Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex (pjico) 1 Công tác khai thác bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuy[.]
Trang 1Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex (pjico)
1 Công tác khai thác bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO.
Hoạt động khai thác là một khâu quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảohiểm nói chung và lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyểnbằng đường biển nói riêng Tuy còn nhiều hạn chế so với các công ty bảo hiểm nướcngoài và một số doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam rất lớn mạnh như Bảo Việt, BảoMinh nhưng công ty bảo hiểm PJICO trong thời gian qua đã nỗ lực cố gắng vượt quanhững khó khăn trong điều kiện hầu hết các mối quan hệ với khách hàng mới đượcthiết lập và còn ít ngoài sự ủng hộ nhiệt tình của các khách hàng trong cổ đông Cáckhách hàng lớn và lâu năm còn chưa có hoặc nếu có thì chỉ nhận được bảo hiểm phầnnào trong tổng giá trị hàng hoá trong ngoại thương Việc xây dựng và phát triển mộtthị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu ổn định, lâu dài chính là mục tiêu đượcđặt ra trong hoạt động khai thác của PJICO Hoạt động khai thác phải có kế hoạch,chiến lược hết sức cụ thể và chặt chẽ Nó phải được dựa trên cơ sở các số liệu, chỉ tiêu
về kim ngạch xuất nhập khẩu của các mặt hàng cũng như kế hoạch xuất nhập khẩu củatừng đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá Đối với khách hàng cũ, công ty luônluôn phải đảm bảo giữ uy tín, thuyết phục tái tục hợp đồng hướng dẫn mua bảo hiểmđúng thời hạn và bảo hiểm hàng nhập theo gía FOB, CF hay kim ngạch hàng xuất theogiá CIF Các khách hàng cũ mà có ít rủi ro xảy ra tổn thất, tăng cường các biện pháp
đề phòng và hạn chế tổn thất thì PJICO có thể điều chỉnh lại tỷ lệ phí cho phù hợpnhằm thiết lập mối quan hệ lâu dài với họ Đối với khách hàng tiềm năng PJICO sẽ cócác phương pháp chào phí riêng dưới nhiều hình thức nhằm khuyến khích, thu hút họtham gia bảo hiểm tại công ty Ngoài ra chất lượng phục vụ khách hàng và chất lượngquản lý cũng được PJICO không ngừng nâng cao làm tăng thêm uy tín của mình vớithị trường bảo hiểm trong nước Công tác nghiên cứu thị trường, mở rộng và phát triểnđại lý, cộng tác viên cũng được chú trọng nhằm nắm bắt đựơc các thông tin từ kháchhàng, từ thị trường, từ đó có kế hoạch khai thác một cách hiệu quả và triệt để
Quy trình khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của PJICO - ban hànhkèm theo quyết định của Tổng giám đốc PJICO số 113/BH-HH/95 ngày 15/07/1995bao gồm 2 khâu cơ bản
- Một là : Quá trình khai thác bảo hiểm
- Hai là : Quá trình cấp đơn bảo hiểm
Trang 21.1 Quá trình khai thác bảo hiểm: Quá trình khai thác được chia ra làm 2 bước:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch thu phí và ký kết hợp đồng với khách hàng:Trước hết là phải nắm vững kim ngạch các mặt hàng và số lượng hàng hoá nhập khẩuhàng năm từ các nguồn vốn xuất nhập khẩu của các đơn vị xuất nhập khẩu (nguồn vốntrung ương, địa phương, viện trợ, tự có, vay nợ ) để xây dựng kế hoạch thu phí trongnăm, cụ thể là đầu năm thông qua các đơn vị xuất nhập khẩu để nắm số liệu kế hoạchxuất nhập khẩu của từng đơn vị Trên cơ sở đó xác định số kim ngạch sẽ qua bảo hiểm
để xây dựng kế hoach thu phí bảo hiểm trong năm đó của từng kkhách hàng theo mặthàng Trong số kim ngạch xuất khẩu của khách hàng cần tách riêng kim ngạch củatừng khu vực theo giá CIF, CF và FOB để lập kế hoạch thu phí sát với thực tế Sau đóchuẩn bị hợp đồng bảo hiểm để ký kết với khách hàng hàng năm
Bước 2: Theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch: Từng quý có số liệu hàngnhập về của từng khách hàng qua đó đối chiếu kim ngạch qua bảo hiểm để nắm đượckhối lượng hàng về thực tế nhằm kịp thời điều chỉnh kế hoạch thu phí đầu năm đã xâydựng Đôn đốc khách hàng mua bảo hiểm theo đúng thời hạn đã quy định và mua bảohiểm hết phần kim ngạch hàng nhập về theo giá FOB và CF hay kim ngạch hàng xuất
đi theo giá CIF Thường xuyên quan hệ với khách hàng để khai thác những nguồnhàng nhập hoặc kế hoạch nhập bổ xung hoặc ngoài kế hoạch nhằm tranh thủ bảo hiểm
và chuẩn bị tài liệu để chào phí Phải đi sâu tìm hiểu rõ tính chất và quy cách đóng góithích hợp của các lô hàng xuất nhập khẩu để áp dụng các điều kiện bảo hiểm thích hợptheo tập quán và quy định, Nắm vững các mặt hàng có tỷ trọng lớn trong kim ngạchnhập qua đó phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đối với số phí thu Thu thập đầy đủ
và nghiên cứu các thông tin về bảo hiểm như các quy tắc, tỷ lệ phí, điều khoản bảohiểm của thị trường nước ngoài để khi cần có thể đề nghị các văn bản của ta hoặc giảithích và sử dụng chính những điều khoản đó khi có yêu cầu của khách hàng Kết hợpvới bộ phận bồi thường để tính được kết quả bảo hiểm đối với từng khách hàng theonăm nghiệp vụ để kịp thời đề xuất ý kiến điều chỉnh tỷ lệ phí cho thích hợp nhằm đápứng yêu cầu của công tác kinh doanh và phù hợp với từng đối tượng bảo hiểm Cuốinăm chuẩn bị đầy đủ số liệu để họp khách hàng thông báo tình hình tham gia bảohiểm, nêu những ưu nhược điểm trong năm qua và những vấn đề cần khắc phục chonăm tới của từng khách hàng nhằm hạn chế được nhầm lẫn, sai sót và tổn thất chohàng hoá, qua đó giúp PJICO làm tốt công tác giám định, đề phòng và hạn chế tổnthất, bồi thường đối với hàng hoá được bảo hiểm và đòi người thứ ba Phối hợp chặtchẽ với các phòng liên quan như Tài vụ, Tái bảo hiểm, phối hợp để giải quyết kịp thời
Trang 3các vướng mắc trong khâu thu phí bảo hiểm, phân tán rủi ro liên quan đến nghiệp vụgốc và điều chỉnh kế hoạch thu phí bảo hiểm trong năm đó Xây dựng văn bản, thể lệgiám định bảo hiểm, khuyến mại và bồi thường tổn thất.
1.2 Quá trình cấp đơn bảo hiểm: quá trình cấp đơn bảo hiểm ở PJICO có sự khác
nhau đối với hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu
1.2.1 Đối với hàng hoá nhập khẩu, bao gồm 4 bước sau:
Bước 1 : Kiểm tra chứng từ liên quan.
Khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm của khách hàng (giấy này làm theo hìnhthức một đơn bảo hiểm) phải được kiểm tra xem chứng từ có hợp lệ không? Một giấyyêu cầu bảo hiểm được coi là hợp lệ phải có đủ những yêu cầu sau:
Trên giấy yêu cầu phải kê khai rõ ràng tất cả các đề mục đã in sẵn trên đơn.Trong trường hợp khai thiếu những đề mục như: số B/L, ký mã hiệu, trọng lượng, sốkiện (do chưa được thông báo đầy đủ) thì vẫn chấp nhận cấp đơn nhưng yêu cầu kháchhàng phải bổ sung ngay khi nhận được thông báo
Nếu thiếu một trong những đề mục cơ bản như: số tiền bảo hiểm (trị giá hàngFOB hoặc C&F), tên tàu vận chuyển, ngày khởi hành, cảng đi và điều kiện bảo hiểmthì giấy yêu cầu đó coi như chưa hợp lệ cần trả lại cho khách hàng đồng thời giải thích
rõ yêu cầu của bảo hiểm để họ kê khai đầy đủ mới cấp đơn bảo hiểm
Phải xem xét kỹ tính chất và phương thức xếp dỡ của từng mặt hàng có phù hợpvới điều kiện bảo hiểm mà khách hàng lựa chọn không để giải thích và yêu cầu kháchhàng điều chỉnh lại cho thích hợp với mặt hàng đó Trên giấy yêu cầu bảo hiểm phảiđòi hỏi khách hàng trả lời được các nội dung yêu cầu của phòng Kế toán- tài vụ quyđịnh nhằm giúp phòng làm đủ các thủ tục thu phí một cách nhanh chóng
Lưu ý: Giấy yêu cầu bảo hiểm phải có đẩy đủ tên, dấu và chữ ký của khách hàng.Giấy chứng nhận bảo hiểm phải đánh máy đủ 08 bản cần xem kỹ tên tàu vận chuyển(nếu là tàu vận chuyển), phải yêu cầu khách hàng kê khai quốc tịch tàu, tuổi tàu Nếu
là tàu già phải thu thêm phí như đã quy định trong biểu phí bảo hiểm Trường hợp trịgiá hàng bảo hiểm cao trên mức quy định phân cấp của công ty, trước khi cấp đơn cầnthông báo và trao đổi ý kiến với phòng tái bảo hiểm để có kế hoạch phân tán rủi ro
Bước 2 : Vào sổ cấp đơn, lấy số đơn và xếp chuyến tàu:
Sau khi kiểm tra xong các chứng từ liên quan nếu hợp lệ thì vào sổ cấp đơn theotừng danh mục ghi trong sổ Sổ đơn bảo hiểm lấy theo sổ thứ tự trong sổ cấp đơn Xếpchuyến tàu theo số thứ tự trong sổ đăng ký số tàu
Trang 4Lưu ý: Thông thường luồng Châu á đi trong khoảng 20-30 ngày làm một chuyến.
Luồng Châu âu tàu đi trong khoảng 2-4 tháng làm 1 chuyến
Số đơn bảo hiểm và số chuyến tàu ghi rõ trong đơn, số chuyến ghi trước và sốđơn bảo hiểm ghi sau
Ví dụ: Số đơn bảo hiểm là 100, số tàu là 8 thì ghi: 8/100
Bước ba: Tính phí bảo hiểm sửa đổi và huỷ đơn bảo hiểm.
Trước khi tính phí bảo hiểm phải xác định số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm được tính theo công thức:
1-RTrong đó: C- là giá trị hàng hoá theo giá FOB
F- là cước phí vận chuyển
R- là tỷ lệ phí bảo hiểm
Trong trường hợp khách hàng nhập theo giá FOB, nếu họ không xác định rõđược phí vận tải thì bảo hiểm ước tính như sau: đối với luồng Châu á cước phí vận tảiF=5% giá FOB và luồng Châu âu là F=10% giá FOB R áp dụng cho từng mặt hàngtuỳ theo từng điều kiện bảo hiểm R=R1+R2 trong đó R1 bao gồm tỷ lệ phí chính + tỷ lệphí theo luồng R2 là tỷ lệ phí phụ - tỷ lệ phí phụ được cộng thêm khi khách hàng muathêm các điều kiện bảo hiểm phụ như bảo hiểm chiến tranh, bảo hiểm đình công, thiếunguyên kiện, thiếu hụt trọng lượng
Lưu ý: Mỗi một mặt hàng có tỷ lệ phí bảo hiểm khác nhau tuỳ theo từng điềukiện bảo hiểm Do đó, khi tính phí phải xem xét kỹ tính chất của từng mặt hàng, điềukiện bảo hiểm mà khách hàng lựa chọn có phù hợp với quy định của bảo hiểm đối vớimặt hàng đó không, trên cơ sở đó để xác định tỷ lệ phí cho chính xác Phí bảo hiểmđược tính trên cơ sở số tiền bảo hiểm và tỷ lệ phí bảo hiểm: I = CIF * R
Trong trường tàu già khi tính phí bảo hiểm sẽ tính như sau:
1-R
I = CIF * R/R=R1+R2
R/=R1+R2+R3Trong đó R3 là tỷ lệ phí tàu già
Trang 5Trường hợp khách hàng xin điều chỉnh trị giá bảo hiểm như điều chỉnh giáFOB, CF, cước phí vận tải và điều kiện bảo hiểm thì phải tính lại giá CIF và phí bảohiểm bằng hình thức cấp cho khách hàng 4 giấy sửa đổi bổ sung và thu lệ phí sửa đổiđơn Phần chênh lệch tăng đề nghị khách hàng thanh toán thêm phí, phần chênh lệchgiảm bảo hiểm sẽ hoàn lại phí cho khách hàng Trừ trường hợp điều chỉnh số B/L,trọng lượng.
Lưu ý: Trước khi làm sửa đổi bổ sung phải yêu cầu khách hàng gửi lại toàn bộ đơnbảo hiểm đã cấp để điều chỉnh Sau khi làm xong giấy sửa đổi bổ sung phải ghi rõ trênđơn các giấy tờ sửa đổi để bộ phận bồi thường dễ xem xét Sau đó gửi trả lại đơn củakhách hàng kèm theo giấy sửa đổi
Nếu khách hàng yêu cầu huỷ đơn phải xem xét rõ lý do, sau đó cấp cho khách hànggiấy sửađổi: Huỷ đơn, hoàn trả lại cho khách hàng toàn bộ số phí đã thu và trừ lệ phíhuỷ đơn đồng thời thu hồi lại toàn bộ đơn gốc đã cấp để huỷ bỏ đi Đơn thu lại phảihuỷ ngay để tránh nhầm lẫn Giấy sửa đổi bổ sung in ra thành 06 bản (1 bản lưu kèmtheo công văn yêu cầu sửa đổi của khách hàng, 1 bản gửi cho Tái bảo hiểm, 1 bản trảkhách hàng) Trường hợp:
- Yêu cầu khách hàng thanh toán thêm phí: đưa Tài vụ 3 bản
- Hoàn phí và huỷ đơn: đưa Tài vụ 2 bản
- Điều chỉnh tên tàu: đưa Tài vụ một bản
Sau khi lập đơn, kiểm tra lại và đóng dấu “thu phí bảo hiểm bằng ngoại tệ” hoặc
“thu phí bảo hiểm bằng đồng Việt Nam” lên đơn theo yêu cầu thanh toán phí củakhách hàng
Bước 4: Giao chứng từ cho các bộ phận liên quan:
Sau khi thực hiện 3 bước trên, đánh máy, trình ký và đóng dấu xong chứng từđược phân ra như sau: bản gốc viết tay (bản đầu tiên) lưu phòng Nghiệp vụ, 3 bản lưuphòng Tài vụ, 1 bản gửi Tái bảo hiểm, nếu chi nhánh cấp đơn thì gửi 1 bản cho công
ty còn lại trả cho khách hàng
Đối với hàng hoá xuất khẩu: bao gồm 4 bước sau:
Bước 1: Kiểm tra chứng từ- tương tự như bước 1 đối với hàng hoá nhập khẩu
Trang 6Lưu ý: - Đối với hàng hoá xuất khẩu chỉ bảo hiểm bằng ngoại tệ không bảo hiểmbằng đồng Việt Nam.
