1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LICH SU MI THUAT potx

13 355 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 96,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó nền Mỹ thuật Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của một số nền văn hóa xung quanh ở một vài nội dung và trong những thời kỳ nhất định, nhưng phong cách sáng tạo hoàn toàn mang đặc đi

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử nhưng dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy được truyền thống giữ nước và yêu nước Mặc dù đã không ít lần dân tộc ta

bị giặc ngoại xâm chiếm đóng và thống trị, nhưng không phải vì thế mà đất nước ta bị suy tàn, văn hoá dân tộc bị mai một Bởi với tinh thần đấu tranh anh dũng và kiên cường của dân tộc ta, cho nên đến nay đất nước ta không những không bị tán phá, nền văn hoá nghệ thuật của chúng ta không những không bị đồng hoá mà bản sắc văn hóa dân tộc của ta còn được giữ vững và khẳng định hơn Bên cạnh đó nền Mỹ thuật Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của một số nền văn hóa xung quanh ở một vài nội dung và trong những thời kỳ nhất định, nhưng phong cách sáng tạo hoàn toàn mang đặc điểm, tinh thần,

tư tưởng và quan niệm tạo hình của người Việt Nam Do đó, những tác phẩm mỹ thuật Việt Nam từ ngàn xưa đến nay đã phản ánh được cuộc sống , sinh hoạt con người và cảnh vật của quê hương đất nước, với một phong cách Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc

Chính vì thế ngày nay chúng ta giữ được nhiều tác phẩm có giá trị kể các tác phẩm thời nguyên thủy

Vào năm 1960, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy di tích núi Đọ, thuộc xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá Hàng ngàn hiện vật khảo cổ được phát hiện Mặc dù đó là những mảnh tước, hạch đá, các công cụ chặt, nạo, rìu tay được chế tác rất thô sơ và nghèo nàn về loại hình, song nó đã chứng tỏ sự có mặt làm ăn sinh sống của những người nguyên thuỷ trải dài trên đất nước Việt Nam của chúng ta Trên cơ sở đó đến cuối thời kỳ đồ đá mới, mỹ thuật đã phát triển hơn một nửa bước so với thời kỳ trước Tuy vậy phải đến thời kỳ đồ đồng, chúng ta mới tìm hiểu được nhiều tác phẩm mỹ thuật, thuộc nhiều loại hình nghệ thuật tạo hình

Trang 2

Trở về với thời kỳ xa xưa nhất của lịch sử mỹ thuật dân tộc, chúng ta thử đi tìm hiểu về sử hình thành và phát triển của mỹ thuật Việt Nam, những loại hình nghệ thuật tạo hình nào xuất hiện sớm nhất? Mỹ thuật nguyên thuỷ Việt Nam có phong phú, đa dạng như nghệ thuật nguyên thuỷ thế giới hay không? Trong xã hội thời nguyên thuỷ, trình độ mỹ thuật phát triển ở mức

độ nào? Mỹ thuật thời nguyên thuỷ có những đặc điểm, giá trị cơ bản nào? Chúng ta cùng tìm hiểu mỹ thuật thời kỳ này để hiểu được những bước đi khởi đầu của nền nghệ thuật tạo hình dân tộc

B NỘI DUNG

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG

1.1 Khái niệm về Mỹ thuật

Mỹ thuật là nghệ thuật tạo ra cái đẹp nhằm phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Mỹ thuật là nghệ thuật của thị giác hoặc nghệ thuật của mặt phẳng, của không gian, bằng cách sắp xếp đường nét, hình mảng, hình khối, đậm nhạt, màu sắc… với các chất liệu phong phú đa dạng.Những gì trong giới tự nhiên và trong đời sống xã hội đem lại sự thích thú, sự khoái cảm đều được coi là cái đẹp như: cảnh đẹp chùa Tây Phương, chùa Hương Tích, một công trình kiến trúc đẹp, một tác phẩm hội họa, điêu khắc đẹp…

1.2 Nguồn gốc Mĩ thuật

Mỹ thuật Việt Nam không phải được xuất hiện cùng một lúc với buổi sơ khai của xã hội loài người, mà mãi đến cuối thời kỳ đồ đá cũ mới xuất hiện Như vậy là khoảng vài nghìn năm trước công nguyên bắt đầu có những dấu hiệu đầu tiên về nghệ thuật tạo hình Lúc đó con người đã khá trưởng thành,

đã có tiếng nói và đã biết chế tạo công cụ lao động khá phức tạp bằng nhiều chất liệu như đá, xương, sừng động vật… Cũng như ngôn ngữ, tiếng nói của người nghệ sĩ tạo hình phát sinh từ thời nguyên thủy trên cơ sở lao động do quá trình nhận thức lâu dài thế giới hiện thực Nhờ săn bắn mà con người

Trang 3

nhận ra nhịp điệu, người nguyên thủy vẽ được những con bò rừng sinh động, những hình người nhảy múa náo nhiệt…Như vậy, ta có thể thấy rõ lao động

