1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài kiểm tra giữa kì quản lý tài chính

21 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Kiểm Tra Giữa Kì Quản Lý Tài Chính
Tác giả Nguyễn Thị Quyên
Người hướng dẫn TS. Trần Tất Thành
Trường học Trường đại học kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Quản lý tài chính
Thể loại bài tập kiểm tra giữa kỳ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 215,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Định nghĩa phân tích tài chính doanh nghiệp:“Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phươngpháp và các công cụ cho phép thu thập xử lý các thông tin kế toán và c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Trang 2

+ Định nghĩa phân tích tài chính doanh nghiệp:

“Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phươngpháp và các công cụ cho phép thu thập xử lý các thông tin kế toán và các thông tinkhác nhằm quản lý đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi

ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đó, khả năng vàtiềm lực của doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tàichính, quyết định quản lý phù hợp.”(Kế toán Việt Nam-ACVINA)

+ Mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam:

- Phân tích tài chính có thể ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau; với mục đíchtác nghiệp (chuẩn bị các quyết định nội bộ) với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặctheo vị trí của nhà phân tích (trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp) Có thểnói phân tích doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với các công ty vàdoanh nghiệp hiện nay

- Phân tích báo cáo tài chính xét theo nghĩa khái quát đề cập tới việc phân tích vàgiải thích các báo cáo tài chính Để áp dụng hiệu quả đòi hỏi phải thiết lập một quytrình có hệ thống và logic, có thể sử dụng làm cơ sở cho việc ra quyết định.Trongphân tích cuối cùng việc ra quyết định là mục đích chủ yếu của phân tích báo cáo tàichính Dù cho đó là nhà đầu tư cổ phần vốn có tiềm năng, một nhà cho vay tiềmnăng, hay một nhà phân tích tham mưu của một công ty đang được phân tích, thìmục tiêu cuối cùng đều như nhau, đó là cung cấp cơ sở cho việc ra quyết định hợp

lý Các quyết định xem nên mua hay bán cổ phần, nên cho vay hay từ chối hoặc nênlựa chọn giữa cách tiếp tục kiểu trước đây hay là chuyển sang một quy trình mới, tất

cả phần lớn sẽ phụ thuộc vào các kết quả phân tích tài chính có chất lượng Loạihình quyết định đang được xem xét sẽ là yếu tố quan trọng của phạm vi phân tích,nhưng mục tiêu ra quyết định là không thay đổi Chẳng hạn, cả những người muabán cổ phần lẫn nhà cho vay ngân hàng đều phân tích các báo cáo tài chính và coi

đó như là một công việc hỗ trợ cho việc ra quyết định, tuy nhiên phạm vị chú ýchính trong những phân tích của họ sẽ khác nhau Nhà cho vay ngân hàng có thểquan tâm nhiều hơn tới khả năng cơ động chuyển sang tiền mặt trong thời kỳ ngắnhạn và giá trị lý giải của các tài sản có tính cơ động Còn các nhà đầu tư cổ phầntiềm năng quan tâm hơn đến khả năng sinh lợi lâu dài và cơ cấu vốn Tuy nhiên,

Trang 3

trong cả hai trường hợp, sự định hướng vào việc ra quyết định của công tác phântích là đặc trưng chung.

- Mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích báo cáo tài chính: Thứnhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để "hiểu đượccác con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công cụ phân tích tàichính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính trong báo cáo.Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau nhằm để miêu

tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin từ các dữ liệu ban đầu Thứhai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra quyết định,một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc dự đoántương lai Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tài chính hay tất

cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai Do đó, người ta sử dụng cáccông cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn

cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phân tích tình hình tài chínhtrong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng của những rủi rokinh tế trong tương lai

* Những khó khăn khi phân tích tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam:

Phân tích tài chính ở các doanh nghiệp Việt Nam còn khá mới mẻ Do vậy hầunhư chưa có doanh nghiệp nào thực hiện phân tích một cách chính xác đầy đủ đểphục vụ cho công tác quản lý tài chính của mình Việc phân tích tài chính mới chỉ

có tính chất tham khảo, do vậy việc lựa chọn nguồn thông tin, thu thập thông tin sửdụng các kỹ thuật công cụ phân tích còn nhiều hạn chế Hơn nữa, thị trường tiền tệ,thị trường vốn của Việt Nam còn chưa phát triển hoàn chỉnh nên phân tích tài chínhchưa được quan tâm đúng mức Thị trường chứng khoán ở Việt Nam còn tương đốinhỏ bé nên kết quả phân tích tài chính chưa thực sự cần thiết đối với các nhà đầu tưkhi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp do đó việc phân tích tài chính chưa đượcquan tâm Bên cạnh đó, hệ thống luật pháp, quy định, quy chế về tài chính kế toáncòn nhiều bất cập, tạo ra khe hở cho các doanh nghiệp không cần phải đưa ra những

số liệu về tình hình tài chính mà vẫn có thể trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước, vớingân hàng Dưới đây ta sẽ phân tích một số khó khăn cụ thể:

