1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai kiem tra giua ky khl

48 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Lựa Chọn Nghề Nghiệp Quân Sự Của Nhóm Sỹ Quan Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Thõn Trung Dũng
Người hướng dẫn PGS.TS Vũ Cao Đàm
Trường học Học Viện Quân Sự
Chuyên ngành Quản Lý Khoa Học & Công Nghệ
Thể loại bài thực hành
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 442,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên đề tài Sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự của nhóm sỹ quan Quân đội NHÂN DÂN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 2.. quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ phù hợp với từng giai đoạn

Trang 1

BÀI THỰC HÀNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Môn: Khoa học luận

GV: PGS.TS Vũ Cao Đàm Học viên: Thân Trung Dũng Lớp: Quản lý KH&CN khoá VIII

Phần I: Mở đầu

1 Tên đề tài

Sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự của nhóm sỹ quan Quân đội NHÂN DÂN

Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2 Lý do nghiên cứu

Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng:

ý nghĩa lý luận:

- Góp phần bổ sung làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về nghề nghiệp quân

sự và phương pháp tiếp cận xã hội học trong lĩnh vực quân sự

- Tác giả đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận xã hội học để nghiên cứu,phân tích sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự của đội ngũ sỹ quan Quân đội Qua

đó mà góp thêm một phương pháp mới, khoa học, có hiệu quả trong nghiên cứu,phân tích đánh giá đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ Quân đội

- Là cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện quan điểm, chủ trương, chínhsách của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội trong thời kỳ mới, thời kỳ

cơ chế thị trường định hướng XHCN, thời kỳ kẻ thù tập trung chống phá cáchmạng nước ta quyết liệt, “Phi chính trị hoá quân đội”

ý nghĩa thực tiễn:

- Cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn cho các nhà nghiên cứu chiến lượchoạch định những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng độingũ sỹ quan Quân đội trong điều kiên mới Đồng thời đề tài này giúp cho cáccấp lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội đề ra các chủ trương giải pháp giáo dục,

Trang 2

quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ phù hợp với từng giai đoạn, đápứng nhu cầu nhiệm vụ của cách mạng.

- Nội dung và phương pháp nghiên cứu của đề tài góp phần khẳng địnhvai trò và đóng góp cho sự phát triển chuyên ngành xã hội học quân sự và ngành

xã hội học Việt Nam

- Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giáo viêngiảng dạy, cán bộ quản lý trong các nhà trường Quân đội, góp phần nâng caochất lượng đào tạo đội ngũ sỹ quan Quân đội

Xuât phát từ những nhu cầu lý luận và thực tiễn kể trên, tác giả lựa chọn

nghiên cứu đề tài “Sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự của nhóm sỹ quan

Quân đội Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

3 Lịch sử nghiên cứu

Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là đối tượng được nhiều lĩnh vực,nhiều cấp trong quân đội nghiên cứu trong suốt quá trình xây dựng và chiến đấucủa quân đội Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quanđến đội ngũ cán bộ quân đội và công tác cán bộ, đó là các đề tài:

Đề tài “Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giaiđoạn cách mạng mới” đã chỉ ra được những nét đặc trưng của đội ngũ cán bộquân đội, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ trong quânđội Đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ, hợp lý về quy họch tổng thểđào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ

Công trình khoa học cấp bộ “Tác động của những biến đổi kinh tế – xãhội ở nước ta đến xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị trong giaiđoạn cách mạng mới” đã chỉ ra những dự báo về tình hình kinh tế – xã hội nước

ta và những tác động của chúng đến xây dựng quân đội về chính trị Đề tài đẫtập trung phân tích nhận thức chính trị, tư tưởng và trạng thái tâm lý của sỹquan trước những biến đổi kinh tế xã hội nước ta hiện nay

Chương trình “Những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng quân đội vềchính trị trong giai đoạn cách mạng mới” đã đánh giá tình hình thực trạng xây

Trang 3

dựng quân đội về chính trị trong những năm qua Đưa ra những dự báo xuhướng phát triển của tình hình trong nước và Quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đếnxây dựng quân đội về chính trị và đưa ra những yêu cầu, nội dung mới xây dựngquân đội về chính trị.

Ngoài ra còn nhóm các đề tài đề tài gần gũi với đề tài mà tác giả đã lựachọn như:

Luận án tiến sỹ quân sự “Những biến đổi cơ cấu xã hội, giai cấp ở nước

ta hiện nay và ảnh hưởng của nó đến xây dựng quân đội về chính trị” đã phântích tính tất yếu về ảnh hưởng của những biến đổi cơ cấu xã hội giai cấp đếnxây dựng quân đội về chính trị và làm rõ những thực trạng của những ảnhhưởng ấy Đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản hệ thống, đồng bộcho xây dựng quân đội về chính trị trong điều kiện có những biến động cơ cấu

xã hội – giai cấp Góp phần luận chứng khoa học cho quá trình xây dựng quânđội về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới

Luận văn thạc sỹ triết học “Vai trò ngày càng tăng của nhân tố chủ quantrong phát triển nhân cách sỹ quan trẻ quân đội ta hiện nay” của tác giả NguyễnTiến Phương đã nêu lên thực trạng vai trò của nhân tố chủ quan trong phát triểnnhân cách sỹ quan trẻ Chỉ ra một số nguyên nhân khách quan, chủ quan tácđộng đến chúng đồng thời đưa ra được một số giải pháp cơ bản nhằm nâng caovai trò nhân tố chủ quan trong phát triển nhân cách sỹ quan trẻ

Luận án tiến sỹ triết học “Những vấn đề có tính quy luật trong nâng caogiác ngộ xã hội chủ nghĩa của đội ngũ sỹ quan trẻ trong quân đội nhân dân ViệtNam hiện nay” làm rõ khái niệm giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nâng cao giác ngộ

xã hội chủ nghĩa và khái quát những vấn đề có tính quy luật trong nâng cao giácngộ xã hội chủ nghĩa của đội ngũ sỹ quan trẻ Đề xuất một số giải pháp nhằmgóp phần nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa của đội ngũ sỹ quan trẻ quân độinhân dân Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sỹ xã hội học “Cơ cấu xã hội của đội ngũ sỹ quan trung, sơcấp trong quân đội nhân dân Việt Nam – thực trạng và xu hướng biến đổi” đã

Trang 4

vận dụng phương phỏp xó hội học về cơ cấu xó hội, đỏnh giỏ thực trạng, dự bỏo

xu hướng biến đổi, những vấn đề cú tớnh quy luật về sự biến đổi cơ cấu xó hộicủa đội ngũ sỹ quan trung, sơ cấp trong quõn đội nhõn dõn Việt Nam

