1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài kiểm tra giữa kỳ môn quản lý chất lượng trong giáo dục

20 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài kiểm tra giữa kỳ môn quản lý chất lượng trong giáo dục
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý chất lượng trong giáo dục
Thể loại Bài kiểm tra giữa kỳ
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 97,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: BÀI GIỮA KÌ Đề bài: 1. Mô tả quá trình quản lý bằng chức năng 2. Mô tả quá trình quản lý bằng chất lượng 3. So sánh 2 quá trình trên 4. Bình luận Bài làm 1.Mô tả quá trình quản lý bằng chức năng 1. 1. Quản lý và các khái niệm liên quan đến vấn đề quản lý 1.1.1. Quản lý Quản lý xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất của con người, là công việc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, có tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội. Song chỉ những năm gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và QL mới được coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa. Bất kì một tổ chức, một tập thể nào cũng đều có yếu tố QL trong đó và điều đó quyết định tới hiệu quả hoạt động của tổ chức theo mục tiêu đề ra. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về QL tùy theo quan điểm và cách tiếp cận. Có người cho rằng QL là sự chỉ huy, lãnh đạo, sự cai quản, sự điều khiển, điều chỉnh… Tuy nhiên có thể nêu lên một số quan điểm có tính chất cốt lõi của một số tác giả như sau: K.Marx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” 25. Như vậy bản chất của QL là một hoạt động lao động có tính tất yếu, vô cùng quan trọng trong quá trình lao động, phát triển của loài người. Henry Fayol (1841 – 1925) nhấn mạnh: QL là một hệ thống phát huy tác dụng có tính chất độc lập không thể thay thế. Theo ông: “quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” 24, tr.17 Tác giả H. Koontz cũng nhấn mạnh: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” 22, tr.33.

Trang 1

PHẦN I: BÀI GIỮA KÌ

Đề bài:

1 Mô tả quá trình quản lý bằng chức năng

2 Mô tả quá trình quản lý bằng chất lượng

3 So sánh 2 quá trình trên

4 Bình luận

Bài làm

1.Mô tả quá trình quản lý bằng chức năng

1 1 Quản lý và các khái niệm liên quan đến vấn đề quản lý

1.1.1 Quản lý

Quản lý xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất của con người, là công việc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống

xã hội, có tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội Song chỉ những năm gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và QL mới được coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa Bất kì một tổ chức, một tập thể nào cũng đều có yếu tố QL trong đó và điều đó quyết định tới hiệu quả hoạt động của tổ chức theo mục tiêu đề ra

Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về QL tùy theo quan điểm và cách tiếp cận Có người cho rằng QL là sự chỉ huy, lãnh đạo, sự cai quản, sự điều khiển, điều chỉnh… Tuy nhiên có thể nêu lên một số quan điểm có tính chất cốt lõi của một số tác giả như sau:

K.Marx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [25].

Trang 2

Như vậy bản chất của QL là một hoạt động lao động có tính tất yếu,

vô cùng quan trọng trong quá trình lao động, phát triển của loài người

Henry Fayol (1841 – 1925) nhấn mạnh: QL là một hệ thống phát huy

tác dụng có tính chất độc lập không thể thay thế Theo ông: “quản lý là lập

kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [24, tr.17]

Tác giả H Koontz cũng nhấn mạnh: “Quản lý là một hoạt động thiết

yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22, tr.33].

Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học QL và thể hiện nhiều quan điểm về vấn đề này như sau:

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là sự tác động có

mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước” [27, tr.33].

Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý với tư cách là một hệ thống

xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng các phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và cho từng thành tố của hệ” [23, tr.28].

Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một

quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [19, tr.17]

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hoạt

động quản lý là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”

[10, tr.1]

Còn tác giả Đặng Quốc Bảo thì khẳng định : Bản chất của hoạt động

QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới”.

