đòng: bông lúa non khi mới hình thành

Trang 22

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt sử dụng trong đoạn trích trên?

Câu 2: Chất trữ tình được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Câu 3: Cái “tôi” được thể hiện qua cách nhân xưng nào trong đoạn trích?

Câu 4: Tác giả nếu lên cách thưởng thức cốm như thế nào? Vì sao cốm phải

được thưởng thức theo cách như vậy?

Câu 5: Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong đoạn trích.

Câu 6: Cốm không phải thức quà của người vội Cách thưởng thức cốm thể

hiện giá trị văn hoá của dân tộc Tuy nhiên, càng ngày giá trị văn hoá ấy càng

bị mai một đi Em hãy viết đoạn văn 7 – 10 dòng lí giải sự mai một đó?

Trang 23

Gợi ý làm bài

Câu 1: Các phương thức biểu đạt trong đoạn trích: Biểu cảm, miêu tả, thuyết

minh

Câu 2: Chất trữ tình thấm đẫm trong đoạn văn: Tác giả nêu rõ ràng, tỉ mỉ cách

thưởng thức cốm, đồng thời thể hiện sự tinh tế trong cách thưởng thức đó:

Ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút gì thanh lịch, cao quý; phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng

Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch và ta sẽ thấy rằng ăn một miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng

Trang 24

Câu 3: Cái tôi thể hiện trong đoạn trích là cái tôi tinh tế, trân trọng món quà

thiên nhiên cũng như văn hoá ẩm thực của dân tộc Cái tôi đó thể hiện qua cách nhân xưng “ta”, bộc lộ gián tiếp qua cách thưởng thức cốm, bộc lộ trực tiếp qua các câu văn cảm thán: “Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!”

Trang 25

Câu 4:

- Tác giả nêu lên cách thưởng thức cốm: Ăn miếng cốm cho ra miếng cốm,

phải tỏ ra chút gì thanh lịch, cao quý; biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi; phải ăn từng chút một; vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ tính chất, hương thơm của cốm => Cốm cần thưởng thức một cách từ tốn, không nóng vội, vừa ăn vừa ngẫm nghĩ, cảm nhận hương vị của cốm

- Cốm được thưởng thức theo cách như vậy vì cốm là món quà trang nhã của Thần Nông, là món quà thiên nhiên ban tặng nên cốm không thể “khứng chịu” những gì phàm tục

Trang 26

Câu 5: Công dụng của dấu chấm lửng: Đánh dấu phần văn bản bị lược bớt Câu 6: HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài

Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:

- Hình thức: Đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc

lỗi chính tả, ngữ pháp Hành văn trong sáng, trôi chảy;

- Nội dung: HS có thể đưa ra một vài lí do để lí giải: Do con người dần trở

nên sính ngoại, xa rời truyền thống hoặc tự suy luận do tốc độ phát triển ngày càng nhanh, con người ngày càng sống vội nên những phong tục tinh

tế, tốt đẹp bị mắt dần,…

Trang 27

Cốm, một món quà trang nhã của Thần Nông1 đem từ những đồng quê bát ngát của tổ tiên ta lại cho ta, không thể khứng chịu2

được những cái gì phàm tục.

Vì thế, ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút gì thanh lịch, cao quý; phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng.

Đề bài 02:

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Trang 28

Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng3, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch và ta sẽ thấy rằng ăn một miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!

[…]

Trang 29

*Chú thích:

(1) Thần Nông: nhân vật trong thần thoại và truyền thuyết

đã dạy loài người trồng trọt và cày cấy.

(2) Khứng chịu: hứng chịu

(3) Lúa đòng đòng: bông lúa non khi mới hình thành

Trang 30

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt sử dụng trong đoạn trích trên?

Câu 2: Chất trữ tình được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Câu 3: Cái “tôi” được thể hiện qua cách nhân xưng nào trong đoạn trích? Câu 4: Tác giả nếu lên cách thưởng thức cốm như thế nào? Vì sao cốm

phải được thưởng thức theo cách như vậy?

Câu 5: Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong đoạn trích.

Câu 6: Cốm không phải thức quà của người vội Cách thưởng thức cốm

thể hiện giá trị văn hoá của dân tộc Tuy nhiên, càng ngày giá trị văn hoá

ấy càng bị mai một đi Em hãy viết đoạn văn 7 – 10 dòng lí giải sự mai một đó?

Trang 31

Câu 1: Các phương thức biểu đạt trong đoạn trích: Biểu cảm, miêu tả, thuyết

minh

Câu 2: Chất trữ tình thấm đẫm trong đoạn văn: Tác giả nêu rõ ràng, tỉ mỉ cách

thưởng thức cốm, đồng thời thể hiện sự tinh tế trong cách thưởng thức đó:

Ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút gì thanh lịch, cao quý; phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng

Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch và ta sẽ thấy rằng ăn một miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng

Gợi ý làm bài

Trang 32

Câu 3: Cái tôi thể hiện trong đoạn trích là cái tôi tinh tế, trân trọng

món quà thiên nhiên cũng như văn hoá ẩm thực của dân tộc Cái tôi

đó thể hiện qua cách nhân xưng “ta”, bộc lộ gián tiếp qua cách thưởng thức cốm, bộc lộ trực tiếp qua các câu văn cảm thán: “Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!”

Trang 33

Câu 4:

- Tác giả nêu lên cách thưởng thức cốm: Ăn miếng cốm cho ra

miếng cốm, phải tỏ ra chút gì thanh lịch, cao quý; biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi; phải ăn từng chút một; vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ tính chất, hương thơm của cốm => Cốm cần thưởng thức một cách từ tốn, không nóng vội, vừa ăn vừa ngẫm nghĩ, cảm nhận hương vị của cốm.