Nội dung chủ yếu của các đề tài kể trên là phân tích đánh giá thực trạngtình hình, tổng kết những bài học kinh nghiệm về xây dựng quân đội về chínhtrị, xây dựng đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ trong quân đội của các thời kỳ;phân tích tình hình, những biến đổi kinh tế xã hội ở Việt Nam ảnh hởng đến xâydựng quân đội vững mạnh về chính trị, xây dựng đội ngũ sỹ quan quân đội Trờn

cơ sở đú xỏc định những yờu cầu cơ bản và đề xuất những giải phỏp cơ bản xõydựng quõn đội vững mạnh về chớnh trị, xõy dựng đội ngũ sỹ quan quõn đội đỏpứng yờu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cỏch mạng mới

Cú thể núi, cho đến nay chưa cú đề tài nào đề cập đến sự lựa chọn nghềnghiệp của đội ngũ sỹ quan Quõn đội, chưa đi sõu phõn tớch những nhõn tố ảnhhưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của đội ngũ sỹ quan quõn đội trong giai đoạn

hiện nay Do đú, tỏc giả đó xỏc định và lựa chọn đề tài “Sự lựa chọn nghề nghiệp

quõn sự của nhúm sỹ quan quõn đội nhõn dõn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để nghiờn cứu Đề tài sẽ tập trung nghiờn cứu quỏ trỡnh lựa chọn nghề nghiệp

quõn sự và phõn tớch những nhõn tố tỏc động đến quỏ trỡnh lựa chọn, ổn định nghềnghiệp quõn sự của nhúm sỹ quan quõn đội trong điều kiện hiện nay

4 Mục tiờu nghiờn cứu

4.1. Mục tiờu chung

- Tỡm hiểu sự lựa chọn nghề nghiệp quõn sự của nhúm sỹ quan Quõn đội

nhõn dõn Việt Nam

- Đỏnh giỏ, phõn tớch những nhõn tố ảnh hưởng và dự bỏo xu hướng lựa chọnnghề nghiệp quõn sự của nhúm sỹ quan Quõn đội nhõn dõn Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay

4.2.Mục tiờu cụ thể

- Phõn tớch làm rừ những cơ sở lý luận và phương phỏp luận xó hội học vềnghề nghiệp và nghề nghiệp quõn sự

Trang 5

- Tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá quá trình lựa chọn nghề nghiệp quân

sự và phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới quá trình lựa chọn, ổn định nghềnghiệp quân sự của nhóm sỹ quan Quân đội hiện nay

- Dự báo xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của nhóm sỹ quan Quân đội trongđiều kiện mới

5 Phạm vi nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu: Nhóm sỹ quan quân đội nhân dân Việt nam

5.2 Phạm vi nghiên cứu: Các đơn vị, cơ quan, học viện, nhà trường quân

đội, đóng quân trên cả nước

6 Vấn đề nghiên cứu

- Những lý do nào khiến sỹ quan trẻ lựa chọn nghề nghiệp quân sự ? Khilựa chọn loại nghề nghiệp đặc biệt này thì những giá trị, phẩm chất nghề nghiệpnào được đội ngũ sĩ quan trẻ quan tâm, coi là quan trọng?

- Những yếu tố nào tác động đến sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự?

- Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp quân sự của nhóm sỹ quan Quân độitrong điều kiện mới sẽ như thế nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

1 Sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự ban đầu mới chỉ là sở thích và nhậnthức cảm tính của cá nhân sỹ quan Quân đội

2 Hoàn cảnh và truyền thống gia đình có tác động trực tiếp tới sự lựachọn nghề nghiệp quân sự của sỹ quan Quân đội

3 Những biến đổi của nền kinh tế thị trường có tác động lớn tới sự lựachọn và quá trình ổn định, phát triển nghề nghiệp quân sự của sỹ quan Quânđội

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp luận nghiên cứu

- Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nghề nghiệp trong sự phát triểncủa hình thái kinh tế – xã hội

Trang 6

áp dụng quan điểm lý thuyết xã hội học chuyên ngành về nghề nghiệp,các thiết chế nghề nghiệp, giá trị và định hướng giá trị về nghề nghiệp như:

- Lý thuyết của E.Durkheim về nghề nghiệp trong phân công lao động.

- Quan điểm của Max Weber về nguyên nhân sự phân hoá các nhóm nghề nghiệp

- Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow.

- Lý thuyết hành động của Vilfredo Pareto

Đề tài này triển khai trên các nguồn dữ liệu gồm:

A Thông tin được thu thập qua sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu

định lượng (điều tra chọn mẫu) và phương pháp nghiên cứu định tính (thảo luậnnhóm, phỏng vấn sâu trong nghiên cứu xã hội học)

 Điều tra tiến hành với 600 bảng hỏi cho 3 nhóm sỹ quan Quân đội là:

Nhóm học viên các trường trong quân đội; Nhóm sỹ quan cấp uý, cấp tá(cấp chiến thuật và chiến dịch), là cán bộ chỉ huy, chính trị, hậu cần, kỹ thuật ởmột số đơn vị, cơ quan tại các địa phương; Nhóm sỹ quan quân đội đã nghỉ hưutham gia hội cựu chiến binh Việt Nam

 Tương ứng với 3 nhóm đối tượng trên là 3 cuộc thảo luận nhóm

B Phân tích thông tin định tính thu thập bằng phương pháp phỏng vấn sâu

và thảo luận nhóm do nhóm nghiên cứu tiến hành tại các tỉnh phía Bắc và phíaNam, nhằm bổ sung làm rõ thêm hiện trạng vấn đề nghiên cứu Số lượng phỏngvấn và thảo luận gồm:

 15 phỏng vấn sâu cho 3 nhóm sỹ quan (mỗi nhóm 5 trường hợp)

 3 phỏng vấn nhóm cho các nhóm tương ứng

C Đề tài sử dụng một số tư liệu thống kê, báo cáo, kết quả phân tích về

thành phần kinh tế cũng như cơ cấu lao động – việc làm của các địa phương cóliên quan đến chủ đề nghiên cứu

Trang 7

Để xử lý thông tin, chúng tôi sử dụng kỹ thuật phân tích văn bản với thôngtin định tính thu từ phỏng vấn và tư liệu có sẵn; sử dụng phương pháp phân tíchthống kê với số liệu định lượng bằng máy vi tính trên phần mềm SPSS11.5.