Trang 3

Quản lý = Quản + Lý

Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định

- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển

Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren

Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển

Theo từ điển tiếng việt thì QL là hoạt động của con người tác động

vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung

Từ rất nhiều quan điểm khác nhau nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái quát về QL như sau: QL là sự tác động, chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, nhằm đạt được mục đích đề ra Sự tác động của QL bằng cách nào đó để người bị QL luôn tự giác, phấn khởi đem hết năng lực, trí tuệ của mình tạo nên lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cả xã hội Khái niệm QL bao hàm những khía cạnh sau:

Đối tượng tác động của QL là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định, tồn tại trong không gian, thời gian cụ thể

Hệ thống QL gồm hai phân hệ: Chủ thể QL và khách thể QL, giữa chúng có

sự tác động tương hỗ, biện chứng với nhau

QL bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định Tác động quản lí thường mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều phương pháp khác nhau

QL là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật khách quan Đó là các hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định đúng quy luật và có hiệu quả, nhưng cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định, hướng đến mục tiêu

QL xét đến cùng, bao giờ cũng là QL con người Mục tiêu cuối cùng của QL là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Người QL tựu chung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ

Trang 4

giữa con người với nhau vô cùng phức tạp, không chỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn là mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác

Như vậy QL thể hiện rõ bản chất khoa học ở chỗ: hoạt động này luôn

có tính tổ chức, dựa trên những quy luật, nguyên tắc và phương pháp hoạt động nhất định Đồng thời hoạt động QL cũng chứa đựng sự sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt trong việc xử lí tình huống với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, để đạt được mục tiêu đề ra Điều này cho thấy QL cũng có tính nghệ thuật, đòi hỏi người QL phải không ngừng học tập, trau dồi, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện các kĩ năng cần thiết

Nếu mổ xẻ khái niệm QL ta cần phải thấy được đầy đủ các thành tố sau đây:

Chủ thể quản lý: là một cá nhân, một nhóm người hay tổ chức tạo ra những

tác động quản lý Nó trả lời câu hỏi: ai quản lý ?

Khách thể quản lý: là đối tượng tiếp nhận các tác động quản lý Khách thể

quản lý có thể là người (trả lời câu hỏi: quản lý ai?), là vật (trả lời câu hỏi: quản lý cái gì?) hoặc sự việc (trả lời câu hỏi: quản lý việc gì?)

Mục tiêu quản lý là quỹ đạo đặt ra cho các đối tượng và chủ thể, chính mục

tiêu là căn cứ cho chủ thể tạo ra các tác động quản lý

Nói một cách tổng quát QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung

1.1.2 Các chức năng cơ bản của quản lý

Chức năng của quản lí là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của chủ thể QL lên đối tượng QL Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể QL phải tiến hành trong quá trình QL Có thể hiểu chức năng QL là một nội dung cơ bản trong quá trình QL, là nhiệm vụ trọng tâm của người

QL Nói tới các chức năng chủ yếu của QL, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức năng sau:

* Kế hoạch hoá: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng QL Kế

hoạch hoá bao gồm việc XD mục tiêu, chương trình hành động và quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một

hệ thống QL để đạt được mục tiêu Kế hoạch hoá giúp nhà QL có cái nhìn

Trang 5

tổng thể, toàn diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó với sự thay đổi Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra Không có kế hoạch sẽ không thể xác định được tổ chức hướng đúng hay chệch mục tiêu và không biết khi nào đạt được mục tiêu Do đó, kiểm tra trở thành vô căn cứ Nhà QL thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai, có thể điều chỉnh những quyết định trước đó, bảo đảm hướng vào mục tiêu đã định

* Tổ chức: Tổ chức là việc biến những ý tưởng trừu tượng của kế hoạch

thành hiện thực Xét về mặt chức năng QL, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động

QL thực hiện có hiệu quả Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người QL Họ cần thiết kế cơ cấu các bộ phận, sử dụng các nguồn nhân lực và vật lực sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức

* Chỉ đạo: Đây là quá trình sử dụng quyền lực QL để tác động đến đối

tượng bị QL một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào mục tiêu chung Chỉ đạo là chức năng thể hiện năng lực của người QL Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau việc lập kế hoạch và cơ cấu tổ chức đã hoàn tất, mà nó hoà quyện và ảnh hưởng đến hai chức năng kia

* Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình QL Mục

đích của KT nhằm bảo đảm các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời những sai lệch, tìm nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định KT là một quá trình bao gồm các bước: xây dựng các tiêu chuẩn; đo lường việc thực hiện; đánh giá các tiêu chuẩn so với các kế hoạch KT là “tai mắt” của QL, là việc làm bình thường, không được cản trở đối tượng thực hiện mục tiêu

Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch Thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, nó tạo nên mối quan hệ giữa các

bộ phận trong tổ chức Nó giúp truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi hai chiều trong một tổ chức, giúp người QL thực hiện các chức năng của mình nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

Trang 6

1.1.3 Các nguyên tắc quản lý

Nguyên tắc QL là một hệ thống các qui tắc mang tính chỉ đạo, những qui định, tiêu chuẩn, điều kiện đòi hỏi người QL phải tuân thủ mới mong đạt được mục tiêu đề ra Có nhiều lí thuyết về nguyên tắc QL, tuy nhiên các nhà

QL cần tập trung đảm bảo các nguyên tắc chủ yếu sau đây:

Nguyên tắc tập trung dân chủ: sự tập trung phải được thể hiện là tất

cả các hoạt động dù lớn hay nhỏ của một tổ chức đều phải hướng vào cơ quan quyền lực cao nhất Vì cơ quan này giữ vai trò hoạch định đường lối, chủ trương, xác định mục tiêu, xây dựng các chính sách, biện pháp để chỉ đạo các bộ phận của tổ chức thực hiện các hoạt động nhắm tới mục tiêu cao nhất của tổ chức Tính dân chủ trong một tập thể được thể hiện trong một tổ chức là mọi thành viên đều được quyền và có nghĩa vụ tham gia đóng góp trí tuệ của mình vào hoạt động của tổ chức Tất cả các thành viên trong tổ chức đều được tham gia ý kiến của mình vào các công việc trung, để đưa ra các quyết định có tính chất quan trọng của tập thể Mọi người đều được đóng góp trí tuệ để tham gia vào tất cả các chức năng của quá trình QL Đó là việc xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ máy, chỉ đạo thực hiện và KT - ĐG hoạt động của tổ chức Sự kết hợp giữa tập trung và dân chủ sẽ giúp thu được hiệu quả QL tích cực, vừa phát huy được sức mạnh quyền lực của cơ quan, lại vừa huy động được sức mạnh trí tuệ của các thành viên, để thực hiện thành công mục tiêu QL Có tập trung và dân chủ thì mới thúc đẩy được tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, khích lệ được đông đảo các thành viên cùng

nỗ lực tạo thành sức mạnh tổng thể cho tổ chức Tuy nhiên khi vận dụng nguyên tắc này đòi hỏi người QL phải linh hoạt, khéo léo điều chỉnh cho phù hợp để công việc đạt hiệu quả cao nhất Nếu quá coi trọng tính tập trung dễ dẫn đến quan liêu, cửa quyền, xa rời thực tế Ngược lại, nếu dân chủ quá trớn cũng làm mờ nhạt vai trò lãnh đạo của cơ quan quyền lực, dễ dẫn đến tình trạng lộn xộn, gây khó khăn cho người QL trong quá trình đạt tới mục tiêu chung Bởi vậy, trong tổ chức, người QL cần phải biết phối hợp hài hòa

sự tập trung và dân chủ sao cho vừa phát huy được trí tuệ của tập thể, vừa giữ đúng quan điểm lãnh đạo, không chệch hướng mục tiêu

Nguyên tắc kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể trong

tổ chức Mỗi thành viên trong một tổ chức đều có nhu cầu, nguyện vọng,

những đòi hỏi quyền lợi nhất định Chỉ khi nào lợi ích cá nhân được đáp ứng thì mới thúc đẩy được các thành viên nỗ lực đóng góp trí tuệ của mình cho công việc và lợi ích chung của tập thể Tuy nhiên, không thể quá coi trọng lợi ích cá nhân mà xem nhẹ hoặc bỏ qua lợi ích chung của tổ chức Điều đó

Trang 7

dễ dẫn đến thói cơ hội, ỉ lại, thiếu tinh thần trách nhiệm và như thế sẽ thật khó để đạt được mục tiêu chung Vì vậy người QL nên biết phối hợp hài hòa lợi ích riêng của các thành viên trong tổ chức với lợi ích chung của cả tập thể, sao cho trong lợi ích của tập thể có quyền lợi của cá nhân và mọi người đều thấy được quyền lợi của mình chính là phải đóng góp cho tổ chức