đã xuất hiện trước nghệ thuật Trong quá trình chế tạo công cụ lao động, con người đã nghĩ đến cái có ích trước, có nghĩa là làm sao cho công cụ lao động tiện dụng trong việc kiếm thức ăn, săn bắn thú vật… Đến một lúc nào đó, khi công cụ lao động đạt đến độ hoàn thiện thì “cái đẹp” cũng có nghĩa là

“nghệ thuật” mới xuất hiện Trong quá trình lao động và đấu tranh xã hội, nhu cầu khách quan của lịch sử, do vận động của các mối quan hệ thẩm mỹ

mà có những hình thức hoạt động nghệ thuật khác nhau đã ra đời, trong đó

có nghệ thuật tạo hình Bắt đầu là những hình vẽ trên vách, trần, các hang động nơi người nguyên thủy từng cư trú Lúc mới hình thành, tư duy của con người chưa phát triển, con người chưa nhận thức được thế giới, do đó thiên nhiên đối với con người lúc đó còn mờ mịt, bí hiểm Càng ngày con người càng phát triển hoàn thiện hơn về tư duy và ý thức… họ nhận thức được thế giới xung quanh Nghệ thuật chính là sự biểu hiện những nhận thức đó bằng một thứ “ngôn ngữ” đặc biệt: ngôn ngữ hình tượng, màu sắc Nghệ thuật là một hình thái của ý thức xã hội, hơn thế nó còn là một hình thái đặc biệt của

ý thức xã hội Nghệ thuật có sự liên quan mật thiết với các hình thái ý thức khác thuộc phạm trù triết học, pháp luật, đạo đức… Đồng thời nghệ thuật phản ánh quan hệ đa dạng của đời sống hiện thực Nói một cách khác, nghệ thuật chính là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội thông qua thế giới quan

và nhân sinh quan của người nghệ sĩ Tuy nhiên, đó cũng là một hình thái của ý thức xã hội nên nghệ thuật cũng luôn thay đổi theo lịch sử, theo thời đại, theo dân tộc Mỗi một hình thái ý thức phản ánh hiện thức theo đặc thù riêng của nó, không hình thái nào giống hình thái nào Phương tiện phản ánh của nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật lại được biểu hiện bằng những cách thức khác nhau đối với từng loại hình nghệ thuật

Trang 4

1.3 Mĩ thuật với cuộc sống con người

Ngay từ buổi đầu sơ khai con người đã biết làm đẹp bằng cách trang trí lên người những màu sắc có sẵn trong thiên nhiên, đeo lên người những xâu chuỗi bằng vỏ ốc, những lông chim, lông thú sặc sỡ… Đã biết chế tạo những công cụ lao động bằng đá, bằng đồng từ hình dáng thô sơ đến tiện dụng và thẩm mỹ

Cũng từ đó mỹ thuật luôn gắn bó với lịch sử phát triển của con người và ngày càng đạt tới mức độ nghệ thuật cao… Từ những văn hoa trang trí đơn giản, mộc mạc, đến những họa tiết trang trí tinh vi, phong phú … Từ các nét, các kiểu trang phục khác nhau với các họa tiết, màu sắc khác nhau của các dân tộc, trải qua nhiều thời đại đã cho ta thấy một nền nghệ thuật đặc sắc, độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc

Ngày nay, trong đời sống xã hội mới, nhu cầu thẩm mỹ ngày càng phong phú và đa dạng nên yêu cầu mỹ thuật cũng phải đổi mới về chất lượng và kiểu dáng Chính vì vậy trong xã hội mới ngày nay mỹ thuật là giá trị không thể tách rời của con người Và nó trở thành nhân tố quan trọng để hoàn thiện cuộc sống của con người hơn nữa Và Cuộc sống chỉ đẹp và có ý nghĩa khi con người biết tạo ra cái đẹp và sống hài hòa trong thế giới cái đẹp của thiên nhiên và do chính mình tạo ra

CHƯƠNG II: MĨ THUẬT VIỆT NAM THỜI NGUYÊN THỦY

2.1 Một vài nét về lịch sử thời nguyên thủy ở Việt Nam

Thời kì nguyên thủy là thời kì đầu tiên của xã hội loài người Theo khảo cổ học thời kì nảy sinh và phát triển của chế độ công xã nguyên thủy chính là thời đại đồ đá Ngoài ra thời nguyên thủy còn đồng nghĩa với thời tiền sử, thời kì chưa hình thành và ra đời lịch sử thành văn, các nhà khảo cổ

Trang 5

học đã chia thời kì đồ đá thành 3 giai đoạn: thời kì đồ đá cũ- thời kì đồ đá giữa và thời kì đồ đá mới