9 Luận cứ

9.1 Luận cứ lý thuyết:

- Lựa chọn nghề nghiệp quân sự của sĩ quan QQĐNDVN chịu áp lực của cácthiết chế xã hội, chủ yếu là gia đình chưa thực sự là nhu cầu bên trong của sĩ quan quânđội

- Lựa chọn ngành nghề quân sự là sự tính toán lợi ích cá nhân dựa trên sự cânnhắc giữa giá trị chính trị xã hội và lợi ích vật chất

- Những biến đổi của nền kinh tế thị trường cũng có tác động lớn tới sự lựachọn và quá trình ổn định, phát triển nghề nghiệp quân sự của sỹ quan Quân đội

9.2 Luận cứ thực tế: (kết quả thu được sau khi khảo sát và xử lý số liệu)

Dưới đây chỉ là một số chỉ báo (ví dụ minh hoạ) chứng minh cho các giả

thuyết đã nêu ở mục 7:

- Lý do đi học sĩ quan của sĩ quan QĐNDVN:

+ Bản thân thấy có năng khiếu quân sự: 71.1%

+ Noi theo truyền thống gia đình: 42.3%

+ Tự hoà là sĩ quan trong QĐNDVN: 57.8%

+ Học xong có việc làm ngay: 40.8%

+ Gia đình không phải lo kinh phí đào tạo: 70.1%

- Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự:

Trang 8

+ Các phương tiện truyền thông đại chúng: 60%

- Vai trò của gia đình trong việc lựa chọn nghề nghiệp của sỹ quan quân đội:

+ Gia đình có vai trò quyết định: 71.6%

Phần II Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu giới thiệu khái quát đề tài, nội dung của đề tài gồmcác chương:

Chương 1 “Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu”, đưa ra các lý thuyết xã

hội học về nghề nghiệp, giá trị và định hướng giá trị nghề nghiệp, tổng quan vấn

đề nghiên cứu và các khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu Trong chương nàychúng tôi cũng giới thiệu địa điểm khảo sát và một số đặc điểm của khách thểnghiên cứu Việc khái quát này là cơ sở để tìm hiểu sự lựa chọn nghề nghiệpcủa nhóm sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Chương 2 là chương trọng tâm của đề tài, trình bày các kết quả nghiên cứu

về thực trạng và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp quân sự của sỹ quan quân đội hiện nay

với ba phần:

Phần 1: Chỉ ra những lý do lựa chọn nghề nghiệp và sự ổn định, bền vữngnghề nghiệp quân sự của đội ngũ sỹ quan Quân đội hiện nay

Phần 2: Nêu lên những nhân tố tác động đến sự lựa chọn, ổn định nghềnghiệp quân sự của nhóm sỹ quan Quân đội hiện nay

Phần 3: Đưa ra những chỉ báo nói lên xu hướng sự lựa chọn và ổn định nghềnghiệp quân sự đói với đội ngũ sỹ quan Quân đội trong thời kỳ mới

Chương 3 Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 9

Phần Nội dung

Sự lựa chọn nghề nghiệp quân sự của nhóm sỹ quan Quân đội nhân dân hiên nay

Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

2 Cở sở lý luận

Khi nêu lên vấn đề lý luận, phương pháp luận về nghề nghiệp và nghềnghiệp quân sự là chúng ta đề cập tới những quan niệm, lý thuyết và cách thức,phương pháp nhận thức các vấn đề về nghề nghiệp và nghề nghiệp quân sự Nóicách khác, là chúng ta hiểu và lý giải nghề nghiệp nói chung và nghề nghiệpquân sự là gì ? được sinh ra và phát triển ra sao ? Nó thuộc về lĩnh vực hoặchoạt động nào của xã hội? Trong hệ thống nhiều mặt của cơ cấu xã hội thì nghềnghiệp nói chung và nghề nghiệp quân sự có vị trí ra sao và có các mối quan hệthế nào với các nhóm xã hội, với những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội? Sự lựa

Trang 10

chọn nghề nghiệp là gì? Nó có từ bao giờ và phát triển ra sao? v.v… Để hiểu vàtrả lời được những vấn đề nêu trên chúng ta cần phải có những lý thuyết,phương pháp khoa học, khách quan, chân thực Khi tìm hiểu về nghề nghiệp vànghề nghiệp quân sự đều có những cơ sở, vai trò, khả năng khác nhau để giúpchúng ta nhìn nhận đối tượng tiếp cận.

1.2.1 Lý luận Mác-Lênin về nghề nghiệp

Khi tìm hiểu về nghề nghiệp và nghề nghiệp quân sự đều có những cơ sở,vai trò, khả năng khác nhau để giúp chúng ta nhìn nhận đối tượng tiếp cận Theochúng tôi, có rất nhiều quan điểm, lý luận, phương pháp khác nhau, nhưng trong

đó chúng ta cần nghiên cứu, vận dụng lý luận, phương pháp luận xã hội học vàđặc biệt là lý thuyết về hình thái kinh tế- xã hội của Mác là lý luận và phươngpháp luận tiên tiến, cách mạng, khoa học, giúp làm sáng tỏ những vấn đề đã đặt

ở trên

Quan điểm Mác xít luôn đặt nghề nghiệp hay hoạt động nghề nghiệptrong chỉnh thể xã hội là hình thái kinh tế - xã hội Qua cách luận giải của Mácngười ta thấy nghề nghiệp đã tồn tại như một dạng hoạt động lao động đã ítnhiều được chuyên môn hoá theo tính chất công việc và các hình thức tổ chứckhác nhau Theo đó, nghề nghiệp cũng có thể được quan niệm như là kết quảcủa sự phân công lao động xã hội

Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng lịch sử là hoạt động của conngười nhằm theo đuổi những mục đích nhất định Trong quá trình theo đuổimục đích đó con người, bằng lao động của mình, đã tạo ra những sản phẩm nhấtđịnh Để tồn tại, con người phải liên hệ với tự nhiên và với nhau để sản xuất.Sản xuất phát triển dẫn đến phân công lao động xã hội Các mối quan hệ sảnxuất được hình thành và phát triển trong quá trình lao động của loài người.Những mối quan hệ đó tạo nên cơ cấu xã hội và các hình thái xã hội mới ra đờithay thế cho hình thái xã hội cũ

Từ những quan điểm lý luận tổng quát nêu trên, có thể đi sâu vào những

Trang 11

Trước hết, sự phân công lao động trong hoạt động sản xuất có mối liên hệkhá chặt chẽ với lực lượng sản xuất Để lý giải điểm xuất phát mang tính nguồngốc cho các hoạt động của con người, Ăngghen đã viết “… giữa đàn vượn vàloài người có điểm khác nhau đặc biệt là gì ? Đó là lao động ” Lao động là mộthoạt động có mục đích, có ý thức của con nguời nhằm thay đổi những vật thể tựnhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người “Lao động bắt đầu cùng với việcchế tạo công cụ” Sự kết hợp giữa các yếu tố lao động, đối tượng lao động và

tư liệu lao động luôn là yêu cầu tất yếu của mỗi quá trình lao động sản xuất,đồng thời cũng là sự phân công lao động Sự phân công lao động có những hìnhthái và trình độ khác nhau

Trong quá trình sản xuất sẽ hình thành sự phân công lao động tự nhiên

theo độ tuổi (người lớn, trẻ em, người già) và theo giới tính (đàn ông, đàn bà).