- Đơn bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu và giấy sửa đổi bổ sung phải đánh máy bằngtiếng Anh hoặc tiếng Pháp
- Phải chú ý đến “điều kiện bảo hiểm” do khách hàng đề nghị Nếu theo tín dụngthư (L/C- Letter of credits) thì phải làm đúng tín dụng thư đã mở, nhưng nếu điều kiện
đề nghị có những điểm bất hợp lý hoặc vượt quá phạm vi trách nhiệm thông thườngcủa công ty thì phải sửa lại (nếu việc sửa lại đó không mâu thuẫn với thư tín dụng về
cơ bản) hoặc hỏi lại người mua hàng ở nước ngoài
- Đối với hàng xuất tư nhân của các đại sứ quán phải yêu cầu khách hàng cungcấp “bản kê chi tiết hàng hoá” và trị giá tiền của mỗi loại Chỉ bảo hiểm theo điều kiện
“mọi rủi ro” cho các loại hàng hoá mới, đối với hàng cũ bảo hiểm theo điều kiện C.Trước khi chấp nhận bảo hiểm phải yêu cầu khách hàng cho xem cụ thể hàng hoá vàbao bì để xác định trị giá hàng hoá và điều kiện bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểmchỉ cần in 06 bản là đủ
Bước 2: Vào sổ cấp đơn
Sau khi kiểm tra các chứng từ có liên quan, nếu hợp lệ thì vào sổ cấp đơn theotừng danh mục ghi trong sổ Số đơn bảo hiểm đã được in sẵn trên đơn nếu chỉ cầnđánh máy thêm ký hiệu của địa phương đó để nghiệp vụ tiện theo dõi
Ví dụ: Đơn do chi nhánh TP HCM cấp, số đơn bảo hiểm là 1580 thì ghi nhưsau:1580-HX/HCM/95
Bước 3: Tính phí bảo hiểm và huỷ bỏ đơn bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu chính là giá CIF mà khách hàng kê khaitrên giấy yêu cầu bảo hiểm cộng thêm 10% lãi dự tính hay 10%CIF Vì vậy phí bảohiểm được tính theo công thức (CIF + 10%CIF)* R trong đó R là tỷ lệ phí bảo hiểmđược tính theo từng luồng, theo từng điều kiện bảo hiểm và chủng loại hàng hoá
Lưu ý:- Đối với hàng xuất của đại sứ quán các nước đóng tại Việt Nam, số tiền bảohiểm chính là giá trị hàng hoá mà khách hàng kê khai cộng thêm 10%
- Trường hợp khách hàng xin điều chỉnh giá trị bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm thì phảitính lại giá CIF và phí bảo hiểm bằng hình thức cấp cho khách hàng 1 giấy sửa đổi bổsung
Trang 7- Điều chỉnh số B/L, trọng lượng và huỷ đơn cách thức tương tự như hàng nhập ởbước 3.
Bước 4: Giao chứng từ cho các bộ phận liên quan
Sau khi thực hiện 3 bước trên, nộp đơn trình ký và không cần đóng dấu tròn,chứng từ được phân ra như sau: 3 bản đầu giao cho khách hàng, 1 bản lưu Nghiệp vụ,
3 bản giao cho Tài vụ, 1 bản giao cho Tái bảo hiểm
Lưu ý: - Đối với hàng xuất của đại sứ quán các nước đặt tại Việt Nam thì chứng từ đưasang Tài vụ chỉ cần 1 bản để theo dõi tiền về
- Khi giao chứng từ cho các bộ phận liên quan phải ghi vào sổ giao chứng từ và có kýnhận
- Đối với hàng xuất 3 bản đầu giao cho khách hàng không được ghi tỷ lệ phí bảo hiểm
và phí bảo hiểm chỉ cần ghi giá CIF là đủ
- Đơn giao cho tái bảo hiểm đưa qua bộ phận thống kê của phòng vào sổ thống kê sau
đó mới đưa sang tái bảo hiểm
- Bản nghiệp vụ giữ để lưu theo từng chi nhánh và phân theo từng tàu Mỗi cán bộnghiệp vụ cuối tháng/quý/năm phải nắm được sổ phí thu của từng khách hàng màmình phụ trách và tổng kim ngạch hàng nhập và xuất qua bảo hiểm trong tháng đó củakhách hàng để phân tích, đánh giá được tình hình kinh doanh
Là công ty cổ phần đầu tiên trong ngành bảo hiểm, PJICO có thế mạnh là các cổđông có lượng hàng hoá xuất nhập khẩu hàng năm khá lớn (Tổng công ty xăng dầuViệt Nam - Petrolimex, Tổng công ty thép Việt Nam - VSC) Vì vậy ngay từ năm đầutiên hoạt động (tháng 06/1995) nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển đã chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu hoạt động kinhdoanh của PJICO và từ đó tới nay nghiệp vụ này đã không ngừng tăng trưởng và pháttriển cả về chiều rộng và chiều sâu Nhờ có sự ủng hộ, trợ giúp của các Bộ, Ngành liênquan, các tổ chức kinh tế, sự chỉ đạo đúng đắn kịp thời của các cấp lãnh đạo PJICO vàđặc biệt là sự cố gắng phấn đấu nỗ lực của toàn thể cán bộ nhân viên công ty, sau hơn
6 năm hoạt động trong thị trường cạnh tranh, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá xuất nhậpkhẩu vận chuyển bằng đường biển của PJICO đã đạt được lượng doanh thu phí khálớn Tỷ trọng trung bình chiếm từ 15%-20% trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của
Trang 8toàn công ty và chiếm khoảng hơn 2% tổng doanh thu phí bảo hiểm của toàn thịtrường Cụ thể ta có:
Trang 9Để phân tích một cách cụ thể và chi tiết, ta tính một số chỉ tiêu sau:
Bảng 7: Bảng chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động khai thác bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO từ 1995-2000.
