NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CHIỀU CAO CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC NGỰ BÌNH THÀNH PHỐ HUẾ KHOÁ 1998 - 2003 Phạm Văn Lình, Trần Thị Lợi, Trần Đức Lai Trường Đại học Y khoa, Đại học Huế ĐẶ
Trang 1NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CHIỀU CAO CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC NGỰ BÌNH THÀNH PHỐ HUẾ KHOÁ 1998 - 2003
Phạm Văn Lình, Trần Thị Lợi, Trần Đức Lai
Trường Đại học Y khoa, Đại học Huế
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần lớn các thông tin về sự tăng trưởng thể lực và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em thường được thực hiện bằng nghiên cứu cắt ngang Tuy nhiên, loại nghiên cứu này không thể theo dõi được tình trạng phát triển thể lực - dinh dưỡng ở cộng đồng, không cung cấp được những thông tin về sự phát triển thể lực của từng cá thể, thời điểm bắt đầu và tốc độ tăng trưởng, những vấn đề liên quan đến phát triển thể lực và dinh dưỡng của con người Các thông tin này chỉ
có thể phát hiện được qua nghiên cứu dọc [7] Các dữ liệu theo dõi dọc còn giúp
ta chứng minh được động lực, bản chất tuần tự của sự tăng trưởng [8]
Để góp phần tìm hiểu thêm tình trạng phát triển chiều cao ở trẻ em, chúng
tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sự phát triển chiều cao của học sinh Trường tiểu học Ngự Bình thành phố Huế khoá 1998-2003” nhằm mục tiêu: đánh giá sự
phát triển chiều cao của học sinh qua 5 năm theo dõi
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 2Gồm 156 học sinh của khoá 1998-2002 học tại Trường tiểu học Ngự Bình thành phố Huế (TTHNB), với tiêu chuẩn được chọn như sau:
- Các học sinh tuổi từ 6 đến 10 tuổi
- Được theo dõi chiều cao liên tục trong 5 năm
- Không mắc các dị tật bẩm sinh
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu theo dõi trong 5 năm từ năm 1998
đến 2002
2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu: Đầu vào của học sinh khóa 1998 - 2003 có 156
em Sau khi chọn theo tiêu chuẩn trên, số học sinh được đưa vào mẫu nghiên cứu
là 120 em
2.3 Vật liệu nghiên cứu: bộ thước đo chiều cao của Bộ môn Giải phẫu
học Trường Đại học Y khoa Huế có độ chia tới mm với sai số là 1cm, các dụng
cụ này đã được chuẩn hóa và được Tiểu ban nhân trắc của chương trình điều tra
cơ bản hằng số sinh học người Việt Nam thông qua năm 1997 Sử dụng bộ thước
đo này trong suốt 5 năm
2.4 Phương thức tiến hành
2.4.1 Cách tính tuổi: tuổi của trẻ được tính quy về tháng hay năm gần
nhất được dùng trong các tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới và ở nước ta [1], [4], [12]
Trang 3Đo chiều cao đứng theo kỹ thuật nhân trắc học hiện hành [2], [12]: Khi
đo, trẻ không mang giày dép, đứng chân không, quay lưng về thước đo Chiều cao đứng được đo từ mặt đất lên đến đỉnh đầu, đối tượng được đo ở trong tư thế đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng và cho 4 điểm chẩm, lưng, mông và gót chạm vào thước đo, đuôi mắt và lỗ tai ngoài nằm trên một đường thẳng nằm ngang Đọc kết quả, ghi số centimet và sử dụng một số lẻ
2.4.3 Xác định các biến số
- Tuổi và giới của trẻ
- Sự tăng trưởng chiều cao: chiều cao được đo để đánh giá tốc độ tăng
trưởng ở các giai đoạn khác nhau qua 5 năm theo dõi
3 Xử lý số liệu: sử dụng phần mềm EPI INFO 2000 và phần mềm SPSS
9.0, với các phương pháp thống kê y học trong xử lý và phân tích kết quả