Sự phân công lao động tự nhiên ở thời kỳ ban đầu vẫn chưa thực sự tạo ra nghềnghiệp Chẳng hạn, trong xã hội nguyên thuỷ, đàn bà chủ yếu làm công việc nộitrợ; đàn ông chủ yếu đi săn bắn, đánh cá; người già lo chế tạo công cụ lao động

… Lực lượng sản xuất phát triển, trước hết là sự xuất hiện công cụ bằng kimloại, đã tạo nên cuộc cách mạng trong sản xuất Sự phân công lao động xã hội

đã thay thế sự phân công lao động tự nhiên và đồng thời, hoạt động chăn nuôitách khỏi trồng trọt Đây là sự phân ngành lớn đầu tiên trong hoạt động sảnxuất: Nghề trồng trọt và nghề chăn nuôi Người ta gọi đây là sự phân công xãhội lớn lần thứ nhất Khi phạm vi sản xuất mở rộng nhu cầu lao động mới cũngtăng lên và chiến tranh trở thành nguồn cung cấp lao động Khi nghề dệt, nghềchế tạo đồ kim thuộc và các nghề thủ công cũng phát triển và ngày càng đượcchuyên môn hoá thì dẫn đến phân công lao động xã hội lớn lần thứ hai: côngnghiệp tách khỏi nông nghiệp Việc sản xuất đã hướng tới nhu cầu trao đổi, tứcsản xuất hàng hoá ra đời ngành thương nghiệp cũng dần xuất hiện…

Tiếp tục phân tích một cách lôgíc theo đường hướng lý luận xã hội họcMác xít và sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội kế tiếp nhau, ta luônthấy mối quan hệ tương hỗ theo kiểu nhân quả giữa sự phân công lao động xã

Trang 12

hội và ngành nghề Từ sự phân công lao động tự nhiên đến sự phân công laođộng xã hội lần thứ nhất và lần thứ hai, sự phân công lao động đã diễn ra ở trình

độ ngày càng cao và đi vào chuyên môn hoá, chuyên sâu trong từng ngànhnghề Các ngành nghề trong xã hội ngày càng đa dạng và hoạt động lao độngtrong từng ngành nghề đó cũng mang tính chuyên nghiệp hơn, phục vụ cho nhucầu của con người và xã hội Mối quan hệ cơ bản giữa người lao động và ngànhnghề mà người đó sử dụng để kiếm sống đã làm nên nội dung chủ yếu trongkhái niệm nghề nghiệp của con người và xã hội Khi sự phân công lao động xãhội càng chuyên sâu và thời gian gắn bó với ngành nghề đó càng lâu dài thì nộidung và tính chất nghề nghiệp càng thể hiện rõ Trong sự phân công lao động xãhội, người đó sẽ được xếp vào một nhóm nghề nghiệp nào đó Vị trí của nghềnghiệp cũng sẽ chi phối vị trí và vai trò xã hội của anh ta Do vậy, khi tìm hiểu

sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân nào đó, người ta còn nghiên cứu trình độchung của phát triển sản xuất và phân công lao động xã hội, với những cáchthức mà các quan hệ xã hội chi phối nó Sự lựa chọn nghề nghiệp của conngười, theo đó, cũng có thể giả định như một kiểu hoạt động định hướng cómục tiêu để tạo ra những di động và thăng tiến xã hội

Mỗi xã hội và chế độ của nó được phân chia theo các ngành, các lĩnh vựcnhư Kinh tế - Chính trị - Quân sự - Ngoại giao Mối quan hệ giữa các ngành đó,

như Lênin đã chỉ ra: Chính trị là sự tập trung của kinh tế và chiến tranh (Quân sự) là hình thức tiếp tục khác của chính trị khi vấn đề ngoại giao không giải

quyết được Sự lựa chọn những giải pháp ứng xử hoặc lựa chọn đầu tư cho cáchoạt động nghề nghiệp khác nhau của giai cấp và Nhà nước thống trị hoặc củanhững thế hệ đi trước có sức chi phối mạnh mẽ tới sự lựa chọn nghề nghiệp củacác nhóm xã hội – nghề nghiệp quân sự xuất hiện

Sự phân công xã hội thành nghề nghiệp quân sự, trong đó sự kết hợpgiữa lao động, công cụ và đối tượng tác động mang đặc trưng khác hẳn với quátrình sản xuất nhưng hoạt động của nó vẫn bị lực lượng sản xuất chi phối.Ăngghen viết: “cung tên đối với thời đại mông muội thì cũng giống như thanh

Trang 13

kiếm sắt đối với thời đại dã man và khẩu súng đối với thời đại văn minh - vũ khí

có tính chất quyết định” Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện khi vũ khíhoặc công cụ được dùng trong ngành quân sự đã ra đời từ sự phát triển của kỹthuật, của công nghệ chế tạo và sản xuất

Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của Mác đã đóng vai trò là phươngpháp luận nền tảng, ở tầm triết học, cho mọi ngành nghiên cứu khoa học xã hội

Về phương diện xã hội học, lý luận đó đưa ra những chỉ dẫn trong phân tích cơcấu xã hội, trong đó có cơ cấu nghề nghiệp Nó chỉ ra, khi lực lượng sản xuấtlớn lên thì các hình thức tổ chức xã hội nảy sinh ra và phát triển theo Trong đó,phân tích các hoạt động kinh tế, hoạt động nghề nghiệp, trong tổng thể nhữnghoạt động và quan hệ xã hội và theo những tương quan nào mà nghề nghiệp lạiđược xem như là kết quả của sự phân công xã hội Sự phân công đó tạo ranhững chức năng gì; vị thế, vai trò của các nhóm xã hội nghề nghiệp trong sựphân công lao động ra sao… Từ những chỉ dẫn đó mà tìm ra các tác nhân chiphối hoạt động nghề nghiệp và sự lựa chọn nghề nghiệp của các nhóm xã hội.Trên cơ sở quán triệt lý luận và phương pháp luận Mác xít, chúng tôi cũng chú ýkhai thác “Những hạt nhân hợp lý” của các trường phái lý luận xã hội học hiệnđại nhằm bổ sung và làm phong phú thêm cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu

1.2.2 Lý thuyết của E.Durkheim về nghề nghiệp trong phân công lao

Trang 14

Những phân tích trên có thể gợi ra những khả năng đồng nhất hoặc khác biệtgiữa các nhóm có nguồn gốc xã hội khác nhau trong việc lựa chọn và đào tạonghề nghiệp của họ.