Trang 4

+ Khó khăn về chất lượng nguồn thông tin:

- Đầu tiên, phân tích tài chính các doanh nghiệp tại Việt Nam gặp trở ngại lớn

là gần như không hề có dữ liệu bình quân ngành để so sánh Điều này làm giảm điphần nào ý nghĩa trong việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp

- Phân tích dựa trên các tỷ số tài chính phụ thuộc lớn vào tính chính xác củacác báo cáo tài chính Điều này bị ảnh hưởng lớn bởi các nguyên tắc kế toán Tuynhiên nguyên tắc và thực hành kế toán lại có thể khác nhau giữa các công ty, cácngành, các quốc gia và trong các thời kỳ khác nhau Do đó các nguyên tắc thựchành kế toán có thể làm sai lệch và làm mất đi ý nghĩa của các tỷ số tài chính

- Mức độ tin cậy của các số liệu trên báo cáo tài chính không cao, kể cả cácbáo cáo tài chính đã qua kiểm toán nên kết quả phân tích và đánh giá tình hình tàichính công ty thông qua phân tích tài chính thường chỉ có giá trị tham khảo hơn làphản ánh thực trạng Một số nhà quản lý có thể lợi dụng nguyên tắc kế toán để chủđộng tạo ra các tỷ số tài chính như ý muốn của mình nên việc phân tích tài chínhkhông còn là công cụ đánh giá khách quan

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Việt Nam không tách bạch rõràng các khoản chi phí tiền thuê và lãi vay nên ít khi các nhà phân tích sử dụng tỷ số

đo lường khả năng thanh toán lãi vay và khả năng trả nợ Trừ khi chỉ số này đóngmột vai trò quan trọng với Ngân hàng và chủ nợ nên họ phải tìm cách tách phần chiphí này từ chi phí hoạt động tài chính

- Trên góc độ nhà đầu tư Việt Nam và các cổ đông, chỉ số mức sinh lời trênvốn chủ sở hữu (ROE) là rất đáng quan tâm khi quyết định đầu tư Tuy nhiên doBáo cáo Kết quả kinh doanh chỉ dừng lại ở chỗ báo cáo lợi nhuận ròng là bao nhiêu,trong khi thực tế không phải tất cả các khoản Lợi nhuận ròng đều thuộc về cổ đông

do công ty phải trích lập một số quỹ khác Vì vậy chỉ tiêu Lợi nhuận ròng dễ gây sựsai lệch kỳ vọng cho cổ đông và nhà đầu tư

- Trong công tác phân tích tài chính Công ty chỉ quan tâm thông tin trong cácbáo cáo tài chính mà chưa chú trọng thu thập các thông tin khác, việc cập nhậtthông tin còn nhiều hạn chế, không liên tục, chưa đầy đủ, không kịp thời

- Lạm phát có thể ảnh hưởng và làm sai lệch thông tin tài chính được ghi nhậntrên các báo cáo tài chính khiến việc tính toán và phân tích trở nên sai lệch Chẳng

Trang 5

hạn như lạm phát sẽ gây ảnh hưởng đến giá trị của dòng tiền tại một năm, làm chodòng tiền ở các năm khác nhau sẽ có một thời giá tiền tệ khác nhau Điều này làmcho việc so sánh, phân tích số liệu giữa các năm có sự sai lệch.

