Câu 2: Nguyên liệu của cốm được tác giả nhắc đến trong đoạn trích là cái hạt non của “thóc nếp hoa vàng”... Đề bài 02: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Cốm, một món quà t
Trang 1ÔN TẬP QUÀ TẶNG THIÊN NHIÊN
Trang 2ÔN TẬP VĂN BẢN 1
CỐM VÒNG
(Vũ Bằng)
Trang 31 Tác giả Vũ Bằng
- Vũ Bằng (1913-1984) sinh tại Hà Nội Sau năm 1954, ông vào Sài Gòn
để viết báo và làm hoạt động tình báo
- Sở trường của ông là viết truyện ngắn, tuỳ bút và bút kí Ông nổi tiếng là cây bút trữ tình, tinh tế và giàu chất thơ Đặc biệt, ông có nhiều bài viết hay thể hiện những cảm xúc sâu lắng về quê hương, đất nước
- Các tác phẩm tiêu biểu của ông: Miếng ngon Hà Nội, Miếng là miền
Nam, Thương nhớ mười hai,…
I KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN
Trang 42 Văn bản “Cốm vòng”
a Xuất xứ
Trích từ tập Món ngon Hà Nội (xuất bản đầu năm 1960) Đây là tập
tuỳ bút viết về những món ăn thường ngày, bình dị nhưng đậm đà hương
vị đất nước, quê hương
b Thể loại: Tuỳ bút
Trang 5I KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN
c Bố cục: 3 phần
- Phần 1: Từ đầu đến “sợi tơ hồng quấn quýt”: Cảm nhận về
màu sắc và mùi vị của cốm và hồng.
- Phần 2: Tiếp đến “Làm vậy, cốm có còn là cốm đâu!”: Giới
thiệu về nguồn gốc và quy trình làm cốm.
- Phần 3: Còn lại: Cảm nhận về cách thưởng thức cốm.
Trang 6I KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN
d Giá trị nội dung
- Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị
và thanh khiết của đồng quê nội cỏ, sự tinh tế và thái độ trân trọng, cái nhìn văn hoá trong ẩm thực
- "Một thứ quà của lúa non - Cốm" đã cho thấy một tâm hồn trân trọng, say mê của tác giả đối với cốm, với mảnh đất và con người Hà Nội
Trang 7I KIẾN THỨC CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ VĂN BẢN
Trang 8DẠNG 1: LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU
II LUYỆN ĐỀ
Đề bài 01:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Cốm nguyên là cái hạt non của “thóc nếp hoa vàng”1 Một ngày đầu tháng tám, đi dạo những vùng trồng lúa đó, ta sẽ thấy ngào ngạt mùi lúa chín xen với mùi cỏ, mùi đất của quê hương làm cho ta nhẹ nhõm và đôi khi… phơi phới
Trang 9
Hỡi anh đi đường cái, hãy cúi xuống hái lấy một bông lúa mà xem Hạt thóc nếp hoa vàng trông cũng giống hạt thóc nếp thường, nhưng nhỏ hơn một chút mà cũng tròn trặn hơn Anh nhấm thử một hạt, sẽ thấy ở đầu lưỡi ngọt như sữa người.
Người làng Vòng đi ngắt lúa về và nội trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ phải bắt tay vào việc chế hóa hạt thóc ra thành cốm.
[…]
Trang 10Lúa ngắt đem ở cánh đồng về, kị nhất là không được vò hay đập, nhưng phải tuốt để cho những hạt thóc vàng rơi ra Người ta cho rằng bí quyết của cốm Vòng là lúc đem đảo ở trong những nồi rang.
Tất cả cái khéo tay, cộng với những kinh nghiệm lâu đời xui2 cho người đàn bà làng Vòng đảo cốm trong những nồi rang vừa dẻo; lửa lúc nào cũng phải đều; nhất là củi đun phải là thứ củi gỗ cháy âm, chứ không được dùng đến củi rơm hay củi đóm
Công việc xay, giã cũng cần phải gượng nhẹ, chu đáo như vậy: chày giã không được nặng quá, mà giã thì phải đều tay, không được chậm vì cốm sẽ nguội đi, thứ nhất là phải đào từ dưới lên, từ trên xuống cho đều, không lỏi
Trang 11Những hạt thóc nào hái vừa vặn thì dẻo; hơi già, ăn cứng mình; mà non quá, hãy còn nhiều sữa thì quánh lại với nhau từng mảng Thứ cốm sau đó gọi là cốm dót.