Durkheim cho rằng, sự phân công lao động tạo ra sự đoàn kết xã hội.Durkheim viết rằng, sự phân công lao động không chỉ biến mỗi cá nhân thànhmột tác nhân trao đổi như các nhà kinh tế học vẫn thường nhấn mạnh, mà còntạo ra cả một hệ thống các quyền lợi và nghĩa vụ gắn kết họ một cách lâu dàivới nhau Kết quả của sự phân công lao động trong xã hội là sự hình thành phức

hệ các lý tưởng, các giá trị, chuẩn mực chung, khách quan có khả năng quy địnhtrách nhiệm, quyền hạn, buộc các cá nhân phải liên hệ phụ thuộc vào nhau theokhuôn mẫu nhất định Hình thức phân công lao động đơn giản tạo ra loại đoànkết xã hội cơ học hay đoàn kết máy móc Hình thức phân công lao động phứctạp tạo ra sự đoàn kết hữu cơ

1.2.3 Quan điểm của Max Weber về nguyên nhân sự phân hoá các nhóm

nghề nghiệp

Một tác giả khác cần chú ý là Max Weber Trong “đối thoại tri thức” vớiMác, Weber đã phát triển lý luận của Mác ở những khía cạnh thuộc nguyênnhân của sự phân hoá xã hội và ông đã phân tích cho thấy sự chi phối mạnh mẽcủa văn hoá, tôn giáo Ông cũng nhấn mạnh tới “hoàn cảnh thị trường” đã cóvai trò như là cơ sở kinh tế cho một tầng lớp xã hội nào đó hơn là nguồn gốc tàisản và sở hữu của họ Theo ông, nguyên nhân đầu tiên của sự phân hoá, kể cảphân hoá thành các nhóm nghề nghiệp khác nhau là nhờ vào tay nghề có đượchoặc bản lĩnh riêng của người lao động và nó cũng tạo ra cho quyền lực trongviệc chiếm hữu những vị thế xã hội Sự nghiên cứu về các mối quan hệ nhânquả, theo ông, không chỉ thể hiện qua “tính nhân quả lịch sử quyết định” mà còngiả định sự thiết lập xã hội học mà ông diễn đạt bằng các thuật ngữ khả nănghoặc cơ may Sự phân tích của Weber về quyền lực, địa vị xã hội đã không đốilập hoặc phủ nhận học thuyết giai cấp của Mác mà là sự phát triển và bổ sung

Trang 15

cho cách nhìn về nguyên nhân “ độc nhất” hoặc quyết định luận kinh tế” mộtcách cứng nhắc mà một số nghiên cứu đã mắc phải khi vận dụng lí luận củaMác.

1.2.4 Lý thuyết của Abraham Maslow.

Khi nghiên cứu nhu cầu của con người, A.Maslow thấy rằng, nhu cầu củacon người và các hoạt động nhằm tạo ra các nhu cầu xuất hiện và diễn biến theotừng mức độ khác nhau, khi nhu cầu này chưa được thoả mãn thì chưa hề xuấthiện các nhu cầu khác Do vậy, A.Maslow phân chia các nhu cầu theo các mức

độ khác nhau từ thấp đến cao để cho thấy động lực thúc đẩy xuất hiện các nhucầu mới dựa vào việc thoả mãn các nhu cầu trước đó:

Thứ nhất là nhu cầu sinh lý Đây là nhu cầu thấp nhất cũng là cơ bản nhất

để duy trì sự tồn tại của con người, như ăn, mặc, ở và một số nhu cầu sinh họckhác…các nhu cầu này cần được thoả mãn thì mới có động lực thúc đẩy hoạtđộng của chủ thể nhu cầu nhằm tạo ra các nhu cầu mới cao hơn

Thứ hai là nhu cầu về an ninh, an toàn Nhu cầu này bao gồm việc đảmbảo về đời sống vật chất như lương thực, thực phẩm, nhà ở, tài sản của conngười; bảo đảm đời sống tinh thần cho con người như bảo vệ thân thể, bảo đảmcông ăn việc làm cho người ấy Đây là nhóm nhu cầu cần thiết của con người,

nó chỉ đứng đằng sau nhu cầu cơ bản nói trên vì không thoả mãn các nhu cầuthiết yếu này thì sự tồn tại của con người bị đe doạ và như vậy không có khảnăng cho nhu cầu mới xuất hiện

Thứ ba là nhu cầu xã hội Một trong những yếu tố để con người phát triển

và hoàn thiện chính là nhờ vào giao tiếp, giao tiếp được xem là nhu cầu xã hộicủa con người Vì khi có giao tiếp, giao lưu giữa các cá nhân với nhau trongnhóm cũng như ngoài xã hội thì các cá nhân mới được công nhận là thành viêncủa nhóm và được xã hội thừa nhận

Thứ tư là nhu cầu được tôn trọng Đây là nhu cầu mà các cá nhân trong

xã hội đều mong muốn đạt được khi họ là thành viên của nhóm của xã hội Các

Trang 16

cá nhân có nhu cầu về quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tin nhằm thể hiện khảnăng độc lập của bản thân và mong muốn đạt vị trí cao để được người khác tôntrọng.