1.Số tiền BH bình quân
một đơn cấp(Triệu:VND) 1.146 1.159 1.588 1.546 1.586 2.2962.Tốc độ tăng DT phí BH
số tiền bảo hiểm bình quân một đơn cấp có xu hướng tăng dần qua các năm, điều nàyđược thể hiện: năm 1995 số tiền bảo hiểm bình quân một đơn cấp là 1.146 triệu nhưngđến năm 2000 số tiền bảo hiểm trong một đơn cấp đạt tới 2.296 triệu lớn gấp 2 lầnnăm 1995, điều đó chứng tỏ PJICO ngày càng thu hút được nhiều hợp đồng bảo hiểm
có giá trị cao của các khách hàng lớn Mặt khác ta thấy tốc độ tăng doanh thu phí bảohiểm và tốc độ tăng kim ngạch hàng hoá tham gia bảo hiểm đều có xu hướng giảm dần
và tốc độ tăng doanh thu phí bảo hiểm bình quân 1995/2000(1) lại nhỏ hơn tốc độ tăngkim ngạch hàng hoá tham gia bảo hiểm bình quân trong cùng thời kỳ(2)nhưng sựchênh lệch này là tương đối nhỏ Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do PJICO đã
(1)(1) trong đó :73,46%
(2)(2 ) là 75,58%
Trang 10điều chỉnh tỷ lệ phí bảo hiểm phù hợp với sự biến động của thị trường Quá trình điềuchỉnh tỷ lệ phí làm cho tỷ lệ phí có xu hướng chung là giảm xuống từ 1995/2000 (từ0,3795% xuống còn 0,3187%) Nhìn vào bảng chỉ tiêu đánh giá ta có thể thấy rằngchiến lược khai thác của PJICO là hết sức linh hoạt và có hiệu quả đặc biệt là việc điềuchỉnh tỷ lệ phí bảo hiểm qua các năm cho phù hợp với tình hình chung của toàn thịtrường bảo hiểm Điều chỉnh tỷ lệ phí lần 1 năm 1997 giảm 8,9% so với năm 1996 donhiều nguyên nhân, cơ bản là do hai nguyên nhân sau: chủ quan là do chiến lược pháttriển của công ty và khách quan là do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Châu
á ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế trong nước, khu vực và trên thế giới Mặc dù tỷ
lệ phí giảm song doanh thu phí bảo hiểm không những không giảm xuống mà còn tăng55,7% so với năm 1996 Có sự tăng lên của tổng doanh thu phí trong khi tỷ lệ phígiảm xuống là do tổng kim ngạch hàng hoá tham gia bảo hiểm tăng lên (70,8%) và dotốc độ tăng này lớn hơn nên có thể bù đắp được phần doanh thu giảm đi do giảm tỷ lệphí bảo hiểm Điều chỉnh giảm tỷ lệ phí lần hai năm 2000 so với năm 1999 xuống còn0,3187 năm 2000 do có sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty bảo hiểm trên thịtrường và do tỷ lệ tổn thất năm 1998, 1999 đã giảm xuống dẫn đến tỷ lệ bồi thườnggiảm theo Và cũng tương tự lần 1 mặc dầu tỷ lệ phí bảo hiểm bình quân giảm mạnhsong tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng lên 15,3% tức là tăng thêm 2.750 triệu đồng
Có sự tăng lên của doanh thu phí bảo hiểm này là do sự điều chỉnh tỷ lệ phí bảo hiểm
đã thu hút thêm được đông đảo khách hàng tham gia bảo hiểm tại công ty làm cho kimngạch hàng hoá tham gia bảo hiểm tăng 54,6% bù đắp được phần doanh thu phí giảm
do tỷ lệ phí bảo hiểm giảm do tỷ lệ phí giảm Lại lấy ví dụ quá trình điều chỉnh tỷ lệphí bảo hiểm năm 1998 tăng 10,7% so với năm 1998, tỷ lệ thu phí tăng lên do rấtnhiều nguyên nhân nhưng trong đó chủ yếu do tình hình tổn thất năm 1996, 1997 là rấtlớn dẫn đến tỷ lệ bồi thường rất cao Mặc dù tỷ lệ phí bảo hiểm tăng nhưng kim ngạchtham gia bảo hiểm không những không giảm mà còn tăng 49,8%, kéo theo tổng doanhthu phí bảo hiểm tăng tới 66% bù đắp được các khoản chi phí kinh doanh trong đó cókhoản chi chính là bồi thường tổn thất, ngoài ra còn có các khoản chi khác như chi quỹ
dự phòng, đề phòng và hạn chế tổn thất, chi quản lý điều đáng nói ở đây là tổngdoanh thu phí bảo hiểm năm 1998 tăng lên không hoàn toàn là vì tỷ lệ phí bảo hiểmtăng mà chủ yếu là do kim ngạch hàng hoá trong bảo hiểm tăng rất nhanh 49,48% caohơn rất nhiều so với tốc độ tăng của tỷ lệ phí 10,7%
Trang 11Từ sự phân tích ở trên ta có thể nhận định rằng biểu phí mà PJICO tính toán đưa
ra là rất linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của khách hàng cũng như sự biến động đa dạngcủa thị trường bảo hiểm và của toàn bộ nền kinh tế Do đó đã góp phần làm tăng doanhthu từ phí bảo hiểm hay nói cách khác số lượng hàng hoá xuất nhập khẩu được bảohiểm tại PJICO ngày càng nhiều, uy tín của công ty đối với khách hàng ngày càngcao
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, PJICO còn rất nhiều tồn tại vàkhó khăn trong quá trình thực hiện chiến lược khai thác của mình Trước hết ta thấyrằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đang tăng dần qua các năm, hoạtđộng ngoại thương đang có xu hướng phát triển mạnh, đẩy nhanh tiến trình hội nhậpnền kinh tế vào nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới trong xu thế khu vực hoá, toàncầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ và sôi động như hiện nay Mặc dù nghiệp vụbảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu của PJICO có tăng trưởng và phát triển song tỷ lệkim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá tham giam bảo hiểm ở PJICO so với tổng kimngạch xuất nhập khẩu hàng hoá lại rất thấp chỉ khoảng 2% Điều này không chỉ đặt rađối với riêng PJICO mà đang là vấn đề chung của toàn thị trường bảo hiểm Việt Namhiện nay, ngoài số lượng khách hàng trong cổ đông là những khách hàng truyền thốngchủ yếu quen thuộc đối với PJICO là các tổng công ty, một số đơn vị nhà nước kinhdoanh xuất nhập khẩu hàng hoá, trong đó cơ cấu mặt hàng được bảo hiểm chưa đadạng chủ yếu là hàng lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng vì vậy giá trị bảo hiểmkhông cao và rủi ro tổn thất rất lớn PJICO chưa thực sự hấp dẫn đối với các doanhnghiệp, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu có vốn đầu tư nước ngoài vì vậy họ chủ yếutham gia bảo hiểm ở các công ty nước ngoài có khả năng tài chính lớn uy tín và chấtlượng cao Mặt khác PJICO chưa thực sự tuyên truyền bám sát khách hàng chưa thâmnhập được vào quá trình đàm phán các hợp đồng vay nợ, liên doanh đầu tư với nướcngoài để đấu tranh giành lại quyền lợi cho phía mình Sự phối hợp giữa PJICO với cácdoanh nghiệp bảo hiểm khác để khai thác mở rộng thị trường, thu hút khách hàng cònhạn chế chưa thống nhất đánh giá được các tồn tại cần khắc phục và cần phải cải thiệnhơn nữa của ngành bảo hiểm Chưa nghiên cưú để tham mưu cho các cơ quan quản lý
có những chủ trương, giải pháp giúp đỡ hoặc tổ chức hội nghị phối kết hợp với cácchủ hàng, chủ doanh nghiệp đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu (có những trận địa còn
Trang 12bỏ trống như mặt hàng dầu thô kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ USD hàng năm vẫn bảohiểm 100% ở nước ngoài).