Thóc giã xong rồi, người ta sàng Trấu bay ra cùng với những hạt cốm nhẹ nhàng nhất: cốm đó là cốm đầu nia3 Còn các thứ cốm khác thì là cốm thường, nhưng tất cả ba thứ đó không phải sàng sảy xong là đã ăn được ngay đâu; còn phải qua một giai đoạn nữa là hồ
Trang 12
Người ta lấy mạ giã ra, hòa với nước, làm thành một thứ phẩm xanh màu
lá cây rồi hồ cốm cho thật đều tay: cốm đương mộc mạc, nổi hẳn màu lên và duyên dáng như cô gái dậy thì bỗng tự nhiên đẹp trội lên trong một buổi sáng mùa xuân tươi tốt
Bây giờ, chỉ còn việc trình bày nữa là xong: cốm được tãi ra thật mỏng trên những mảnh lá chuối hay những cái lá sen (người ta gọi thế là lá cốm hay mẻ cốm) rồi xếp vào thúng để gánh đi bán, tinh khiết và thơm tho lạ lùng […]
(Vũ Bằng, Trích Cốm vòng, in trong Miếng ngon Hà Nội , NXB Lao động,
2009)
Trang 13*Chú thích:
(1) “Thóc nếp hoa vàng”: tức nếp cái hoa vàng, một giống lúa quý.
(2) Xui: Ở đây “xui cho” nghĩa là “khiến cho”
(3) Cốm đầu nia: còn gọi là cốm giót/cốm dót, là những hạt cốm rất non, khi
giã thì tự quyện vào với nhau tạo thành một khối nhỏ như hạt ngô, hạt lạc, khi sàng sảy tụ lại trên đầu nia
Trang 14Câu 1 Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2 Nguyên liệu của cốm được tác giả nhắc đến trong đoạn trích là gì?
Câu 3 Tìm các tính từ trong câu: “Những hạt thóc nào hái vừa vặn thì dẻo; hơi
già, ăn cứng mình; mà non quá, hãy còn nhiều sữa thì quánh lại với nhau từng mảng”
Câu 4 Theo tác giả bài viết, quy trình làm ra cốm bao gồm những công đoạn
nào? Quy trình đó được người làng Vòng thực hiện như thế nào?
Câu 5 Hãy chỉ ra công dụng của các dấu chấm lửng trong đoạn văn trên.
Câu 6 Hãy viết đoạn văn 7 – 10 câu cảm nhận về đặc sản ở quê hương em
(phạm vi trong tỉnh em đang sinh sống?
Trang 15Câu 1: Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích: biểu cảm,
miêu tả, thuyết minh
Câu 2: Nguyên liệu của cốm được tác giả nhắc đến trong đoạn trích là cái
hạt non của “thóc nếp hoa vàng”
Câu 3: Các tính từ là: vừa vặn, dẻo, già, cứng, non.