Thứ năm là nhu cầu tự khẳng định mình đây là nhu cầu cao nhất của conngười trong lý thuyết của A.Maslow, ông cho rằng, con người bất kỳ nào cũngđòi hỏi được bộc lộ khả năng của bản thân ở mức độ cao nhất nhằm thực hiệnmột mục tiêu nào đó đã được đề ra trong quá trình phấn đấu cũng như trong quátrình sống của họ

đề tài sử dụng lý thuyết A.Maslow để nghiên cứu việc lựa chọn nghềnghiệp quân sự của sỹ quan quân đội trước hết xuất phát từ nhu cầu của cánhân Trước hết đó là nhu cầu có việc làm ổn định, có thu nhập để nuôi sốngbản thân và gia đình Ngoài ra môi trường quân đội cũng là nơi các sỹ quan cónhiều cơ hội để đạt được một vị thế trong xã hội, cũng như nâng cao uy tín củabản thân đối với gia đình và xã hội

1.2.5 Lý thuyết của Vilfredo Pareto

Theo lý thuyết của Pareto, hành động xã hội bao gồm hai loại: Hành độnglogic và hành động phi logic Hành động logic là hành động có sự lựa chọn mộtcách duy lý (hợp lý) những phương tiện thích hợp để đạt được mục đích đã xácđịnh Một đặc trưng cơ bản của hành động logic là sự trùng hợp giữa mục đíchkhách quan và mục đích chủ quan mà chủ thể xác định cho hành động củamình Xã hội học tập trung nghiên cứu loại hành động xã hội phi logic Đặctrưng cơ bản của hành động phi logic là sự không nhất quán giữa mục đíchkhách quan và mục đích chủ quan mà chủ thể xác định cho hành động của họ.Trong phạm vi của đề tài, quan niệm của Pareto được vận dụng trong vấn đềquản lý quan hệ người, nếu như sự điều động không hợp lý, không phù hợp vớinhu cầu và khả năng của cá nhân thì sẽ nảy sinh mâu thuẫn, và có thể dẫn tới sựhỗn loạn trong đơn vị

Trang 17

1.2.6 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về

nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội và đội ngũ sỹ quan Quân đội.

Trong bất cứ xã hội nào, Quân đội luôn là lực lượng đặc biệt của một giaicấp, là công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của nhà nước nhằm thực hiện mục đíchchính trị và cuối cùng là mục đích kinh tế của giai cấp

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh: con đường giải phóng dân tộc ta là con đường cách mạng vô sản, giảiphóng dân tộc gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người,giải phóng xã hội Để thực hiện sứ mệnh lịch sử nặng nề đó, Chủ tịch Hồ ChíMinh và Đảng cộng sản Việt nam đã tổ chức ra lực lượng vũ trang cách mạnglàm nòng cốt cho cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, mà tiền thân của nó là nhữngđội Xích vệ đỏ, du kích vũ trang, sau đó phát triển thành quân đội nhân dân.Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, lực lượng nòng cốt củacách mạng, là công cụ vũ trang sắc bén của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Đảngnắm quyền lãnh đạo quân đội theo nguyên tắc tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt.Đây là một vấn đề có tính nguyên tắc bất di, bất dịch bảo đảm cho quân độiluôn đứng vững lập trường giai cấp công nhân, giữ vững bản chất cách mạng,mục tiêu chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và kinh nghiệmlịch sử của Cách mạng Việt Nam, hơn 56 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhândân ta luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến xây dựng Quân đội nhân dânvững mạnh về mọi mặt, trong đó rất coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh vềchính trị Chủ tịch Hồ Chí Minh coi xây dựng về chính trị là xây dựng “cái gốc”

- nền tảng của Quân đội Cách mạng

Để đảm bảo việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Chủ tịch HồChí Minh đã sớm xác định những vấn đề cơ bản, có tính nguyên tắc đối với việcxây dựng lực lượng vũ trang chính trị Yếu tố then chốt quyết định thắng lợinhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là phải xây dựng đội ngũ cán

bộ, Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” “muôn việc thành

Trang 18

công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém” Vì vậy, “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” Đảng phải chú trọng đào tạo cán bộ Đối với cán bộ Quân đội, Người đòi hỏi phải có đủ phẩm chất, đủ năng lực, phải “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung” và nhấn mạnh “một người cán bộ phải có đạo đức cách mạng Quân sự giỏi song nếu không có đạo đức cách mạng thì khó thành công”, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng là khâu

vụ trong quân đội là một vinh dự, tự hào

Bước vào thế kỷ XXI, Đất nước và nhân dân ta vừa “có cả cơ hội lớn và thách thức lớn” Thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau gay

gắt, đồng thời tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội

Để nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách, để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ

trong thời kỳ mới, Nghị quyết Đại hội Đảng IX chỉ ra “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” đó là vấn đề có ý nghĩa sống còn

của Đảng và nhân dân ta Trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng,

Đại hội Đảng IX khẳng định “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt” và “xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, “Từng bước cải thiện đời

Trang 19

sống vật chất và tinh thần của các lực lượng vũ trang, thực hiện tốt chính sách hậu phương đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân”.

Trước những yêu cầu nhiệm vụ phát triển mới, trên cơ sở chiến lược cán

bộ của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước xácđịnh phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội đáp ứngnhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quânđội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựngđội ngũ cán bộ phải đặt trong tổng thể chiến lược cán bộ của Đảng và Nhànước; có cơ chế chính sách phối hợp chặt chẽ giữa Quân đội và hệ thống giáodục quốc dân, các tổ chức, các cấp, các ngành trong và ngoài Quân đội nhằmđại học hoá, trí thức hoá đội ngũ sỹ quan, khuyến khích, thu hút những cán bộ

và thanh niên có chất lượng tốt vào Quân đội; tiếp tục đổi mới chính sách đãingộ vật chất, tinh thần đối với cán bộ Quân đội, phù hợp điều kiện kinh tế - xãhội trong từng thời kỳ của đất nước; phải xây dựng đội ngũ có cơ cấu cân đối,trong đó tập trung nâng cao chất lượng toàn diện đội ngũ cán bộ, trước hết làbản lĩnh chính trị

Để xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong cácgiai đoạn cách mạng vừa qua, Đảng và Nhà nước rất coi trọng công tác lựachọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ sỹ quan, chăm lo xây dựng hệ thống nhàtrường trong quân đội Ngay sau ngày độc lập theo sắc lệnh của Chủ tịch HồChí Minh, tháng 5 năm 1946, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là trường sỹquan lục quân I) được thành lập để đào tạo đội ngũ sỹ quan cho quân đội Trảiqua quá trình hơn 56 năm xây dựng, chiến đấu của quân đội, cùng với sự trưởngthành của quân đội, Nhà trường trong Quân đội cũng trở thành một hệ thốngđào tạo sỹ quan các cấp trong quân đội (sỹ quan sơ cấp, sỹ quan trung cấp, sỹquan cao cấp ; đào tạo các nhóm ngành sỹ quan sỹ quan Chính trị, sỹ quan Chỉhuy, sỹ quan Hậu cần, sỹ quan Kỹ thuật và đào tạo theo các bậc học cử nhâncao đẳng, cử nhân đại học, thạc sỹ, tiến sỹ)

Trang 20

Ngày 05/3/1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 86/CP đặt cáctrường quân đội trong hệ thống các trường đại học và chuyên nghiệp của cảnước Quyết định này đã tạo điều kiện cho các trường quân đội từng bước hoànhập với hệ thống đào tạo của quốc gia Đến nay đã có 15 nhà trường quân độiđược nhà nước cho phép đào tạo đại học và 7 nhà trường được đào tạo sau đạihọc.