Những khó khăn tồn tại trên ở PJICO một phần cũng là khó khăn của toàn bộthị trường bảo hiểm và toàn bộ nền kinh tế do vị thế nền kinh tế nước ta trên thươngtrường quốc tế chưa cao nên trong quan hệ ngoại thương ta thường phải chịu sức épnhập khẩu theo giá CIF và xuất khẩu theo giá FOB hay CF, hàng hoá của Việt Namđang trong quá trình xâm nhập thị trường, sức cạnh tranh hạn chế nên thế của ta chưa
đủ để ép đối tác nước ngoài dành quyền mua bảo hiểm cho phía Việt Nam Ngoài ra
do lượng hàng hoá nhập theo chương trình ODA (đã giải ngân) chiểm khoảng 3-5%tổng kim ngạch nhập khẩu không khai thác được do bên viện trợ đầu tư thu xếp bảohiểm và hàng hoá nhập khẩu từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài chiếm 23%, mặt kháctrình độ nghiệp vụ của các khai thác viên bảo hiểm đòi hỏi thực tế về bảo hiểm củakhách hàng trong nền kinh tế đang phát triển như hiện nay của nước ta Công tácthống kê nghiệp vụ, quản lý và đánh giá rủi ro, xác định tỷ lệ phí, điều kiện, điềukhoản áp dụng còn có những hạn chế, do vậy mà nó chính là một trong những nguyênnhân làm cho công tác khai thác của PJICO hiện nay chưa đạt được kết quả cao Chính
vì vậy trong những năm tới PJICO cần phải đưa ra các biện pháp chiến lược khai thácbảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu phù hợp mới mẻ và thực hiện một cách tích cựctriệt để nhằm đạt được kết quả cao hơn vưà góp phần vào sự phát triển của công ty nóiriêng và thị trường bảo hiểm nói chung dự kiến phí bảo hiểm xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển của PJICO năm 2001 tăng khoảng 15%-20% so với năm2000
2 Quy trình giám định hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO
Giám định tổn thất là việc làm của các chuyên viên giám định của người bảo hiểmhoặc công ty giám định được người bảo hiểm uỷ quyền nhằm xác định mức độ vànguyên nhân của tổn thất làm cơ sở cho việc bồi thường đồng thời qua việc giám định
đó kịp thời đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại cho hàng hoá
Quá trình giám định tổn thất được tất cả các công ty bảo hiểm Việt Nam quyđịnh rất chặt chẽ theo một quy trình giám định nhằm tiến hành đánh giá, giám định tổnthất xảy ra cho hàng hoá một cách chính xác ít tốn kém nhất, đồng thời đảm bảo quyềnlợi cho cả hai bên: khách hàng và công ty bảo hiểm Khi có tổn thất xảy ra, các công ty
Trang 13bảo hiểm phải xem xét tổn thất đó có thuộc phạm vi, trách nhiệm bảo hiểm của mìnhhay không và nếu có thì mức độ tổn thất là bao nhiêu? thông thường các nguyên tắcchung của các công ty bảo hiểm khi tiến hành giám định là:
- Bảo đảm giám định kịp thời, đầy đủ, trung thực, khách quan đảm bảo tốt choviệc xét bồi thường sau này
- Công ty bảo hiểm có thể trực tiếp giám định hoặc có thể chỉ định đại lý giámđịnh của mình ở trong nước hay quốc tế hoặc thuê các công ty giám định trong vànước ngoài như: Vinacontrol, Davidcontrol, FCC, Craw Ford (công ty tính toán tổnthất lớn nhất Châu á của Mỹ) Đây là xu hướng phổ biến của các công ty bảo hiểmhiện nay
- Trừ trường hợp đặc biệt nhiệm vụ chính của giám định hàng hoá là giám định
và thực hiện công tác đề phòng và hạn chế tổn thất hàng hoá được bảo hiểm
ở PJICO, quy trình giám định hàng hoá xuất nhập khẩu bị tổn thất đã được banhành kèm theo quyết định số 113/BH-HH ngày 15/07/1995 của Tổng giám đốc PJICO.Nhìn chung, khi tiến hành một vụ giám định hàng hoá vận chuyển bị tổn thất giámđịnh viên cần thực hiện công việc theo trình tự sau:
- Chấp nhận yêu cầu giám định
- Tiến hành giám định
- Lập biên bản giám định
- Cung cấp biên bản giám định và thu phí giám định
2.1 Chấp nhận yêu cầu giám định
Khi xảy ra tổn thất người được bảo hiểm phải gửi ngay yêu cầu giám định đếncông ty bảo hiểm bằng bất kỳ hình thức nào nhưng sau đó buộc phải bằng văn bản đểlưu trữ hồ sơ giám định Giấy yêu cầu giám định này là thủ tục cơ bản và cần thiết choviệc thực hiện một vụ giám định và là căn cứ để đề nghị người yêu cầu giám địnhthanh toán phí giám định Thông thường giấy yêu cầu giám định bao gồm các nộidung sau:
- Tên, địa chỉ người hoặc tổ chức yêu cầu giám định
- Tên hàng
- Số lượng, khối lượng hàng hoá cần giám định
- Nội dung yêu cầu giám định
- Thời gian, địa điểm yêu cầu giám định
Trang 14Giám định bảo hiểm chỉ được chấp nhận yêu cầu giám định trong những trườnghợp xảy ra tai nạn, có tổn thất, thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm Vì vậy, đối vớinhững trường hợp phát hiện không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm cần có ý kiếnngay để người nhận hàng có thể nhanh chóng yêu cầu cơ quan giám định ngoại thươnggiám định, bảo đảm việc đòi bồi thường người bán hàng hoặc người thứ ba có tráchnhiệm trực tiếp Với những trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm có thểyêu cầu giám định khi xét thấy có đủ điều kiện sau đây:
Các chứng từ người yêu cầu giám định phải xuất trình:
- Vận tải đơn đường biển (B/L)
- Giấy chứng nhận bảo hiểm (đặc biệt đối với trường hợp hàng do người nướcngoài bảo hiểm )
- Hoá đơn thương mai
- Giấy kê chi tiết hàng hoá (Packing list, Specification)
- Các chứng từ giao nhận hàng hoá giữa tàu và cảng, COR, hoặc biên bản giaonhận người chuyên chở
Tuỳ từng trường hợp, cần yêu cầu cung cấp hoặc tìm kiếm các giấy tờ liên quannhư sau:
- Giấy chứng nhận hàng hoá hư hỏng
- Thư dự kháng (thư từ khiếu nại người thứ ba)
- Báo cáo hải sự hoặc trích sao nhật ký hàng hải (Sea-protest)
Khi sử dụng các giấy tờ cần cân nhắc đối chiếu các giấy tờ với thực hàng, đốichiếu giữa các loài giấy tờ để tránh nhầm lẫn trong mọi vụ giám định và cũng là để cóthêm điều kiện xác định nguyên nhân được chính xác hơn (về số lượng, loại hàng,trách nhiệm người bán, trách nhiệm người vận tải, tìm kiếm những ghi chú trên vận tảiđơn)
Công tác chuẩn bị hiện trường cần xét tới:
- Thời gian và địa điểm yêu cầu giám định
- Yêu cầu sẵn sàng giám định (hàng xấu hỏng để riêng hay còn lẫn với hàng tốt)
- Sự có mặt của các bên liên quan
Tuỳ tình hình đặc điểm của mỗi cảng trong nước, tuỳ từng công ty bảo hiểm sẽ
có những quy định cụ thể để làm việc được thuận lợi đối với đại diện người được bảohiểm, nhưng nhất thiết không được trái với những nguyên tắc sau đây:
Trang 15- Chỉ giám định những trường hợp tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm vàtrong khi hợp đồng bảo hiểm đang còn hiệu lực.
