1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận thất nghiệp ở việt nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

20 627 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 657,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính chất: Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên không phải là một con số bất biến mà có khuynh hướng tăng lên do nền kinh tế năng động luôn biến động liên tục; do sự tham gia vào lực lượng lao độn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ PHÁT TRIÊN

BÀI TIỂU LUẬN

Thất nghiệp ở Việt Nam.

Nguyên nhân, thực trạng và giải pháp

GV hướng dẫn: ThS Trần Thị Bích Dung

Môn: KINH TẾ VĨ MÔ

Nhóm sv thực hiện: Nhóm 2

Lớp: Nhân lực - K35

2/ Nguyễn Vũ Thanh Hằng (NL01)

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

IV Tầm quan trọng của vấn đề thất nghiệp 4

II Tính cứng nhắc của tiền lương thực tế và thất nghiệp chờ việc 5

I Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam 10

IV Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội 17

Lý do chọn đề tài

Thất nghiệp là vấn đề kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến con người trực tiếp nhất và nghiêm trọng nhất Đối với hầu hết mọi người, mất việc đồng nghĩa với tình trạng giảm mức sống và sức ép tâm lý Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy thất nghiệp là chủ đề thường được nêu ra trong các cuộc tranh luận chính trị Đặc biệt trong những năm gần đây, dưới tác động của sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu, vấn đề thất nghiệp đã trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết Nghiên cứu thất nghiệp để phát hiện ra nguyên nhân gây ra nó, thấu hiểu hiện trạng thực tế của vấn đề và góp phần cải thiện tình hình thông qua việc đề ra những chính sách của nhà nước đối với tình trạng thất

Trang 3

nghiệp Đây là lý do để nhóm chúng em bắt tay nghiên cứu đề tài: “Thất nghiệp ở Việt

Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”.

A – CƠ SỞ LÝ THUYẾT

I Một số khái niệm:

a Lực lượng lao động:

 Lực lượng lao động trong nền kinh tế bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang làm việc và những người thất nghiệp

 Lực lượng lao động không bao gồm những người đang đi học, không tìm việc

và không có khả năng lao động

b Thất nghiệp là gì?

Thất nghiệp, trong kinh tế học, là tình trạng người trong độ tuổi lao động muốn

có việc làm, có đăng kí tìm việc và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm Việc làm phải là những việc có ích, được luật pháp công nhận, tạo ra thu nhập hoặc tạo điều kiện gia tăng thu nhập cho những người trong gia đình Theo những tiêu chuẩn thống kê dân số hiện nay, một cá nhân được tính là người thất nghiệp phải có đủ các điều kiện sau:

 Trong độ tuổi lao động (từ tuổi 15 đến 55 đối với nữ và 60 đối với nam)

 Mong muốn và sẵn sàng làm việc

 Đã và đang tích cực tìm kiếm việc làm

 Không có việc làm

c Tỷ lệ thất nghiệp (U):

Là tỷ lệ phầm trăm số người thất nghiệp chiếm trong lực lượng lao động, được tính theo công thức:

II Phân loại thất nghiệp:

a Phân loại theo nguyên nhân:

Trang 4

Thất nghiệp tạm thời: gồm những người vừa thay đổi nơi ở nên phải tìm việc

làm mới, sinh viên mới ra trường đang tìm việc, những người không hài long với việc làm hiện tại, sẵn sang nghỉ việc để tìm việc khác phù hợp hơn

Thất nghiệp cơ cấu: Khi nền kinh tế chuyển đổi cho ra đời những ngành sản

xuất mới (thiếu lao động) thì những ngành sản xuất cũ sẽ bị thu hẹp đi (thừa lao động) Thất nghiệp sẽ xảy ra vì công nhân ở ngành cũ phải được đào tạo lại để làm việc trong ngành mới

Thất nghiệp chu kỳ: xuất hiện khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái.

b Phân loại theo tính chất:

Thất nghiệp tự nguyện: là những người thất nghiệp do đòi hỏi mức lương cao

hơn mức lương hiện hành

Thất nghiệp không tự nguyện (thất nghiệp cổ điển): là những người muốn có

được việc làm ở mức lương hiện hành nhưng lại không có việc làm

III Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên:

Lúc nào trong nền kinh tế cũng có tồn tại một số người thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là mức bình quân mà tỷ lệ thất nghiệp biến động xoay quanh

nó Được xác định bằng công thức:

U

L =

s s+f

Trong đó:

U/L là tỷ lệ thất nghiệp (U là số người thất nghiệp, L là lực lượng lao động).

s là tỷ lệ mất việc.

f là tỷ lệ tìm được việc làm.