Các nhà trường quân đội không chỉ đảm nhiệm đào tạo cán bộ cho quânđội mà còn có thể đào tạo cán bộ có trình độ học vấn đại học, sau đại học chođất nước Những cán bộ này chủ yếu làm nhiệm vụ trong quân đội và có thểđược điều động hoặc biệt phái làm các nhiệm vụ khác trong các cơ quan củaĐảng, Nhà nước khi cần thiết Sự trưởng thành lớn mạnh theo hướng chính quy,hiện đại của các nhà trường trong Quân đội, cùng với uy tín về chất lượng đàotạo của các trường đã thu hút một bộ phận thanh niên trong các tầng lớp xã hộivào học trong các trường sỹ quan quân đội, trở thành “cơ sở xã hội” cho chủtrương tuyển sinh quân sự

Từ khi hình thành các nhà trường quân đội cho đến trước năm 1982,nguồn đào tạo sỹ quan quân đội được lựa chọn từ những cán bộ chiến sỹ cóthành tích trong công tác, chiến đấu theo chế độ cử tuyển, không tuyển chọnthanh niên ngoài quân đội vào học đào tạo sỹ quan Trong điều kiện đất nước cóchiến tranh, quân nhân được tuyển chọn đi học đào tạo sỹ quan vừa là nhiệm vụ,trách nhiệm của mỗi quân nhân, vừa là niềm vinh dự, tự hào được là sỹ quanQuân đội nhân dân Việt Nam Vào thời điểm đó, sỹ quan quân đội chưa phải làmột nghề trong quân đội và dư luận xã hội chưa quan niệm sỹ quan quân đội làmột nghề - nghề nghiệp quân sự Với mỗi quân nhân, trở thành sỹ quan trongquân đội vừa thể hiện sự thăng tiến xã hội trong quân đội, vừa là “cơ may xãhội”; với nhiều người, được tuyển chọn đi học và trở thành sỹ quan quân đội

được xem như là “phần thưởng xã hội” với cá nhân, gia đình, dòng họ và địa

phương nơi mình sinh ra, lớn lên

Trang 21

Năm 1982, Đảng, Nhà nước, Quân đội chủ trương tuyển sinh quân sự chophép thanh niên có trình độ trung học phổ thông được đăng ký thi tuyển vào cáctrường sỹ quan, được đào tạo để trở thành sỹ quan quân đội với trình độ học vấn

Cử nhân Cao đẳng, Cử nhân đại học

Chủ trương này đã một lần nữa khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnhcủa hệ thống nhà trường quân đội, đồng thời thể hiện sự quán triệt quan điểmkết hợp 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.Trong chiến tranh, nguồn đào tạo sỹ quan lấy trực tiếp từ những quân nhântrưởng thành trong chiến đấu; trong thời bình, nguồn đào tạo sỹ quan là cácnhóm thanh niên trong xã hội bao gồm cả quân nhân thông qua tuyển sinh quân

sự để chọn nhân tài quân sự trong xã hội

Chủ trương tuyển sinh quân sự đã khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhànước, Quân đội đối với xây dựng đội ngũ sỹ quan quân đội trong thời bình, xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đồng thời, với chủ trương tuyển sinh quân sự đã xác lập rõ vị trí của nghề nghiệp Quân sự (Binh nghiệp) trong hệ thống ngành nghề của xã hội, mặt khác đáp ứng nhu cầu về nghề nghiệp và phát triển nghề nghiệp của xã hội Người nộp đơn đăng ký thi tuyển

vào trường sỹ quan đã phải tự xác định cuộc đời binh nghiệp của mình, tự xácđịnh phải phục vụ trong quân đội suốt đời Chủ trương tuyển sinh quân sự,tuyển chọn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào đào tạo sỹ quan trongnhà trường quân đội đã đáp ứng nguyện vọng của một nhóm thanh niên sau khitốt nghiệp phổ thông trung học, nhất là ở nông thôn và đáp ứng nhu cầu pháttriển nghề nghiệp trong xã hội Trong xã hội và một bộ phận thanh niên đã coiquân sự cũng là một nghề nghiệp đặc biệt - nghề binh nghiệp; coi trở thành sỹquan quân đội cũng là một nghề nghiệp để thăng tiến xã hội và đảm bảo cuộcsống

1.2.5 Vấn đề định hướng nghề nghiệp của xã hội nước ta trong thời kỳ

đổi mới

Trang 22

Những biến đổi nghề nghiệp xã hội như lý luận Mác xít đã chỉ ra mốiquan hệ qua lại với sự phân công lao động xã hội và với sự phát triển của lựclượng sản xuất Do vậy, từ bình diện chung của xã hội có thể thông qua các mốiquan hệ tương hỗ đó mà đánh giá về hiện trạng nghề nghiệp và những địnhhướng nghề nghiệp của xã hội Những phân tích tiếp theo này không chỉ giúphình dung về định hướng nghề nghiệp của xã hội mà quan trọng hơn nhằm hoànthiện một bước những vấn đề lý luận và phương pháp luận xã hội học cho việcgiải quyết nội dung vấn đề.

Định hướng nghề nghiệp của xã hội trước hết thể hiện trong đường lốiphát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước Trong đó, thể hiện một cáchbao quát và tập trung nhất những định hướng của các tầng lớp, các nhóm xãhội Nó được định hướng vào cả hai khối nhiệm vụ lớn là xây dựng và bảo vệtoàn vẹn lãnh thổ Quốc gia sau thời gian dài đấu tranh giành độc lập dân tộc vàthống nhất đất nước Thay đổi lớn nhất trong định hướng chung của xã hội từkhi có đổi mới là phát triển kinh tế thị trường theo định huớng xã hội chủ nghĩa.Xét riêng trong lĩnh vực kinh tế, định hướng tập trung nhiều vào công nghiệphoá và lấy đó làm nội dung trọng tâm để chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lạchậu sang nền kinh tế phát triển hiện đại, cân đối giữa các ngành nông nghiệp,công nghiệp, dịch vụ … Đó cũng là định hướng chuyển dịch cơ cấu lao động,

cơ cấu nghề nghiệp, nó có sức chi phối mọi sự lựa chọn trong định hướng hoạtđộng của các tầng lớp và các nhóm xã hội Những định hướng kinh tế nghềnghiệp của Đảng và Nhà nước còn được cụ thể hoá qua chỉ tiêu phát triển và cácgiải pháp thực hiện như phân bố đầu tư, phát triển kỹ thuật vv…