- Hàng bị hư hỏng, mất mát cần được giám định ngay mà không dựa vào thờihiệu bảo hiểm để chậm trễ yêu cầu giám định
- Hàng có tổn thất sau khi dỡ khỏi tàu phải được giám định ngay tại cảng dỡhàng, hoặc tại kho cuối cùng nếu trước khi di chuyển từ tàu về kho cuối cùng đã cóbiên bản ký kết với tàu, với cảng, ghi rõ số lượng và trạng thái hàng hoá bị tổn thất
- Định nghĩa về kho cuối cùng không được trái với quy tắc chung về bảo hiểmhàng hoá vận chuyển bằng đường biển của công ty bảo hiểm hoặc điêù kiện trong đơnbảo hiểm của nước ngoài trong trường hợp làm việc với danh nghĩa đại lý giám địnhcho công ty bảo hiểm nước ngoài
- Đối tượng giám định là hàng hoá được bảo hiểm có tổn thất rõ rệt hoặc có hiệntượng nghi vấn tổn thất chứ không phải là hàng hoá nguyên đai, nguyên kiện, có nghivấn về số lượng hoặc phẩm chất không do ảnh hưởng của những rủi ro từ bên ngoàitác động vào
- Giám định bảo hiểm là giám định đối địch giữa người bảo hiểm và người đượcbảo hiểm hoặc tuỳ trường hợp có thể có mặt của người thứ ba có trách nhiệm đối vớitổn thất (đại diện cho người chuyên chở) Người mua hàng của ngoại thương (chủhàng nội địa) không có quyền cản trở hoặc tranh chấp những vấn đề có liên quan tớicông việc giám định bảo hiểm
2.2 Tiến hành giám định:
Sau khi nhận yêu cầu giám định và nghiên cứu kỹ các giấy tờ có liên quan, đúngngày đã hẹn giám định viên cần có mặt tại địa điểm như đã nêu trên để thực hiện côngviệc giám định Giám định viên cần mang theo các dụng cụ cần thiết phục vụ cho việcgiám định (cân, thước do, máy ảnh, máy tính, nhiệt kế) Công việc giám định cần đượctiến hành khẩn trương, ý kiến của giám định viên đưa ra phải đảm bảo tính chất chínhxác, hợp lý và nhất quán Với những trường hợp phải giám định kéo dài ngày, giámđịnh viên phải bám sát hiện trường
Do không thể có mặt thường xuyên trong khi theo dõi giám định những lô hànghoá lớn tại các kho hàng hoặc trên tàu biển, giám định viên cần phải biết chia và chọnthời gían thích hợp nhất để kiểm tra đúng lúc bảo đảm đuợc tình hình và mức độ tổn
Trang 16thất tiêu biểu cho mỗi vụ Muốn làm tốt được việc này, tại mỗi cảng có hàng nhập về,các chi nhánh cần đề ra những nguyên tắc cụ thể và phối hợp chặt chẽ với các cơ quanliên quan như: cảng, đại diện cho người được bảo hiểm , các chủ hàng nội địa, đại lýtàu biển để ổn định quá trình tiến hành giám định và đảm bảo tính chất trung thựctrong các khâu giao nhận, kiểm đếm và bảo quản hàng hoá được bảo hiểm Phải cóbiện pháp giải quyết dứt điểm Trong mỗi vụ giám định cần chú ý tới các mặt sau đâytrong mỗi bước kiểm tra:
* Kiểm tra bao bì cần chú ý:
- Xem lại bao bì và các mã hiệu ngoài để xác định được đúng đối tượng giámđịnh
- Ký hiệu đề phòng tổn thất ngoài bao bì (phát hiện khả năng tổn thất có nguyênnhân do thiếu loại ký hiệu này)
- Quy cách và chất lượng bao bì phù hợp với yêu cầu vận chuyển bằng đườngbiển (hàng hỏng do khuyết tật của bao bì không)
- Bao bì cũ/ mới (có phù hợp với tập quán và điều kiện mua bán, vận chuyệnkhông)
- Vật liệu làm bao bì (hàng hỏng có phải do khuyết điểm của nguyên liệu bao bìkhông)
- Và các chất liệu khác cần phát hiện để tìm ra khả năng tổn thất là do bao bìhàng hoá hay còn do những nguyên nhân nào khác
- Nếu bao bì có niêm phong kẹp chì thì cần kiểm tra kỹ xem có khác gì với sựmiêu tả trong chứng từ vận chuyển không
* Kiểm tra bên trong kiện hàng cần chú ý:
- Cách sắp xếp và bao bì hàng hoá bên trong kiện hàng cũng như vật chèn, lót(có phù hợp với tính chất hàng hoá không)
- Tính chất hàng hoá
- Phát hiện các vết ướt, mốc, chỗ trống, vật lạ
- Và các hiện tượng khả nghi khác để tìm ra nguyên nhân tổn thất có thể do bao
bì, chèn lót bên trong, khả năng mất mát, đóng thiếu hoặc nhầm hàng
* Phân loại tổn thất và xác định mức độ tổn thất:
Sau khi phát hiện các dấu vết khả nghi bên ngoài và trong kiện hàng, cần phânloại và xác định mức độ tổn thất, khó phân loại và xác định có thể tham khảo ý kiếncủa các chuyên viên mặt hàng được mời tham dự giám định
Trang 17Việc xác định mức độ tổn thất phải chính xác, hợp lý và thiết thực xác địnhriêng số lượng từng loại hàng thiếu, xác định riêng hàng hỏng với mức độ thiệt hạikhác nhau tuỳ theo hiện trạng hàng hoá Cân nhắc giá trị sử dụng và ước tính giá bánhàng kém phẩm chất để tránh hiện tượng giảm giá không phù hợp Cần xác định mức
độ tổn thất và mức độ giảm giá riêng kho hàng hoá hỏng do những nguyên nhân khácnhau, thuộc các bên chịu trách nhiệm khác nhau và cần có sự thoả thuận của người yêucầu giám định Trường hợp có tổn thất lớn và phức tạp dễ gây ra tranh chấp khi xácđịnh mức độ tổn thất cần lấy mẫu hàng hoá (mẫu hàng tốt, mẫu hàng hỏng các loại).Tuỳ từng trường hợp có thể lấy mẫu một lần hoặc nhiều lần có khoảng cách về thờigian thích hợp Ngoài việc xác định mức độ thiệt hại các lọai hàng hoá còn phải xácđịnh các loại phí tổn của hàng, chỉnh lý, sửa chữa và thay thế nếu cần trên cơ sở tínhtoán hợp lý
Khi phân loại và xác định mức độ tổn thất cần chú ý:
+ Với trường hợp thiếu số lượng:
- Xác định trên cơ sở (số liệu) ghi trong giấy đóng gói và hoá đơn bán hàng
- Chỉ rõ kích cỡ, thể loại mặt hàng thiếu hụt so với giấy đóng gói
- Xét khả năng đóng thiếu hàng hoặc đóng nhầm hàng từ kiện này sang kiện kia
- Với các mặt hàng như xe cộ, máy móc cần xét khả năng có những bộ phậnngười khách hàng không gửi kèm theo hàng hoá đó
+ Với trường hợp thiếu trọng lượng:
- Xét tới hao hụt tự nhiên, thuỷ phân và hợp chất
- Xác định thiếu hụt trên cơ sở giấy chứng nhận của người bán hoặc trọng lượngtrung bình của mỗi kiện hàng tính theo số liệu ghi trên hoá đơn hay vận tải đơn
- Hàng hoá có trọng lượng đồng đều hay có chênh lệch giữa các bao, kiện
- Bao bì có trọng lượng đồng đều hay có chênh lệch giữa các thùng, kiện hàngcủa mỗi lô hàng
- Kiểm tra cân và sử dụng được khi giám định
+ Với trường hợp hàng bị hư hỏng:
- Xác định số lượng và trọng lượng của hàng hỏng
- Xét tới giá trị sử dụng theo đúng thứ loại hàng và khả năng đưa vào sử dụngviệc khác
- Hàng được thay thế bộ phận, chỉnh lý, sửa chữa theo yêu cầu của giám địnhviên sẽ được tính giảm giá sau khi chỉnh lý, thay thế bộ phận hoặc sửa chữa
Trang 18- Khi mức độ rủi ro của hàng hoá trong cùng một lô hàng có khác nhau thì địnhmức riêng cho từng loại và nếu cần lấy mẫu riêng của từng loại.