Gợi ý trả lời
Trang 16Câu 4 Theo tác giả bài viết, quy trình làm ra cốm bao gồm những công đoạn:
+ Ngắt lúa đem ở đồng về
+ Tuốt để cho những hạt thóc vàng rơi ra
+ Cho thóc vào nồi để rang lên
+ Đem thóc ra xay, giã
+ Sàng thóc
+ Làm hồ (lấy mạ giã ra, hòa với nước, làm thành một thứ phẩm màu xanh lá
để hồ cốm)
+ Đặc biệt, cốm được gói trong lá sen, gói cốm được buộc bằng cọng rơm tươi
Những công đoạn được thực hiện một cách rất cần mẫn, cầu kì, tỉ mỉ, kĩ
càng và đầy tâm huyết của người dân làng Vòng
Trang 17Câu 5 Công dụng của các dấu chấm lửng trong đoạn trích:
- Dấu chấm lửng trong câu: “Một ngày đầu tháng tám, đi dạo những vùng trồng lúa đó, ta sẽ thấy ngào ngạt mùi lúa chín xen với mùi cỏ, mùi đất của quê hương làm cho ta nhẹ nhõm và đôi khi… phơi phới.” => Biểu thị lời nói ngập ngừng, ngắt quãng
- Dấu chấm lửng […] : Biểu thị lời trích dẫn bị lược bớt
Trang 18Câu 6 HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài
Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
- Hình thức: Đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi
chính tả, ngữ pháp Hành văn trong sáng, trôi chảy;
- Nội dung:
+ Giới thiệu sản vật quê hương em
+ Nguồn gốc của sản vật đó
+ Sự độc đáo về vẻ đẹp, hương vị của sản vật đó
+ Giá trị của sản vật đó với cuộc sống, quê hương
+ Bài học: trân trọng, giữ gìn sản vật đó
Trang 19Đề bài 02:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Cốm, một món quà trang nhã của Thần Nông1 đem từ những đồng quê bát ngát của tổ tiên ta lại cho ta, không thể khứng chịu2 được những cái gì phàm tục
Vì thế, ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút gì thanh lịch, cao quý; phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất
là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng
Trang 20
Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng3, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch và ta sẽ thấy rằng ăn một miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!
[…]
Trang 21*Chú thích:
(1) Thần Nông: nhân vật trong thần thoại và truyền thuyết đã
dạy loài người trồng trọt và cày cấy.
(2) Khứng chịu: hứng chịu
(3) Lúa đòng đòng: bông lúa non khi mới hình thành
Trang 22Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2: Chất trữ tình được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?
Câu 3: Cái “tôi” được thể hiện qua cách nhân xưng nào trong đoạn trích?
Câu 4: Tác giả nếu lên cách thưởng thức cốm như thế nào? Vì sao cốm phải
được thưởng thức theo cách như vậy?
Câu 5: Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong đoạn trích.
Câu 6: Cốm không phải thức quà của người vội Cách thưởng thức cốm thể
hiện giá trị văn hoá của dân tộc Tuy nhiên, càng ngày giá trị văn hoá ấy càng
bị mai một đi Em hãy viết đoạn văn 7 – 10 dòng lí giải sự mai một đó?
Trang 23Gợi ý làm bài
Câu 1: Các phương thức biểu đạt trong đoạn trích: Biểu cảm, miêu tả, thuyết
minh
Câu 2: Chất trữ tình thấm đẫm trong đoạn văn: Tác giả nêu rõ ràng, tỉ mỉ cách
thưởng thức cốm, đồng thời thể hiện sự tinh tế trong cách thưởng thức đó:
Ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút gì thanh lịch, cao quý; phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng
Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch và ta sẽ thấy rằng ăn một miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng
Trang 24Câu 3: Cái tôi thể hiện trong đoạn trích là cái tôi tinh tế, trân trọng món quà
thiên nhiên cũng như văn hoá ẩm thực của dân tộc Cái tôi đó thể hiện qua cách nhân xưng “ta”, bộc lộ gián tiếp qua cách thưởng thức cốm, bộc lộ trực tiếp qua các câu văn cảm thán: “Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!”
Trang 25Câu 4:
- Tác giả nêu lên cách thưởng thức cốm: Ăn miếng cốm cho ra miếng cốm,
phải tỏ ra chút gì thanh lịch, cao quý; biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi; phải ăn từng chút một; vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ tính chất, hương thơm của cốm => Cốm cần thưởng thức một cách từ tốn, không nóng vội, vừa ăn vừa ngẫm nghĩ, cảm nhận hương vị của cốm
- Cốm được thưởng thức theo cách như vậy vì cốm là món quà trang nhã của Thần Nông, là món quà thiên nhiên ban tặng nên cốm không thể “khứng chịu” những gì phàm tục
Trang 26Câu 5: Công dụng của dấu chấm lửng: Đánh dấu phần văn bản bị lược bớt Câu 6: HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài
Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
- Hình thức: Đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc
lỗi chính tả, ngữ pháp Hành văn trong sáng, trôi chảy;
- Nội dung: HS có thể đưa ra một vài lí do để lí giải: Do con người dần trở
nên sính ngoại, xa rời truyền thống hoặc tự suy luận do tốc độ phát triển ngày càng nhanh, con người ngày càng sống vội nên những phong tục tinh
tế, tốt đẹp bị mắt dần,…
Trang 27Cốm, một món quà trang nhã của Thần Nông1 đem từ những đồng quê bát ngát của tổ tiên ta lại cho ta, không thể khứng chịu2
được những cái gì phàm tục.