Sau 15 năm đổi mới (1986-2001) kinh tế xã hội nước ta không chỉ đã

bước qua thời kỳ khủng hoảng kéo dài mà còn có những bước phát triển quantrọng Tuy nhiên, nước ta vẫn là nước nghèo, hoạt động nghề nghiệp của phần

lớn dân cư (trên 70%) vẫn là nông nghiệp, nông thôn “Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn vẫn còn cao đang là vấn đề xã hội nóng bỏng nhất” (6).Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động xã hội và

Trang 23

nghề nghiệp so với hoàn cảnh chung của khu vực và trên thế giới vẫn còn ởmức thấp kém Từ vài nét thực trạng đó ta càng thấy rõ đường lối phát triểnkinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước- với tính cách là những hoạt động địnhhướng- mang đậm nội dung bao quát chung cả thời kì quá độ.

Những định hướng lựa chọn nghề nghiệp trong các tầng lớp và các nhóm

xã hội ở nước ta đã phản ánh những định hướng chung trong đường lối củaĐảng và Nhà nước, tuy nhiên cũng tuỳ từng khu vực nghề nghiệp, tuỳ bối cảnh

cụ thể cũng như ở từng địa phương mà lựa chọn nghề nghiệp có những mức độthể hiện cụ thể khác nhau Theo số liệu kinh tế - xã hội của tổng cục thống kêqua từng năm, số liệu báo cáo của các cấp các ngành cũng như các khảo sát

nghiên cứu thì định hướng nghề nghiệp trong các nhóm xã hội (xét theo cơ cấu giới tính, độ tuổi, học vấn…) nhìn chung đã diễn ra theo hướng đa dạng hoá các

việc làm - nghề nghiệp Sự đa dạng hoá này không chỉ thể hiện ở số lượng cácviệc làm các ngành nghề mà còn thể hiện qua sự hỗn hợp các việc làm đó quatừng người lao động, từng hộ gia đình, từng xã (phường) và qua các thành phầnkinh tế ở khu vực nông thôn Theo số liệu tổng hợp của ban nông nghiệp Trungương và kết quả điều tra 12 xã ở khu vực đồng bằng sông Hồng năm 1990-1993thì cơ cấu lao động nghề nghiệp lấy theo hộ gia đình thể hiện như sau: hộ thuầnnông 30-40%; hộ hỗn hợp 50-60% và hộ phi nông 5-19% Những khảo sát củaViện Xã hội học cho thấy các hoạt động nghề nghiệp theo kiểu hỗn hợp cũng là

xu hướng chung của các hộ gia đình ở nông thôn xét theo cả hiện trạng và địnhhướng hoạt động Chẳng hạn kết quả khảo sát của dự án VNRP có 600 hộ tại 3

xã đòng bằng sông Hồng năm 1997 cho thấy loại hỗn hợp có tỉ lệ cao nhất86,0% trong khi loại hộ phi nông chỉ có 1,8% và hộ thuần nông là 12,2% Nếutính theo đơn vị người lao động thì cơ cấu nghề nghiệp có tỉ lệ sau: số ngườilàm thuần nông là 37,5%, số người làm kết hợp từ một việc làm phi nông trở lên

là 51,3% và số người chuyên phi nông là 11,2% (7) Hiện trạng cơ cấu lao nghề nghiệp theo kiểu hỗn hợp chung nói trên cũng chính là kết quả định hướng

động-và lựa chọn việc làm của các nhóm hộ ở một vùng đại diện cho khu vực nông

Trang 24

thôn- nơi còn chiếm trên 70% dân cư cả nước qua những năm đầu của thời kìđổi mới Các nghiên cứu về xã hội hoá nông thôn cũng cho thấy rằng, mặc dùcác hộ gia đình ở các làng xã vẫn gắn bó với nghề nông nhưng do ruộng đất qúa

ít nên tình trạng thiếu việc làm ngày càng tăng Để giải quyết việc làm và tăngthêm thu nhập cho các hộ gia đình đã có những định hướng mở rộng nghề chănnuôi Đáng kể hơn những tìm kiếm của họ đã định hướng sang các nghề nghiệpphi nông như nghề chế biến nông sản, nghề mộc, nề, buôn bán dịch vụ…Nhưng sự chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp nhìn chung vẫn còn rất chậm chạp

và gặp nhiều khó khăn Trong đó nổi lên những khó khăn lớn như vốn, kĩ thuật

và đầu ra cho sản phẩm… Những khó khăn đó cũng có tác động trở lại làm chonhững định hướng và lựa chọn nghề nghiệp của gia đình và các nhóm xã hội thểhiện ở trạng thái không ổn định và còn rất cầm chừng

ở khu vực đô thị, những định hướng nghề nghiệp của các nhóm xã hội lạigắn chủ yếu với các ngành nghề phi nông nghiệp như sản xuất công nghiệp, chếbiến thương nghiệp và dịch vụ Qua những năm đổi mới, bộ mặt các đô thị đặcbiệt là những thành phố lớn nhìn bề ngoài sầm uất hẳn lên Điều đó chứng tỏcác hoạt động nghề nghiệp cũng như sự lựa chọn việc làm của cư dân đã cónhiều thay đổi Những dòng người từ các vùng nông thôn đổ về đô thị kiếm việclàm cũng phần nào nói lên các hoạt động nghề nghiệp ở đô thị đã được mở ratheo nhiều hình thức đa dạng Những sự lựa chọn nghề nghiệp, khi hỗn hợp cácviệc làm ở nhiều người, nhiều hộ gia đình và nhiều nhóm xã hội Đó là sự kết

hợp các việc “làm phụ”, “làm thêm” bên cạnh nghề nghiệp chính Chẳng hạn,

kết quả điều tra trên mẫu ngẫu nhiên 800 hộ gia đình ở Hà Nội tháng 5/1992cho thấy qua các nguồn thu nhập từ lực lượng và các việc làm phụ, làm thêm từhoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán trong và ngoài quốc doanh cũng đãtạo ra cơ cấu nguồn thu từ khu vực nghề nghiệp giữa các nhóm hộ như sau (8):

1 Chỉ có tiền lương và các khoản phụ trợ cấp trong khu vực quốc doanh17,5%

2 Lương và các khoản thu nhập từ các công việc phụ làm thêm 35,3%

Ngày đăng: 27/09/2023, 15:28

w