- Với các mặt hàng thiết bị máy móc, cần xét tới ảnh hưởng của công suất và độbền của hàng hóa
- Xét tới trường hợp của tổn thất bộ phận ảnh hưởng tới toàn bộ cố máy
- Có biện pháp tích cực khắc phục tình trạng xác định tỷ lệ giảm giá mỗi lần mộtkhác ở các vụ có dạng tổn thất khác nhau
- Phải có ý kiến tập thể lãnh đạo trước khi thừa nhận tổn thất toàn bộ
- Tỷ lệ giảm giá được xác định trên cơ sở giá trị còn lại của hàng hoá đã bị tổnthất (tỷ lệ giá bán hàng tổn thất và nguyên vẹn trên thị trường) Các mặt hàng máymóc, thiết bị, ô tô thì chỉ xác định tổn thất thực tế
* Xác định nguyên nhân tổn thất :
Xác định nguyên nhân tổn thất tức là xác định nguời chịu trách nhiệm gây ra tổnthất cho hàng hoá Để xác địng đúng nguyên nhân gây ra tổn thất cần tìm hiểu, xemxét kĩ hiện trường, thu thập đầy đủ chứng từ và nghi nhận đầy đủ các vấn đề liên quanngay từ khi bắt đầu tới khi kết thúc giám định Có thể xác định nguyên nhân tổn thấttrên cơ sở sau:
- Tính chất hàng hoá và bao bì hàng hoá
- Đặc điểm phương tiện chuyên chở và hành trình của hàng hoá
- Dạng tổn thất
- Tình hình bốc dỡ, chất xếp, lưu kho, chuyển tải
- Tình hình giao nhận của các bên liên quan
Khi kết luận không được vội vã, chủ quan và tuỳ tiện, thiếu cơ sở thực tiễn, thiếukhoa học Cần hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng những câu chữ chung chung,không qui được ssố trách nhiệm riêng lẻ của từng trường hợp, gây khó khăn cho việcxem xét giải quyết sau này Cần thiết phải chỉ rõ hỏng, mất mát Như vậy là do thiếusót về phần bao bì hàng hoá, do kho tàng, bốc dỡ chuyên chở để có thể qui được phầntrách nhiệm là do: Người bán hàng, nguời vận tải, kho hàng hay do chính người đượcbảo hiểm đã gây thiệt hại cho hàng hoá
2.3 Lập biên bản giám định.
Sau khi đã giám định xong, giám định viên suy nghĩ và chắt lọc những chi tiết cơbản để phản ánh toàn bộ những điều đã được chứng kiến tại hiện trường vào một bảngọi là "Biên bản giám định" Biên bản giám định này là tài liệu chính để xét duyệt bồithường cho người được bảo hiểm và sử dụng để khiếu nại đòi bồi thường đối với
Trang 19người thứ ba Vì vậy, nội dung biên bản phải đảm bảo tính trung thực, chính xác, rõràng, cụ thể Các số liệu phải phù hợp với trạng thái và không mâu thuẫn khi đối chiếuvới các tài liệu do chính nội dung biên bản dẫn chứng.
Với một số mặt hàng xuất nhập khẩu thường xuyên và khi bị tổn thất thường haygặp ở những dạng giống nhau thì không cần thiết phải mô tả dài dòng Nhưng vớinhững trường hợp có tổn thất lớn, những trường hợp liên quan đến nhiều tình tiếtphức tạp thì cần được mô tả một cách đầy đủ và thật cụ thể để người giải quyết khiếunại có thể thông qua biên bản mà có thể hình dung được nguyên nhân và mức độ tổnthất, thuận lợi cho việc quyết định bồi thường hay từ chối trách nhiệm bồi thường
Vì vậy, ngoài yêu cầu trả lời đầy đủ những mục in sẵn trong biên bản giám định
để có được số liệu và tình hình cụ thể về trạng thái hàng hoá, phương tiện vận chuyểncũng như các chặng đường vận chuyển thì cần chú ý liên hệ tới các điểm sau đây:
- Tài liệu sử dụng để tham khảo, đối chiếu hoặc dẫn chứng
- Những phát hiện riêng của giám định viên trên cơ sở hiện vật ngoài hiện trường
để đi đến kết luận về mức độ thiệt hại và nguyên nhân gây ra tổn thất
- ý kiến của cán bộ chuyên môn về mặt hàng (chuyên viên, cán bộ kỹ thuật)
- Dẫn chứng bằng tài liệu kiểm nghiệm (chứng nhận, phân tích)
- Dẫn chứng bằng ảnh chụp ngoài hiện trường
Với những trường hợp sử dụng kỹ thuật viên trong việc kiểm tra phẩm chất hànghoá hư hỏng tại phòng thí nghiệm hoặc qua kiểm tra chi tiết máy để xác định tổn thất,giám định viên có thể đưa kết quả giám định vào nội dung biên bản giám định Nhưngvới trường hợp kiểm nghiệm hoặc kiểm tra quan trọng, cần có những phân tích tỉ mỉ
và phức tạp thì phải có riêng giấy chứng nhận kiểm nghiệm phẩm chất hoặc báo cáokiểm tra kỹ thuật kèm theo biên bản Trong mọi trường hợp khi chỉ định cơ quan hoặc
cá nhân làm công việc kiểm tra kỹ thuật, giám định viên pải chịu trách nhiệm theo dõicho tới khi có đầy đủ những kết quả kiểm nghiệm hoặc kiểm tra hợp lý
Trong quá trình giám định phải đề xuất ý kiến và hướng dẫn khách hàng thựchiện mọi biện pháp nhămg ngăn ngừa và hạn chế tổn thất Đồng thời theo yêu cầugiám định, giám định viên có thể ghi thêm các chi phí và lao động đã thực hiện trongquá trình phục vụ giám định vào biên bản Tuy nhiên, những ý kiến và các chi phí nóitrên được thực hiện trong quá trình giám định cũng không có nghĩa là ngưoừi bảohiểm được chấp nhận tổn thất xẩy ra thuộc trách nhiệm của bảo hiểm và chấp nhậncác chi phí phục vụ trên Với những vụ tổn thất lớn, quan trọng và phức tạp cần phải
có ý kiến của tập thể và lãnh đạo trước khi lên biên bản giám định
Trang 202.4 Cung cấp biên bản giám định và thu phí giám định.