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1 Sự phát triển chiều cao đứng của học sinh khoá 1998-2002 trường tiểu học Ngự Bình thành phố Huế
Bảng 1: Sự phát triển chiều cao đứng theo tuổi của học sinh
Số lượng học sinh
Tuổi (năm)
Chiều cao (cm)
Trang 4 X SD
111,08
4,74
116,02
4,30
120,31
4,20
125,3
5
4,30
129,6
7
4,89
Trang 5Ở bảng 1 thể hiện:
- Chiều cao đứng trung bình của học sinh TTHNB tăng đều qua 5 năm, bình quân tăng 4,7cm trong 1 năm Theo Martin (Đức) [11], Viện dinh dưỡng Việt Nam [6] cho rằng sự phát triển về chiều cao của trẻ em có thể chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn lớn đều cho đến lúc dậy thì
- Giai đoạn sức lớn bị kìm hãm hay chậm lại từ tuổi dậy thì trở đi
Theo Nguyễn Quang Quyền [5], quy luật các giai đoạn của sức lớn về chiều cao có thể chia thành hai thời kỳ trong tuổi học đường (đến 17 tuổi):
- Giai đoạn lớn đều: từ 1 đến 10 tuổi ở nữ và đến 12 tuổi ở nam
- Giai đoạn thứ hai gồm hai thời kỳ:
+ Thời kỳ trước tuổi dậy thì (từ 11 đến 13 tuổi đối với nữ, 13 đến 15 tuổi đối với nam), đặc điểm của thời kỳ này là sức lớn vọt lên so với trước (mỗi năm tăng trung bình 7cm)
+ Thời kỳ dậy thì (từ 14 đến 15 tuổi đối với nữ, 15 đến 16 tuổi đối với nam), đặc điểm của thời kỳ này là sức lớn như bị kìm hãm lại (mỗi năm tăng trung bình khoảng 1cm)
Như vậy, sự phát triển chiều cao của nhóm nghiên cứu từ 6 đến 10 tuổi của học sinh TTHNB nằm trong giai đoạn lớn đều thì phù hợp với quy luật trên
Trang 6- Số lượng học sinh có chiều cao dưới ngưỡng trung bình giảm dần theo tuổi, điều năy chứng tỏ đê có sự gia tăng nhanh hơn về chiều cao xảy ra ở câc học sinh bị còi Kết quả năy phù hợp với một số nghiín cứu khâc [9],[10]
Biểu đồ 1: Chiều cao đứng trung bình theo tuổi của nam vă nữ sinh
100 105 110 115 120 125 130
Tuổi (năm)
Nam Nữ
Ở biểu đồ 1 cho thấy:
- Từ 6 đến 10 tuổi, chiều cao đứng trung bình của nam cao hơn nữ, nhưng
sự chính lệch về độ cao chưa có ý nghĩa (P>0,05) Kết quả năy tương tự với nghiín cứu dọc của Lí Thị Hợp ở Hă Nội [9]
- Chiều cao đứng trung bình của nam mỗi năm tăng bình quđn 4,6cm; tương đương với nghiín cứu của Thẩm Hoăng Điệp [3], nghiín cứu của Lí Thị Hợp tăng bình quđn 5,2cm [9]
Trang 7- Chiều cao đứng của nữ tăng bình quđn mỗi năm lă 4,8cm, nghiín cứu của Thẩm Hoăng Điệp lă 4,0cm [3], nghiín cứu của Lí Thị Hợp lă 4,95cm [9]
2 Tốc độ phât triển chiều cao:
Biểu đồ 2: Tốc độ phât triển chiều cao đứng theo tuổi của nam vă nữ
0 1 2 3 4 5 6
nam nữ
Biểu đồ 2 cho thấy:
- Tốc độ phât triển chiều cao của nữ cao hơn nam ở câc giai đoạn từ 6 qua
7 tuổi (p<0,05), từ 8 đến 10 tuổi cao hơn nhưng chưa có ý nghĩa (p>0,05); thấp hơn ở giai đoạn từ 7 qua 8 tuổi (p<0,05)
- Tốc độ cao của cả hai giới giữa câc giai đoạn tuổi có sự chính lệch nhưng không lớn; ở nữ giai đoạn 9, 10 tuổi tốc độ tăng chiều cao tăng lín trong khi nam lại giảm xuống
So với tốc độ cao của nam vă nữ trong nghiín cứu dọc của Lí Thị Hợp [9], tốc độ cao của nhóm nghiín cứu chúng tôi thấp hơn ở cả hai giới; ngoại trừ
Trang 8giai đoạn 9 sang 10 tuổi, tốc độ phát triển chiều cao của nữ trong nghiên cứu chúng tôi cao hơn (p<0,05)
Tốc độ phát triển của nam và nữ trong giai đoạn từ 7 đến 10 tuổi tương tự với nghiên cứu dọc của Thẩm Hoàng Điệp [3]
Trang 93 Sự thay đổi Z - score của chiều cao theo tuổi (HAZ)
Biểu đồ 3 cho thấy:
- HAZ của nữ cao hơn nam ở cả năm độ tuổi nhưng chưa có ý nghĩa (p>0,05), kết quả năy tương tự với tâc giả Lí Thị Hợp [9]
- Z- score của cả hai giới tăng đều qua câc năm, nhưng tốc độ tăng của nam nhanh hơn của nữ ở độ tuổi từ 7 đến 9