- Các yếu tố thời vụ cũng làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của công ty

và khiến cho các tỷ số tài chính có khuynh hướng thay đổi bất thường Chẳng hạnvào mùa vụ hàng tồn kho tăng lên cao hơn bình thường nên nếu sử dụng tỷ số vòngquay hàng tồn kho sẽ thấy công ty có vẻ hoạt động kém hiệu quả

+ Khó khăn về phương pháp phân tích:

- Có được thông tin nhưng việc sử dụng thông tin như thế nào là điều đángnói, điều đó đòi hỏi cần phải có phương pháp phân tích khoa học, hợp lý Phân tíchtài chính tại nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có sử dụng phương pháp sosánh và tỷ lệ nhưng chủ yếu là so sánh chưa tận dụng được những ưu thế củaphương pháp tỷ lệ và chưa có sự kết hợp linh hoạt giữa hai phương pháp trên trongphương pháp phân tích, chưa áp dụng hiệu quả phương pháp như phân tích tài chínhDupont trong khi phương pháp này đang được sử dụng nhiều trên thế giới và việc

áp dụng phương pháp này không phức tạp, mặt khác sẽ cho những kết quả nhận xétngắn gọn nhưng cần thiết về nguồn gốc làm thay đổi lợi nhuận và ảnh hưởng củacác hệ số lợi nhuận đến hoạt động tài chính của Doanh nghiệp

+ Khó khăn về nguồn nhân lực:

- Việc phân tích tài chính doanh nghiệp ở Việt Nam ít khi được tiến hành vì mụcđích đánh giá kiểm soát bởi các nhà quản lý trong doanh nghiệp mà chủ yếu doNgân hàng hay Công ty chứng khoán là những người bên ngoài thực hiện Cácdoanh nghiệp thường không có nhân viên chuyên trách riêng về phân tích tài chính.Nếu doanh nghiệp có thực hiện phân tích tài chính thì công việc phân tích tài chínhlại thường được thực hiện trực tiếp của các nhân viên phòng kế toán do đó bị gặp

những khó khăn trong khi phân tích ảnh hưởng đến chất lượng phân tích: Thứ nhất,

nhân viên kế toán là những người được tuyển dụng từ chuyên ngành kế toán màkhông phải là những người có kinh nghiệm trong phân tích tài chính, chỉ thực hiện

theo chỉ đạo cấp trên Thứ hai, công việc hàng ngày của nhân viên kế toán do phải

phụ trách một mảng hoạt động của mình nên điều kiện về thời gian và nghiệp vụ

cho công tác phân tích là hạn chế Thứ ba, công tác phân tích tài chính chưa được

Trang 6

chú trọng, quan tâm và được thực hiện bởi nguồn nhân lực hạn chế về số lượng nêndẫn đến chất lượng của những quyết định là chưa chính xác và hiệu quả.

+ Khó khăn về việc đưa ra kết luận từ kết quả phân tích:

- Việc phân tích tài chính của công ty còn mang tính hình thức, các chỉ tiêu đượctính toán chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, chưa đủ căn cứ để đưa ra kết luận Một phầnnguyên nhân của điều này là vì sự thiếu hụt thông tin như đã nêu ở trên làm giảm rấtnhiều ý nghĩa của việc phân tích tài chính Các chỉ tiêu được tính toán ra nhưngchưa được đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau dẫn đến các kết luận đưa

ra mang tính một chiều, thiếu tính đa diện và kết quả là các quyết định tài chínhthiếu tính chính xác so với thực tế Các giải pháp kiến nghị đưa ra còn sơ sài, chưasâu do vậy làm ảnh hưởng đến chất lượng phân tích, hiệu quả kinh doanh của côngty

* Giải pháp nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp tại VN

+ Về phía Nhà nước:

- Cần hoàn thiện chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán

và chính sách pháp luật Để phù hợp với sự phát triển nền kinh tế trong quá trình hộinhập, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và giúp các doanh nghiệp hòa nhập với sựthay đổi thì Nhà nước phải không ngừng hoàn thiện kịp thời hệ thống kế toán và cácchuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam Chế độ kế toán mới phải đảm bảo giảiquyết các hoạt động kinh tế mới đã hoặc sẽ phát sinh trong tương lai, nhằm phảnánh đầy đủ các thông tin tài chính doanh nghiệp Cùng với đó là vấn đề thông tin kếtoán càng được kiểm toán thì càng đáng tin cậy, do vậy Nhà nước nên có nhữngchính sách về kiểm toán như khuyến khích hoặc bắt buộc đối với từng loại hìnhdoanh nghiệp Có những quy định về giá trị pháp lý của báo cáo tài chính đã kiểmtoán Và cuối cùng cần nghiên cứu và khuyến khích các doanh nghiệp đăng kí bổsung các mẫu báo cáo tài chính mở trong khuôn khổ pháp luật và chuẩn mực Nhànước nên cho phép nhận những mẫu báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhưng phảiđảm bảo những tiêu chuẩn như: phù hợp với chuẩn mực kế toán hiện hành, trìnhbày đầy đủ thông tin bắt buộc, trình bày những thông tin phù hợp với nhu cầu quản

lý của công ty, những thông tin bắt buộc có thể trình bày dưới dạng chi tiết phù hợpvới yêu cầu quản lý của công ty Ngoài ra cũng cần tiếp thu những ý kiến phản hồi

Trang 7

từ phía doanh nghiệp trong quá trình hoàn thiện chế độ kế toán và các chuẩn mực kếtoán mới.