Ý nghĩa: Bất kỳ chính sách nào nhằm cắt giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên đều

phải giảm tỷ lệ mất việc hoặc tăng tỷ lệ tìm được việc làm

Tính chất: Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên không phải là một con số bất biến mà có

khuynh hướng tăng lên do nền kinh tế năng động luôn biến động liên tục; do

sự tham gia vào lực lượng lao động của của thanh niên, phụ nữ, những người

Trang 5

di dân,… và do những thay đổi trong các chính sách của chính phủ Tỷ lệ thất nghiệp luôn lớn hơn 0

IV Tầm quan trọng của vấn đề thất nghiệp.

Thất nghiệp là vấn đề kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến con người trực tiếp nhất và nghiêm trọng nhất Đối với hầu hết mọi người, mất việc đồng nghĩa với tình trạng giảm mức sống và sức ép tâm lý Vậy tại sao lại có thất nghiệp và những yếu tố nào quyết định quy mô của nó?

B - NGUYÊN NHÂN

I Sự tìm kiếm việc làm và thất nghiệp tạm thời.

1 Sự tìm kiếm việc làm:

 Một nguyên nhân gây ra thất nghiệp là công nhân cần có thời gian để tìm việc làm Bởi lẽ, công nhân có những sở thích và năng lực khác nhau Hơn nữa, các nguồn thông tin về người muốn tìm việc làm và chỗ làm việc còn trống không luôn luôn trùng pha, ăn khớp, sự cơ động về mặt địa lí của công nhân cũng không diễn ra ngay lập tức Quá trình tìm kiếm việc làm thích hợp đòi hỏi phải có thời gian và nỗ lực Dĩ nhiên, vì công việc khác nhau đòi hỏi các loại chuyên môn khác nhau và đem lại mức lương khác nhau, nên những công nhân thất nghiệp

có thể không chấp nhận công việc đầu tiên mà họ tìm được

2 Thất nghiệp tạm thời:

 Tình trạng thất nghiệp do công nhân cần có thời gian để tìm kiếm việc làm gọi là

thất nghiệp tạm thời Mức độ thất nghiệp tạm thời nào đó là cần thiết trong nền

kinh tế thay đổi

 Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các loại hàng hóa mà doanh nghiệp và hộ gia đình có nhu cầu thay đổi theo thời gian Khi nhu cầu về hàng hóa thay đổi, nhu cầu về lao động để sản xuất ra các loại hàng hóa đó cũng thay đổi theo

VD: Việc phát minh ra máy tính cá nhân làm giảm nhu cầu về máy đánh chữ, dẫn tới sự giảm sút nhu cầu về lao động của các công ty sản xuất máy đánh

Trang 6

Lượng thất nghiệp

Cầu

Tiền lương cứng nhắc

Lượng lao động được thuê

Lao động

chữ Đồng thời, điều này lại làm tăng nhu cầu về lao động trong ngành công nghiệp điện tử

 Tương tự, do các vùng khác nhau sản xuất những hàng hóa khác nhau, nhu cầu

về lao động có thể tăng ở vùng này, trong khi giảm ở vùng khác

VD: Sự gia tăng giá dầu có thể làm nhu cầu về lao động tăng ở các bang sản xuất dầu mỏ như Texas và giảm ở các bang sản xuất ôtô như Michigan

Sự thay đổi trong cơ cấu nhu cầu giữa các ngành hoặc vùng là sự dịch chuyển

giữa các ngành Vì sự dịch chuyển giữa các ngành thường xuyên xảy ra và vì

công nhân cần có thời gian để thay đổi ngành nghề của mình, nên thất nghiệp tạm thời luôn luôn tồn tại

II Tính cứng nhắc của tiền lương thực tế và thất nghiệp chờ việc.

Nguyên nhân thứ hai gây ra thất nghiệp là tính cứng nhắc của tiền lương – hay

còn gọi là thất bại của việc điều chỉnh tiền lương để cân bằng cung cầu lao động

 Trong mô hình cân bằng cung cầu lao động, tiền lương thực tế điều chỉnh để cân bằng cung cầu Tuy nhiên, tiền lương không phải lúc nào cũng linh hoạt Đôi khi tiền lương bị mắc ở mức cao hơn mức làm cân bằng thị trường

Trang 7

 Khi tiền lương thực tế cao hơn mức cân bằng thị trường, lượng cung về lao động lớn hơn lượng cầu Các doanh nghiệp phải áp dụng biện pháp nào đó để phân phối việc làm khan hiếm cho công nhân Tính cứng nhắc của tiền lương làm giảm tỷ lệ tìm được việc làm và làm tăng tỷ lệ thất nghiệp

 Tình trạng thất nghiệp phát sinh từ tính cứng nhắc của tiền lương và phân phối

việc làm được gọi là thất nghiệp chờ việc Thất nghiệp chờ việc phát sinh do

doanh nghiệp thất bại trong việc cắt giảm tiền lương, mặc dù có tình trạng dư cung về lao động