Nguyên tắc hiệu quả Tính hiệu quả thể hiện ở việc người QL tổ

chức và điều hành công việc sao cho những đầu tư về con người, thời gian, tài lực là ít nhất mà vẫn đạt được kết quả công việc như mong muốn, hoàn thành được mục tiêu đề ra Như vậy tính hiệu quả lao động của một tổ chức cho thấy tính khoa học, sự hợp lí của việc điều hành qua đó thể hiện năng lực, trình độ của người QL Chỉ khi đảm bảo được tính hiệu quả thì mới duy trì và phát triển được tổ chức, thực hiện được mục tiêu nhanh nhất

Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu Trong quá trình QL nếu chủ thể

QL không biết phân tích tình hình, tính chất quan trọng, cấp thiết của các nội dung công việc sẽ dẫn đến tình trạng dàn trải, ôm đồm, không trọng tâm, thiếu quyết đoán trong chỉ đạo, điều hành dẫn đến không hoàn thành công việc Bởi thế, người QL phải tùy giai đoạn, trạng thái, tình huống công việc

để phân tích và đưa ra quyết định chính xác, kịp thời trong những khâu then chốt, những vấn đề trọng tâm của công việc Có như vậy mới phân phối hợp

lí và phát huy được hiệu quả các nguồn lực

Nguyên tắc kiên định mục tiêu Kiên định theo mục tiêu đã đề ra sẽ

tạo cho người QL có sức mạnh tinh thần, đủ bản lĩnh để lãnh đạo tổ chức vượt qua được những khó khăn trong quá trình phát triển Trong thực tế không phải khi nào hoạt động của tổ chức cũng thuận lợi mà nhiều khi phải đối mặt với rất nhiều thách thức, khó khăn, những tác động trái chiều từ môi trường bên ngoài, thậm chí ngay cả bên trong tổ chức Nếu không kiên định, người QL dễ thiếu quyết đoán, nản trí, thất bại

Các nguyên tắc QL nêu trên tuy có tính chất độc lập nhưng lại có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau, là điều kiện và động lực thúc đẩy nhau Đảm bảo được đầy đủ các nguyên tắc này sẽ là người QL thành công

1.1.4 Các biện pháp quản lý

Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999) thì biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể, một công việc cụ thể nào đó

Trang 8

Biện pháp QL là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm giải quyết những vấn đề trong công tác QL, làm cho hệ

QL vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể đã đề ra, phù hợp với quy luật khách quan để nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đặt ra Trong biện pháp QL có sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và

khách thể QL Khi thực hiện biện pháp QL, người QL sử dụng các chức

năng, công cụ QL một cách phù hợp cho từng tình huống và đối tượng để đưa đối tượng, đơn vị mình QL đạt mục tiêu mà chủ thể mong muốn, đưa chất lượng QL lên một vị trí mới, tình trạng mới tốt hơn hiện tại

Trong thực tế, các biện pháp QL rất đa dạng và phải luôn được nhà

QL sử dụng linh hoạt, sáng tạo để xử lý các tình huống cụ thể trong một môi trường luôn biến đổi Điều đó đòi hỏi ở người QL phải có kiến thức sâu rộng, có kinh nghiệm để gắn kết những biện pháp với nhau, giải quyết những mâu thuẫn giữa các biện pháp, biết tiên liệu trước các hoàn cảnh, tình huống mà đối tượng QL đặt ra Có biện pháp đúng đắn sẽ giúp các tổ chức hạn chế được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi con người trong

tổ chức, tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của tổ chức Biện pháp QL cần được xây dựng trên cơ sở vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát hoá thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng QL nhất định

Như vậy, có thể hiểu biện pháp QL là tổng thể cách thức tác động của chủ thể QL lên đối tượng QL trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Có thể dựa vào sự tác động của chủ thể đến đối tượng quản lý, để chia biện pháp QL thành các nhóm cơ bản như sau đây:

- Biện pháp thuyết phục: là cách tác động vào nhận thức của con

người bằng lý lẽ làm cho con người nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của QL, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu đó Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người, nhà QL chỉ tác động đến đối tượng bằng lời lẽ của mình để thay đổi nhận thức của đối tượng

- Biện pháp tổ chức - hành chính: là cách tác động trực tiếp của hệ

QL đến hệ bị QL trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định Biện pháp này dựa vào quyền uy tổ chức của người QL để bắt buộc người dưới quyền phải thực hiện mệnh lệnh quản lý,