- Công tác thanh tra kiểm tra của cơ quan thuế, tổng cục thuế được tiến hành

và thực hiện có hiệu quả nhằm phát hiện ra sai sót, bất hợp lý về số liệu để tạo nên

sự chuẩn xác cho các báo cáo tài chính

- Nhà nước cần có những văn bản quy định về việc cung cấp và xây dựng hệthống chỉ tiêu trung bình ngành để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phân tích tàichính được chính xác hơn

- Ngoài ra, Chính phủ cần có những chính sách mới trong việc phát triển thịtrường vốn, tạo cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường chứng khóan có điềukiện và nhu cầu phân tích tài chính nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.Thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng các công ty tài chính,công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư các doanh nghiệp có thể huy động vốn bằngviệc phát hành trái phiếu, cổ phiếu góp vốn liên doanh, mở rộng hoạt động sản xuấtkinh doanh

+ Về phía các doanh nghiệp, ngân hàng, công ty chứng khoán (những người trực tiếp tiến hành việc phân tích):

Các doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác kế toán

Để tháo gỡ khó khăn trong công tác phân tích tài chính cần sự nỗ lực cả từhai phía doanh nghiệp và nhà nước Về bản thân doanh nghiệp cần thực hiệnnghiêm túc công tác kế toán và kiểm toán theo chế độ kế toán mới ban hành, nhữngchuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam và hệ thống pháp luật kinh tế

Để có được những thông tin kế toán có giá trị, thì doanh nghiệp nên cónhững biện pháp kiểm tra nội bộ hoặc kiểm toán Mặt khác, để doanh nghiệp hòanhập với quá trình phát triển của nền kinh tế, bắt nhịp với sự thay đổi của đất nước,công tác kế toán phải tuân thủ theo chế độ kế toán mới và những chuẩn mực kếtoán, kiểm toán Việt Nam Bên cạnh đó cần chú trọng thực hiện các vấn đề sau:

- Thứ nhất, bổ sung những báo cáo tài chính ngoài hệ thống báo cáo tài chínhbắt buộc của Bộ Tài chính để phục vụ luồng thông tin đầy đủ cho công tác phântích Như phân tích Báo cáo thu nhập rất quan trọng và được sử dụng trong hầu hếtphân tích tài chính cho những quyết định về cơ cấu vốn, sử dụng vốn, các quyết

Trang 8

định về đầu tư và sử dụng đòn bẩy… mà hầu như các doanh nghiệp hiện nay không

sử dụng, sự hiểu biết của họ về báo cáo thu nhập và các chỉ tiêu trong báo cáo làchưa rõ ràng Do vậy, doanh nghiệp nên đưa báo cáo thu nhập vào hệ thống báo cáotài chính

- Thứ hai, nâng cao trình độ và phẩm chất của cán bộ quản lý Tất cả các quyếtđịnh về kinh doanh, tài chính, quản lý của doanh nghiệp đều từ cán bộ quản lý Dovậy, trình độ, năng lực và đạo đức của họ quyết định sự hoạt động có hiệu quả củadoanh nghiệp, hiệu quả hoạt động tài chính và công tác phân tích tài chính doanhnghiệp

- Thứ ba, nâng cao trình độ nhân viên chuyên trách

- Thứ tư, thường xuyên trao đổi thông tin bên ngoài về kinh tế, tài chính, thịtrường qua các trang web hoặc các hình thức khác

Nâng cao nhận thức, trình độ và chất lượng chuyên môn cho cán bộ phân tích tài chính

Hiện nay, công việc phân tích tài chính ở các doanh nghiệp thường đượcthực hiện bởi nhân viên chuyên về nghiệp vụ kế toán, điều này là bất cập Để nângcao chất lượng phân tích tài chính, vấn đề này cần được giải quyết như sau:

- Trước hết là nâng cao nhận thức cho nhân viên công ty đặc biệt là nhânviên phòng tài chính kế toán về tầm quan trọng của phân tích tài chính