 Ba nguyên nhân làm cho tiền lương cứng nhắc: luật về tiền lương tối thiểu, sức mạnh độc quyền của công đoàn và tiền lương hiệu quả

1 Luật về tiền lương tối thiểu:

 Luật về tiền lương tối thiểu tạo ra mức tối thiểu bắt buộc của tiền lương mà các doanh nghiệp phải trả cho công nhân của mình Chính phủ đã gây ra sự cứng nhắc của tiền lương khi ngăn không cho tiền lương giảm xuống tới mức cân bằng

 Lưu ý : Đối với hầu hết công nhân, mức lương tối thiểu này không có tính chất ràng buộc, vì thu nhập của họ cao hơn nhiều so với mức tối thiểu Nhưng có một

số công nhân không lành nghề và thiếu kinh nghiệm, mức lương tối thiểu làm tăng tiền lương của họ lên trên mức cân bằng, điều đó làm giảm lượng cầu của doanh nghiệp về loại lao động này

2 Công đoàn và thương lượng tập thể:

 Nguyên nhân thứ 2 gây ra tính cứng nhắc của tiền lương là sức mạnh độc quyền của công đoàn Tiền lương của công nhân tham gia công đoàn không phải do trạng thái cân bằng cung cầu, mà do sự thương lượng tập thể giữa những người lãnh đạo công đoàn và hội đồng quản trị doanh nghiệp quyết định Thông thường, hợp đồng cuối cùng làm cho tiền lương tăng lên trên mức cân bằng và cho phép doanh nghiệp quyết định thuê bao nhiêu lao động Kết quả là số lượng công nhân được thuê giảm đi và số người thất nghiệp chờ việc tăng lên

Trang 8

 Hầu hết các doanh nghiệp đều không thích công đoàn Công đoàn không chỉ làm tăng tiền lương, mà còn làm tăng sức mạnh của người lao động trong quá trình thương lượng về nhiều vấn đề, vd: số giờ lao động, điều kiện lao động… Công đoàn cũng có thể tác động tới mức lương mà doanh nghiệp trả cho những công nhân không tham gia công đoàn, vì sự đe dọa thành lập công đoàn có thể giữ cho tiền lương cao hơn mức cân bằng

3 Tiền lương hiệu quả:

 Các lý thuyết về tiền lương hiệu quả là nguyên nhân thứ 3 làm cho tiền lương cứng nhắc Những lý thuyết này quả quyết rằng tiền lương cao làm cho công nhân có năng suất lao động cao hơn

 Lý thuyết thứ nhất về tiền lương hiệu quả được áp dụng ở hầu hết các nước

nghèo cho rằng tiền lương ảnh hưởng tới dinh dưỡng Những công nhân được

trả lương cao hơn có thể mua được thức ăn giàu dinh dưỡng hơn, họ khỏe mạnh hơn và có năng suất cao hơn Do đó, doanh nghiệp có thể quyết định trả lương trên mức cân bằng để nuôi dưỡng lực lượng lao động khỏe mạnh

Lý thuyết thứ hai đúng với các nước phát triển hơn cho rằng tiền lương cao làm

giảm tình trạng bỏ việc Công nhân có nhiều lý do để bỏ việc – để nhận được

việc làm tốt hơn ở các doanh nghiệp khác, thay đổi ngành nghề hoặc chuyển đến các vùng khác của đất nước Thông qua việc trả lương cao, doanh nghiệp giảm bớt được tần suất bỏ việc, qua đó giảm được thời gian tuyển dụng và đào tạo công nhân mới

Lý thuyết thứ ba cho rằng chất lượng bình quân của lực lượng lao động trong

một doanh nghiệp phụ thuộc vào mức lương trả cho người lao động của mình.

Nếu doanh nghiệp cắt giảm tiền lương, những người lao động giỏi nhất sẽ tìm việc làm ở nơi khác và trong doanh nghiệp chỉ còn lại những người lao động không có cơ hội kiếm được việc làm khác Hiện tượng này được gọi là “lựa chọn bất lợi” Thông qua biện pháp trả lương trên mức cân bằng, doanh nghiệp có thể giảm bớt sự lựa chọn bất lợi, nâng cao chất lượng bình quân của lực lượng lao động, qua đó tăng năng suất

Lý thuyết thứ tư cho rằng mức lương cao có thể làm tăng nổ lực của công nhân.