- Giâ trị Z-score cao nhất của nam lă -0,82 vă nữ lă -0,71; giâ trị thấp nhất của nam lă -1,08 vă của nữ lă -0,85
Biểu đồ 3: Sự thay đổi Z-score của HAZ theo tuổi
KẾT LUẬN
Kết quả nghiín cứu cho thấy rằng:
-1.2
-1
-0.8
-0.6
-0.4
-0.2
0
T uổ i (năm)
N ữ
Trang 10- Sự phát triển chiều cao đứng tăng dần theo tuổi, nam cao tương đương
nữ
- Có sự tăng trưởng bù về chiều cao ở học sinh còi
- Tốc độ phát triển chiều cao của nữ sinh hơn nam sinh ở giai đoạn 6-7 tuổi, thấp hơn ở giai đoạn 7-8 tuổi, tương đương ở giai đoạn 8-10 tuổi
- Giá trị Z-score của HAZ tương đương ở hai giới và tăng đều theo tuổi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế Hướng dẫn đánh giá tình hình dinh dưỡng và thực phẩm ở một cộng đồng, NXB Y học, Hà Nội, (1998)13, 33, 68 - 70
2 Dự án Việt Nam - Hà Lan Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội (2000)
3 Thẩm Hoàng Điệp Bàn về sự phát triển chiều cao của một nhóm học sinh phổ thông sau 10 năm theo dõi liên tục, Tập san hình thái học
(1),(1991) 27 - 31
4 Hà Huy Khôi Phương pháp dịch tể học dinh dưỡng, NXB Y học, Hà
Nội (1997)
5 Nguyễn Quang Quyền Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt nam, NXB Y học, Hà Nội (1974)
6 Viện Dinh Dưỡng Hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ, NXB Y học, Hà Nội
(2001)15 -16
Trang 117 Gibson R.S Anthropometric assessment of growth, Principle of
nutritional assessment, Oxford University Press, New York (1990)163 - 86
8 Gracey M Nutrition and physical growth, Anthropometric
assessment of nutrinal status, Wiley-Liss Inc Publication, Newyork (1991) 29 - 49
9 Le Thi Hop Growth and development of Vietnamese children from birth to 17 years old in Hanoi (A longitudinal study from 1981 to
1999), Dissertation of Postgraduate Program, University of Indonesia (1999)
10 Linda S Adair Filipino children exhibit catch - up growth from age
2 to 12 years, J Nutr, 129, (1999)1140 -1148
11 Martin R Lehrbuch der anthrropologie, Jena Verlag, (1925) 312 -
313
12 WHO Measuring change in nutrition status, Geneva (1983)
TÓM TẮT
Nghiên cứu theo dõi sự phát triển chiều cao của 120 học sinh Trường tiểu học Ngự Bình Huế khóa 1998 - 2003 từ 6 đến 10 tuổi tiến hành từ năm 1998 đến
2002 Kết quả như sau:
- Sự phát triển chiều cao đứng tăng dần theo tuổi, nam cao tương đương
nữ
- Có sự tăng trưởng bù về chiều cao ở học sinh còi
Trang 12- Tốc độ phát triển chiều cao của nữ sinh hơn nam sinh ở giai đoạn 6 - 7 tuổi, thấp hơn ở giai đoạn 7 - 8 tuổi, tương đương ở giai đoạn 8 - 10 tuổi
- Giá trị Z - score của HAZ tương đương ở hai giới và tăng đều theo tuổi
INVESTIGATION ON THE GROWTH OF THE HEIGHT
OF THE CHILDREN ATTENDING THE COURSE 1988-2002
AT NGU BINH PRIMARY HIGH SCHOOL IN HUE CITY
Pham Van Linh, Tran Thi Loi, Tran Duc Lai
College of Medicine, Hue University
SUMMARY
A longitudinal study on the growth of the height of 120 pupils of Ngu Binh
Primary School aged 6 to 10 was conducted from 1998 t0 2002 The study showed that:
- The older the children grew, the taller they became The height of the schoolboys and the schoolgirls was the same
- The increase in the height of the stunted pupils was more rapid
- The growth rate was noticed to be more rapid in he schoolgirls than in the schoolboys aged 6-7, slower at the ages 0f 7-8, and equal at the ages 8-10
Trang 13- The Z score value of HAZ was equal in both sexes, which increased in proportion to age