Vì thế, ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút gì thanh lịch, cao quý; phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng.
Đề bài 02:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Trang 28Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng3, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch và ta sẽ thấy rằng ăn một miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!
[…]
Trang 29*Chú thích:
(1) Thần Nông: nhân vật trong thần thoại và truyền thuyết
đã dạy loài người trồng trọt và cày cấy.
(2) Khứng chịu: hứng chịu
(3) Lúa đòng đòng: bông lúa non khi mới hình thành
Trang 30Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2: Chất trữ tình được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?
Câu 3: Cái “tôi” được thể hiện qua cách nhân xưng nào trong đoạn trích? Câu 4: Tác giả nếu lên cách thưởng thức cốm như thế nào? Vì sao cốm
phải được thưởng thức theo cách như vậy?
Câu 5: Nêu công dụng của dấu chấm lửng trong đoạn trích.
Câu 6: Cốm không phải thức quà của người vội Cách thưởng thức cốm
thể hiện giá trị văn hoá của dân tộc Tuy nhiên, càng ngày giá trị văn hoá
ấy càng bị mai một đi Em hãy viết đoạn văn 7 – 10 dòng lí giải sự mai một đó?
Trang 31Câu 1: Các phương thức biểu đạt trong đoạn trích: Biểu cảm, miêu tả, thuyết
minh
Câu 2: Chất trữ tình thấm đẫm trong đoạn văn: Tác giả nêu rõ ràng, tỉ mỉ cách
thưởng thức cốm, đồng thời thể hiện sự tinh tế trong cách thưởng thức đó:
Ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút gì thanh lịch, cao quý; phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng
Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch và ta sẽ thấy rằng ăn một miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng
Gợi ý làm bài
Trang 32Câu 3: Cái tôi thể hiện trong đoạn trích là cái tôi tinh tế, trân trọng
món quà thiên nhiên cũng như văn hoá ẩm thực của dân tộc Cái tôi
đó thể hiện qua cách nhân xưng “ta”, bộc lộ gián tiếp qua cách thưởng thức cốm, bộc lộ trực tiếp qua các câu văn cảm thán: “Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!”
Trang 33Câu 4:
- Tác giả nêu lên cách thưởng thức cốm: Ăn miếng cốm cho ra
miếng cốm, phải tỏ ra chút gì thanh lịch, cao quý; biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi; phải ăn từng chút một; vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ tính chất, hương thơm của cốm => Cốm cần thưởng thức một cách từ tốn, không nóng vội, vừa ăn vừa ngẫm nghĩ, cảm nhận hương vị của cốm.
- Cốm được thưởng thức theo cách như vậy vì cốm là món quà trang nhã của Thần Nông, là món quà thiên nhiên ban tặng nên cốm không thể “khứng chịu” những gì phàm tục.