đó là biện pháp mang tính mệnh lệnh và tính kế hoạch, là quan hệ chỉ huy

Trang 9

-thực hiện Đây là biện pháp cưỡng bức đơn phương, một bên ra quyết định, một bên phục tùng, mức độ cưỡng bức tuỳ theo từng trường hợp, tính chất của bộ máy Biện pháp này thể hiện sức mạnh của tổ chức, xác lập trật tự, kỷ cương của bộ máy, giúp cho các quyết định QL được thi hành nhanh chóng

và chính xác, tăng hiệu quả hoạt động QL

- Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng

QL thông qua các lợi ích kinh tế, tạo động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động Hay nói cách khác, biện pháp kinh tế là sự tác động một cách gián tiếp lên đối tượng QL không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng cơ chế kích thích, con đường tự nguyện, tạo ra sự quan tâm nhất định về lợi ích vật chất để người thực hiện tự mình điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ, cho đối tượng lựa chọn theo khả năng của họ hoặc tạo ra những lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể phù hợp với lợi ích chung Biện pháp này

có ưu điểm không hạn chế về quan hệ tổ chức và không phụ thuộc về mặt hành chính, đồng thời biện pháp này tăng cường được tính chủ động cho cá nhân và tập thể, giảm bớt được sự kiểm tra đôn đốc vụn vặt chi li của nhà

QL

- Biện pháp tâm lý – giáo dục: (còn được gọi là biện pháp tuyên

truyền giáo dục) là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL thông qua đời sống tâm lý cá nhân, các hệ tư tưởng, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ Biện pháp này dựa trên cơ sở các chức năng, quy luật tâm lý của con người và dựa vào uy tín của người QL để lôi cuốn các thành viên trong tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc Biện pháp tâm lý – giáo dục có ý nghĩa to lớn trong QL vì đối tượng QL trước hết là con người Do vậy khi tác động tới con người trước hết phải sử dụng các tác động tâm lý nhằm khai thác tiềm năng của con người, kích thích ý thức tự giác, sự say

mê của con người chủ động sáng tạo trong hoạt động của mình Biện pháp tâm lý – giáo dục không tồn tại tự thân mà thường phối hợp với các biện pháp khác, nhưng hướng chủ yếu là tác động vào tâm lý con người, vào lòng

tự trọng và lương tâm nghề nghiệp của người lao động

Trên đây là các biện pháp đặc thù của QL, thực tiễn QL cho thấy không có biện pháp nào là vạn năng, biện pháp nào cũng có mặt ưu điểm, mặt nhược điểm Bởi vậy, chủ thể QL cần biết phối hợp các biện pháp một cách linh hoạt nhằm khai thác được những mặt mạnh, hạn chế được những nhược điểm của từng biện pháp Do đó khi vận dụng các biện pháp, người

QL phải biết sử dụng đúng người đúng việc, tuỳ hoàn cảnh điều kiện, thời

Trang 10

gian cụ thể để lựa chọn các biện pháp phù hợp, giúp cho đối tượng QL thực hiện nhiệm vụ một cách tự giác và tích cực

Vận dụng các biện pháp có thành công hay không phụ thuộc vào tài năng của nhà QL, bản thân các biện pháp không phải là cái quyết định thành công của các nhà QL, mà điều đó phụ thuộc vào nghệ thuật sử dụng các biện pháp QL một cách sáng tạo của họ

2.Mô tả quá trình quản lý chất lượng

2.1 Quản lý chất lượng

A.G.Robertson, một chuyên gia về chất lượng người Anh cho rằng

“Quản lý chất lượng sản phẩm được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng” [14, tr.15]

A.V.Feigenbaum, người đầu tiên đưa ra thuật ngữ TQM, cho rằng

“Quản lí chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó”[14, tr.15]

Theo GOST 1567, “Quản lí chất lượng sản phẩm là xây dựng đảm bảo duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như những tác động hướng tới đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm”[14, tr.15]

Có hàng loạt định nghĩa khác nhau về quản lí chất lượng Song, cho dù đề cập đến khái niệm “quản lí chất lượng” từ góc độ nào, các nhà nghiên cứu cũng thống nhất ở một điểm chung, đó là:

- Thiết lập chuẩn

- Đối chiếu thực trạng so với chuẩn

- Có các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn

Ngày đăng: 19/05/2023, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w