Sau khi đã lập biên bản giám định, giám định viên cần tuân thủ những quy địnhsau:
- Theo nguyên tắc, biên bản giám định làm ra chỉ cấp phát cho những người yêucầu giám định Không tiết lộ một nội dung giám định nào cho các cơ quan hoặc cánhân khác ngoài cơ quan hay cá nhân yêu cầu giám định, từ trường hợp đã đượcngười yêu cầu giám định thoả thuận hoặc lãnh đạo công ty bảo hiểm cho phép
- Những chứng từ tài liệu liên quan tới mọi vụ giám định phải được lưu trữ cùngvới biên bản giám định, trừ khi là tài liệu mượn phải trả sau khi hoàn thành công tácgiám định Với những tài liệu cần sử dụng làm bằng chứng thì trước khi trả cần saochép lại để lưu trữ
- Việc cấp thêm biên bản giám định cho bất kỳ người nào khác phải được sự thoảthuận hay uỷ quyền của người yêu cầu giám định bằng văn bản và sẽ tính thêm phínếu cần
- Việc chỉnh lý biên bản giám định hoặc số liệu theo yêu cầu của người yêu cầugiám định phải được xem xét cẩn thận Nếu việc chỉnh lý này là do lỗi của bản thângiám định viên tính toán hoặc đánh máy sai trong biên bản giám định thì việc chỉnh lýnày là việc làm đương nhiên và giám định viên phải chỉnh lý lại cho khách hàng Nếuviệc chỉnh lý này liên quan tới vấn đề kết luận nguyên nhân của tổn thất hoặc tỷ lệgiảm giá thương mại thì giám định viên quyết đúng đắn Trên cơ sở các chứng từ màgiám định viên được cung cấp khi giám định công ty bảo hiểm và khách hàng có thểgặp nhau để thương lượng những điểm cần chỉnh lý Nếu hai bên không thống nhất ýkiến với kết quả của biên bản giám định mới thì có thể cùng thuê cơ quan giám địnhkhác tiến hành giám định và bên không thoả mãn với kết quả giám định của công tybảo hiểm sẽ tự chịu chi phí Kết quả giám định mới này có thể là chứng cứ để đưa vào
hồ sơ khiếu nại đòi bảo hiểm bồi thường sau này
- Giám định viên phải tiến hành thu phí giám định theo quy định và hướng dẫncủa ngành
- Định kỳ, giám định viên phải có báo cáo thống kê tình hình tổn thất và giámđịnh Cố gắng tìm ra những nguyên nhân chính và thường xuyên xẩy ra để từ đó đềxuất các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất cho các lô hàng sau nhằm giảm chiphí bồi thường
Đặc trưng rủi ro gây ra tổn thất trong bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vậnchuyển bằng đường biển là thường xẩy ra hết sức phức tạp, trên một pham vị rộng
Trang 21lớn, tổn thất một lượng giá trị hàng hoá cao, có liên quan đến nhiều chủ thể, lĩnh vực
và nhiều thông lệ, bộ luật của nhiều quốc gia trên thế giới nên công tác giám định gặprất nhiều khó khăn trở ngại Đây không phải là vấn đề riêng có ở PJICO mà là vấn đềđặt ra đối với toàn bộ các công ty bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Từ khi chínhthức đi vào hoạt động ngày 17/06/ 1995, PJICO đã có nhiều cố gắng trong việc nângcao hiệu quả của công tác giám định nói chung và của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoáxuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển nói riêng Nhưng do công việc này đòihỏi người thực hiện phải có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn và đặc biệt là do chưađánh giá đúng vai trò của công tác này cho nên những năm đầu đi vào hoạt động, sự
hỗ trợ của công tác giám định đối với các khâu khác trong hoạt động kinh doanh bảohiểm chưa nhiều, bản thân công tác giám định vẫn còn nhiều hạn chế Trong nhữngnăm gần đây, được sự chỉ đạo đúng đắn của các cấp lãnh đạo của công ty, sự nỗ lựccủa cán bộ giám định nên công tác giám định ở PJICO đã có nhiều chuyển biến tíchcực và ngày càng khẳng định được vai trò của nó trong hoạt động kinh doanh bảohiểm Thời gian qua công tác giám định hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển ở PJICO đang ngày càng được hoàn thiện và đã đạt được những kết quảđáng khích lệ, thể hiện rõ qua bảng số liệu sau:
Bảng 8: Chi phí giám định hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển ở PJICO từ 1995- 2000
Phí giám địnhđược uỷ thác
Trang 22Bảng số liêu trên cho thấy: Chi phí giám định tự làm của nghiệp vụ bảo hiểmhàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO đã không ngừng tănglên qua các năm Năm 1995 do mới đi vào hoạt động trong vòng 6 tháng cuối năm,nên việc bố trí cán bộ làm giám định viên chưa thống nhất và một số giám định viêncòn đang được cử đi đào tạo nâng cao trình độ trong công tác giám định, chính vì vậycông tác giám định hàng hoá bị tổn thất hoàn toàn uỷ quyền lại cho các công ty giámđịnh trung gian, chi phí này là 65.873 nghìn đồng Từ năm 1996 hoạt động kinh doanh
đi vào ổn định, tuy nhiên phòng Giám định bồi thường vẫn chưa được thiết lập đểthực hiện chuyên trách nhiệm vụ, chức năng của mình trong cơ cấu tổ chức của công
ty mà các cán bộ phòng Hàng hải và một số phòng ban chức năng phải kiêm nhiệmcông tác giám định bồi thường hàng hóa xuất nhập khẩu bị tổn thất Mặc dù công tácgiám định hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển ở PJICO đã đạtđược kết quả rất khả quan thể hiện phí giám định tự làm, phí giám định được uỷ thácluôn có xu hướng tăng dần qua các năm và phí giám định thuê ngoài có xu hướnggiảm dần, nhưng việc thiết lập phòng chức năng chuyên trách công tác giám định bồithường ở PJICO là rất cấp bách và cần thiết Ngay khi đi vào hoạt động kinh doanh,PJICO đã tích cực chuẩn bị về mọi mặt: nhân lực, trang thiết bị kỹ thuật giám định,các chương trình đào tạo, huấn luyện thực tế… và tới năm 2000 phòng Giám định bồithường của công ty đã chính thức được thành lập và thực hiện chức năng của mình docác chuyên viên giám định đảm nhận Kết quả của công tác giám định năm 2000 đãthể hiện được vai trò to lớn của phòng: phí giám định tự làm đạt 283.642 nghìn đồnggấp 3,2 lần so với năm 1996; phí giám định thuê ngoài giảm mạnh qua các năm, nếunhư năm 1996 phí giám định thuê ngoài chiếm 68,5% tổng phí giám định thì đến năm
tỷ lệ này chỉ khoảng 22,2% và phí giám định được uỷ thác đạt 33.656 nghìn đồng caonhất từ khi thành lập công ty đến nay
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằngđường biển cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác ở PJICO thường được tiến hànhtheo các khâu: khai thác, giám định, đề phòng và hạn chế tổn thất, bồi thường, đòingười thứ ba Mỗi khâu đóng một vai trò nhất định trong toàn bộ quá trình kinh doanhbảo hiểm Đồng thời chất lượng, hiệu quả hoạt động của từng khâu có ảnh hưởng trựctiếp đến các khâu còn lại cũng như ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh củacông ty Vì vậy, những tác động tích cực hay ảnh của công tác giám định hàng hoáxuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đến các khâu còn lại của quá trình kinh