- Cốm được thưởng thức theo cách như vậy vì cốm là món quà trang nhã của Thần Nông, là món quà thiên nhiên ban tặng nên cốm không thể “khứng chịu” những gì phàm tục.

Trang 34

Câu 5: Công dụng của dấu chấm lửng: Đánh dấu phần văn bản bị lược bớt Câu 6: HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài

Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:

- Hình thức: Đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi

chính tả, ngữ pháp Hành văn trong sáng, trôi chảy;

- Nội dung: HS có thể đưa ra một vài lí do để lí giải: Do con người dần trở

nên sính ngoại, xa rời truyền thống hoặc tự suy luận do tốc độ phát triển ngày càng nhanh, con người ngày càng sống vội nên những phong tục tinh

tế, tốt đẹp bị mắt dần,…

Trang 35

Cốm làng Vòng nổi tiếng khắp Hà Nội Trước thời kì chiến tranh tiếng thơm của cốm làng Vòng truyền đưa vào đến Thanh Nghệ, đến Huế Quảng, đưa xuống Nam Định, Hải Phòng và vào thấu đến Sài Gòn Nam Bộ Mỗi năm cứ thấy gió mùa thu nổi sóng trên đồng lúa miền Bắc là nhiều người lại nhắc đến cốm Vòng – cái món quà thổ ngơi thơm lành của ruộng lúa nếp ngoại thành thủ đô Những cây sấu đứng đường của Hà Nội mà bắt đầu lộp bộp rụng xuống những trái sấu chín cây thì trên vỉa hè Hà Nội cũng bắt đầu hiện ra cái hình ảnh người gánh cốm đi bán rong

ĐỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI SGK

Đề số 03: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

CỐM

Trang 36

Trái với thói thường của hàng rong, gánh cốm cứ êm ả mà đi, người bán cốm không cất tiếng rao hàng Hình thù người gánh cốm cũng phần nào gợi lên cái phẩm chất như thứ quà giản dị thơm thảo hiền hậu, vừa chắc chắn vừa tinh tế Đứng trên ban công nhìn xuống, đứng trong ngõ hoặc đứng trong quầy hàng nhìn ra, mà nhận được gánh cốm thì khắc gọi lấy mà mua Cái gánh cốm Vòng cổ truyền đã quen quá đi rồi với con mắt của nhiều người đã chết đi sống lại nhiều lần với Hà Nội

Trang 37

Ai mà lầm được cái gánh cốm Vòng có cái đòn gánh dị thường một đầu thắng một đầu cong vút lên như cái ngọn chiếc hia tuồng Bình Đinh Cái đòn gánh cổ truyền ấy là cả một thân tre đánh cả gốc, đầu cong chính là cái phần gốc cây mà có khi phải chọn hàng chục bụi tre mới tìm đúng được một chiếc đòn gánh cốm vừa ý Cho nên đã có những cái đòn gánh cong truyền đi vai người này đến vai người khác có hàng mấy đời liền Trong thúng

là cốm, trên mặt thúng là một bó cọng rơm tươi còn xanh màu

mạ, và những tập lá sen Hồ Tây.

Trang 38

Đã bao năm nay như thế, mỗi lần Hồ Tây lăn tăn ánh vàng nắng thu, mỗi lần những chòm mây mùa thu dãy Ba Vì và dãy Tam Đảo soi vào lòng sóng Hồ Tây, thì (ba mươi sáu) phố phường Hà Nội lại thấy xuất hiện cái bóng dáng êm ả của người gánh cốm Vòng tiến vào theo đường cửa ô Cầu Giấy Lúc này cũng là lúc khắp nơi nơi, nắng mùa thu đang vẫy những đốm trứng cuốc vào mọi trái chuối tiêu đang vuốt cong lên cái màu vàng ngọt, và nắng mùa thu cũng đang làm bóng lên cái màu đỏ hổ phách bay phấn của những quả hồng trứng cũng đang vểnh hết cả tai hồng lên Không hiểu đây là sự dàn xếp của mùa thu Việt Nam hay là sư hẹn hò của thời trân phẩm quả mà chuối tiêu trứng cuốc lại hay gặp mùa cốm và cốm lại gặp hồng trứng Chất nó ăn ý với nhau mà màu sắc nó còn gắn bó với nhau hơn nữa

Trang 39

Đây quả là diễm phúc của người hoạ sĩ vẽ tranh tĩnh vật gửi vào vật vô tri tất

cả nỗi niềm vô cùng biết ơn của mình đối với đất nước giàu tươi, đối với lượng

cả của đất nước đang ban lộc ban phúc cho cuộc sống của lúa của quả của con người Ai khó tính và cầu kì màu sắc cứ nói gì thì nói nhưng theo tôi cái màu xanh của cốm Vòng là thứ màu xanh đẹp hơn cả cái màu xanh của ngọc thạch, cốm xanh đậm ấy mà lại là lá sen xanh phân làm đĩa đựng càng thấy mình cùng tạo vật sao mà nó chan hoà cảm thông đến được như thế Cốm rờn lên một niềm vui bất tận xanh, mả trên mặt đó lại cho chằng lên một múi lạt chữ thập nhuộm đổ cánh sen để gửi đến ngõ nhà người yêu, để đặt trên bàn tiệc cưới, đám hỏi, thì quả cái màu xanh thật là màu của nguyện vọng hạnh phúc […]

( Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 2, Sđd)

Ngày đăng: 29/09/2023, 22:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w