Doanh nghiệp không thể giám sát triệt để nỗ lực lao động của người công nhân,

Trang 9

họ có thể làm việc chăm chỉ, hoặc họ có thể chọn cách trốn việc, chấp nhận bị phát hiện và bị đuổi việc Hiện tượng này được gọi là “suy giảm đạo đức” Doanh nghiệp có thể khắc phục vấn đề này bằng cách trả lương cao Tiền lương càng cao, tổn thất mà công nhân phải chịu khi bị đuổi việc càng lớn, họ có động lực để

nỗ lực làm việc

III Tổng kết:

 Có 2 nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp: Sự tìm kiếm việc làm và tính cứng nhắc của tiền lương Trong đó, lại có 3 nguyên nhân dẫn đến sự cứng nhắc của tiền lương là luật về tiền lương tối thiểu, sức mạnh độc quyền của công đoàn và lý thuyết về tiền lương hiệu quả

 Một cách cụ thể hơn, gần với thực tế hơn, chúng ta hãy tham khảo bảng sau:

Trang 10

 Ta thấy một nguyên nhân có thể gây ra nhiều hơn một loại hình thất nghiệp Ví

dụ, suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế gây ra thất nghiệp nhu cầu nhưng cũng tác động đến một số ngành và lĩnh vực kinh tế gây ra thất nghiệp cơ cấu Chính sách tiền lương tối thiểu theo hướng cao có thể ảnh hưởng đến việc làm gây ra thất nghiệp cơ cấu, đặc biệt với những người tham gia thị trường lao động lần đầu và những người chưa có tay nghề hoặc tay nghề thấp; đồng thời làm giảm nhu cầu lao động của một số doanh nghiệp Cơ chế cứng trong sử dụng lao động tại doanh nghiệp nhà nước gây ra cả thất nghiệp

cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu vì chi phí lao động quá cao, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước thấp

Trang 11

C – THỰC TRẠNG Thất nghiệp ở Việt Nam

I Tình hình thất nghiệp ở Việt Nam

Thất nghiệp đang là nỗi sợ hãi của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là từ cuộc khủng hoảng năm 2008 Thất nghiệp trở thành mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu, vượt xa mọi vấn đề lo lắng thông thường khác, kể cả cái đói nghèo, nhất là khi khủng hoảng kinh tế, tài chính gõ cửa đến từng hộ gia đình

1/ Năm 2008:

 Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, số người mất việc làm năm 2008 khoảng 667.000 người, 3.000 lao động từ nước ngoài phải về nước trước thời hạn Theo Bộ Lao Động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào khoảng 4,65% Tức là khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm

 Danh sách các doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động, thu hẹp sản xuất ngày càng dài thêm trong các báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP HCM Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và làn sóng thất nghiệp đã lan đến Việt Nam - khi hàng ngàn lao động ở các thành phố đã bị mất việc làm trong những tháng cuối năm này

 Trong thông báo gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP HCM, Công ty TNHH Sambu Vina Sport cho biết sẽ giảm 224 lao động kể từ ngày 11-1-2009 Trước đó, nhiều doanh nghiệp cũng đã thông báo về việc cắt giảm lao động như Công ty Sony Việt Nam, Công ty liên doanh RSC, Công ty TNHH Castrol BP Petco, Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Dai-Ichi Việt Nam với tổng số lao động bị mất việc trên 1.000 người Hàng ngàn lao động mất việc cuối năm 2008 Hàng vạn người bị nợ lương, không có tiền thưởng Nhiều người có cũng như không, vì tiền thưởng cho một năm lao động cật lực không đủ ăn bát phở

Trang 12

Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động

năm 2008 phân theo vùng (Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam)

 Theo Tổng cục Thống kê (TCTK), chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta những năm gần đây chỉ được tính cho khu vực thành thị, với những người trong độ tuổi

15-60 với nam và 15-55 với nữ Tuy nhiên, để đánh giá về tình hình lao động, còn một chỉ tiêu khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm Đây là chỉ tiêu quan trọng được tính cho cả lao động ở khu vực nông thôn và thành thị, nhưng từ trước đến nay chưa công bố Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn tỷ lệ thất nghiệp; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị Với cách hiểu như vậy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam hiện là 4,65%, tăng 0,01%

so với năm 2007 Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007 Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3% 5 năm lại đây, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm 0,1-0,2%/năm Nhưng do ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới, từ năm 2007 đến nay, tỷ lệ này đang tăng dần Người lao động được phỏng vấn cho biết, nếu trong năm 2007 họ có thể có việc làm 20 ngày/tháng thì đến cuối 2008, họ chỉ có việc làm khoảng 10 ngày/tháng, trong đó

số ngày làm các công việc xây dựng giảm khoảng 70%, các công việc khác như khuân vác, chuyển đồ, thu dọn vệ sinh… giảm khoảng 30% Tiền tiết kiệm hàng tháng trung bình giảm mạnh và hầu như không có

Ngày đăng: 31/10/2018, 09:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w