Trang 34Câu 5: Công dụng của dấu chấm lửng: Đánh dấu phần văn bản bị lược bớt Câu 6: HS viết đoạn văn theo yêu cầu đề bài
Đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
- Hình thức: Đảm bảo về số câu, không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi
chính tả, ngữ pháp Hành văn trong sáng, trôi chảy;
- Nội dung: HS có thể đưa ra một vài lí do để lí giải: Do con người dần trở
nên sính ngoại, xa rời truyền thống hoặc tự suy luận do tốc độ phát triển ngày càng nhanh, con người ngày càng sống vội nên những phong tục tinh
tế, tốt đẹp bị mắt dần,…
Trang 35Cốm làng Vòng nổi tiếng khắp Hà Nội Trước thời kì chiến tranh tiếng thơm của cốm làng Vòng truyền đưa vào đến Thanh Nghệ, đến Huế Quảng, đưa xuống Nam Định, Hải Phòng và vào thấu đến Sài Gòn Nam Bộ Mỗi năm cứ thấy gió mùa thu nổi sóng trên đồng lúa miền Bắc là nhiều người lại nhắc đến cốm Vòng – cái món quà thổ ngơi thơm lành của ruộng lúa nếp ngoại thành thủ đô Những cây sấu đứng đường của Hà Nội mà bắt đầu lộp bộp rụng xuống những trái sấu chín cây thì trên vỉa hè Hà Nội cũng bắt đầu hiện ra cái hình ảnh người gánh cốm đi bán rong
ĐỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI SGK
Đề số 03: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
CỐM
Trang 36Trái với thói thường của hàng rong, gánh cốm cứ êm ả mà đi, người bán cốm không cất tiếng rao hàng Hình thù người gánh cốm cũng phần nào gợi lên cái phẩm chất như thứ quà giản dị thơm thảo hiền hậu, vừa chắc chắn vừa tinh tế Đứng trên ban công nhìn xuống, đứng trong ngõ hoặc đứng trong quầy hàng nhìn ra, mà nhận được gánh cốm thì khắc gọi lấy mà mua Cái gánh cốm Vòng cổ truyền đã quen quá đi rồi với con mắt của nhiều người đã chết đi sống lại nhiều lần với Hà Nội
Trang 37Ai mà lầm được cái gánh cốm Vòng có cái đòn gánh dị thường một đầu thắng một đầu cong vút lên như cái ngọn chiếc hia tuồng Bình Đinh Cái đòn gánh cổ truyền ấy là cả một thân tre đánh cả gốc, đầu cong chính là cái phần gốc cây mà có khi phải chọn hàng chục bụi tre mới tìm đúng được một chiếc đòn gánh cốm vừa ý Cho nên đã có những cái đòn gánh cong truyền đi vai người này đến vai người khác có hàng mấy đời liền Trong thúng
là cốm, trên mặt thúng là một bó cọng rơm tươi còn xanh màu
mạ, và những tập lá sen Hồ Tây.
Trang 38Đã bao năm nay như thế, mỗi lần Hồ Tây lăn tăn ánh vàng nắng thu, mỗi lần những chòm mây mùa thu dãy Ba Vì và dãy Tam Đảo soi vào lòng sóng Hồ Tây, thì (ba mươi sáu) phố phường Hà Nội lại thấy xuất hiện cái bóng dáng êm ả của người gánh cốm Vòng tiến vào theo đường cửa ô Cầu Giấy Lúc này cũng là lúc khắp nơi nơi, nắng mùa thu đang vẫy những đốm trứng cuốc vào mọi trái chuối tiêu đang vuốt cong lên cái màu vàng ngọt, và nắng mùa thu cũng đang làm bóng lên cái màu đỏ hổ phách bay phấn của những quả hồng trứng cũng đang vểnh hết cả tai hồng lên Không hiểu đây là sự dàn xếp của mùa thu Việt Nam hay là sư hẹn hò của thời trân phẩm quả mà chuối tiêu trứng cuốc lại hay gặp mùa cốm và cốm lại gặp hồng trứng Chất nó ăn ý với nhau mà màu sắc nó còn gắn bó với nhau hơn nữa
Trang 39Đây quả là diễm phúc của người hoạ sĩ vẽ tranh tĩnh vật gửi vào vật vô tri tất
cả nỗi niềm vô cùng biết ơn của mình đối với đất nước giàu tươi, đối với lượng
cả của đất nước đang ban lộc ban phúc cho cuộc sống của lúa của quả của con người Ai khó tính và cầu kì màu sắc cứ nói gì thì nói nhưng theo tôi cái màu xanh của cốm Vòng là thứ màu xanh đẹp hơn cả cái màu xanh của ngọc thạch, cốm xanh đậm ấy mà lại là lá sen xanh phân làm đĩa đựng càng thấy mình cùng tạo vật sao mà nó chan hoà cảm thông đến được như thế Cốm rờn lên một niềm vui bất tận xanh, mả trên mặt đó lại cho chằng lên một múi lạt chữ thập nhuộm đổ cánh sen để gửi đến ngõ nhà người yêu, để đặt trên bàn tiệc cưới, đám hỏi, thì quả cái màu xanh thật là màu của nguyện vọng hạnh phúc […]
( Tuyển tập Nguyễn Tuân, tập 2, Sđd)