- Chất lượng phân tích có cao hay không phụ thuộc vào trình độ và chuyênmôn của cán bộ phân tích Giải pháp trước mắt là nâng cao trình độ cho các kế toán

về các nghiệp vụ tài chính bằng cách khuyến khích đi học thêm, giành thêm thờigian cho các nhân viên ngoài công việc kế toán kiêm phân tích tài chính để họ cóthời gian tập trung cho phân tích tốt hơn Về lâu dài, cần có phòng tài chính riêngvới những cán bộ được tuyển dụng có chuyên môn về tài chính để thực hiện phântích tài chính

- Chọn lọc những nhân viên cho bộ phận tài chính phải có trình độ cơ bản vềtài chính và có kinh nghiệm và thâm niên trong công tác tài chính của công ty;

- Kịp thời tiếp nhận những thay đổi chính sách kế toán và những chuẩn mực

kế toán mới;

Trang 9

- Bổ sung những kiến thức về pháp luật và các chính sách tài chính thông quacác thông tin trên các báo, công báo, các trang web liên quan;

- Khuyến khích tìm hiểu thông tin kinh tế trong và ngoài nước từ mọi nguồnđăng tải;

- Cử hoặc tạo điều kiện nhân viên tham gia các khóa học ngắn, dài hạn tại cácnước trên thế giới về kiến thức quản lý và tài chính doanh nghiệp hiện đại;

- Tin học hóa đội ngũ nhân viên tài chính;

- Tham gia các hội thảo chuyên ngành

Câu 2:

+Chỉ số EPS:

Chỉ số EPS (Earning Per Share) là lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu Đây

là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưuhành trên thị trường EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợinhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức: EPS = (Lợi nhuận sau thuế - Lợinhuận sau thuế của cổ phiếu ưu đãi được hưởng – quỹ khen thưởng, phúc lợi choCBCNV được trích lập) / Tổng số cổ phiếu thường phát hành

Về câu bình luận: “Trong cơ cấu vốn của một doanh nghiệp, tỷ trọng nợ cànglớn thì thu nhập trên một cổ phiếu (EPS) càng lớn”, qua ví dụ dưới đây chứng tỏcâu bình luận này chỉ đúng trong điều kiện nền kinh tế bình thường hoặc phát triển

và lãi suất không quá cao (tình hình kinh doanh khá thuận lợi), còn không đúngtrong điều kiện nền kinh tế khó khăn và lãi vay cao Ngoài ra nó còn phụ thuộc vàolĩnh vực kinh doanh có tương thích với nền kinh tế hay không…

Việc sử dụng nợ (đòn bẩy tài chính) luôn là vấn đề được các doanh nghiệpquan tâm trong quá trình kinh doanh và là “con dao hai lưỡi” tác động đến tình hìnhkinh doanh của doanh nghiệp Nếu sử dụng hợp lý đòn bẩy tài chính, việc kinhdoanh sẽ tiến triển tốt và thuận lợi, còn ngược lại, doanh nghiệp có thể sẽ làm ănthua lỗ và vướng phải áp lực trả nợ và chi phí lãi vay Khi tỷ trọng nợ quá lớn, đồngnghĩa với rủi ro là rất cao, khi doanh nghiệp kinh doanh không thuận lợi (suy thoáikinh tế), cùng với đó có thể là việc gia tăng lãi suất (vay càng nhiều thì lãi suất càngcao) có thể sẽ dẫn tới những hệ quả rất nguy hiểm cho doanh nghiệp như áp lực trả

Trang 10

nợ và lãi vay (mà lợi nhuận thu được từ kinh doanh không đủ bù đắp) Trong trườnghợp này, EPS sẽ xuống rất thấp chứ không thể tăng lên như trong mệnh đề.

VÍ DỤ MINH HỌA: Đơn vị 1.000 VNĐ

Công ty CP ABC, có tổng tài sản là 2.000.000

Ta sẽ theo dõi sự thay đổi EPS của doanh nghiệp trong các điều kiện kinh tếsuy thoái, bình thường và phát triển với tỷ trọng nợ lần lượt là 0%, 20%, 40% và60%

Ở đây ta có một số giả định sau:

- Mệnh giá cổ phiếu là 10

- Toàn bộ cổ phiếu của công ty là cổ phiếu thường

- Lợi nhuận sau thuế được chia toàn bộ cho cổ động

- Lãi suất vay là 15%

- Thuế suất thuế Thu nhập Doanh nghiệp là 22%

Ta có bảng phân tích chi tiết như sau :

Ngày đăng: 06/09/2023, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w