2.2.1 Thời kì đồ đá cũ

Di tích núi Đọ – Thanh Hoá được xếp vào thời kỳ đồ đá cũ.Đây là nơi

cư trú của người Việt cổ, đồng thời cũng là nơi chế tạo ra các công cụ bằng

đá thô sơ Đó là những mảnh tước, công cụ chặt, rìu tay, nạo Thời kỳ này cách chúng ta mấy vạn năm và là thời kỳ tổ chức xã hội đang hình thành Trải qua quá trình phát triển, con người dần dần bước vào chế độ thị tộc nguyên thuỷ Để có thể tồn tại và sinh trưởng trong điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên, con người phải tụ họp lại với nhau sống thành những cộng đồng, những bầy người trong các hang động tự nhiên Với công cụ cằng đá thô sơ họ sống chủ yếu bằng nghề săn bắn và hái mượn

Đến thời kỳ đồ đá cũ, người Việt cổ đã cư trú trên một địa bàn khá rộng Các

di tích khảo cổ học đã cho chúng ta thấy di tích của thời kỳ này có ở nhiều nơi: Miền Bắc từ Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu đến Bắc Ninh, Bắc Giang Miền Trung từ Thanh Hoá, Nghệ An đến Quảng Trị Thời kỳ này các bầy người nguyên thuỷ đã tập hợp lại với nhau thành các thị tộc, bộ lạc Mỗi thị tộc gồm vài ba thế hệ cùng huyết thống Nhiều thị tộc đã hợp lại thành một

bộ lạc Đến thời kỳ này, kỹ thuật chế tác đồ đá đã tiến thêm một bước phát triển và ngày càng hoàn thiện để phục vụ con người

Ngày nay, nhờ sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, với nhiều phương tiện, thiết bị và điều kiện làm việc các nhà khảo cổ học đã phát hiện thêm nhiều di tích văn hoá Sơn Vi: Năm 1993 tìm được di tích văn hoá ở huyện Do Linh (Quảng Trị), năm 1994 phát hiện thêm di tích văn hoá Sơn Vi ở đảo Cồn Cỏ Những phát hiện mới này cho thấy rõ hơn về lịch sử thời kỳ đầu tiên của dân tộc chúng ta

2.2.1 Thời kì đồ đá giữa

Trang 6

Sau văn hoá Sơn Vi, người Việt cổ bước vào thời kỳ đồ đá giữa, tương đương với nền văn hoá Hoà Bình Xã hội nguyên thuỷ chuyển sang thời kỳ văn hóa Hoà Bình đã tiến thêm một bước cao hơn Ngoài cuộc sống săn bắn, hái lượm, các cư dân văn hoá Hoà Bình đã bắt đầu làm nông nghiệp Những dấu vết về một nền nông nghiệp sơ khai được tìm thấy ở nhiều nơi như: hang Sũng Sàm – Hoà Bình…Đến thời kỳ văn hoá Hoà Bình, con người đã định cư lâu dài hơn so với thời kỳ đồ đá cũ Nếu ở núi Đọ – Thanh Hoá không có kết cấu tầng văn hoá, thì đến văn hoá Hoà Bình có tầng văn hoá dày tới 3,7 m Năm 1930, Cô-la-ni khai quật ở Quảng Bình, Ninh Bình cũng gặp những di chỉ văn hoá tương tự như ở Hoà Bình Ngoài dấu vết của văn hoá Hoà Bình còn tìm thấy ở Hạ Long, Nghệ An Con người thời kỳ này thường làm lều, nhà cửa ở hang gần sông, suối Bên cạnh các công cụ lao động bằng đá còn tìm được các công cụ, vũ khí bằng tre, nứa, xương, sừng rất phong phú Đồ trang sức bằng vỏ sò, ốc, xương thú cũng đã bắt đầu xuất hiện Điều này cho thấy cuộc sống của các bộ lạc người Việt cổ đã phát triển thêm một bước Cùng với săn bắn, hái lượm, con người đã biết trồng trọt Nền văn minh nông nghiệp bắt đầu được hình thành Tín ngưỡng tôn giáo bắt đầu xuất hiện với hình thức sơ khai nhất : Tô tem giáo

2.1.3 Thời kì đồ đá mới.

Thời kỳ đố đá mới bắt đầu vào khoảng thiên niên kỷ VI trước công nguyên Địa bàn cư trú của người Việt cổ lan rộng trong cả nước từ miền núi tới miền biển và trung du, dân số ngày càng tăng Công cụ sản xuất thời kỳ văn hoá Bắc Sơn đã tiến bộ hơn trước rất nhiều Vẫn là những công cụ bằng

đá cuội, song kỹ thuật chế tác không dừng lại ở ghè, đẽo Các cư dân thời kỳ này đã biết sử dụng kỹ thuật mài đá tạo ra các lưỡi rìu mài, có tra cán Với công cụ lao động mới, năng suất lao động đã tăng lên rất nhiều Chăn nuôi, trồng trọt phát triển mạnh Thời kỳ này được gọi là thời kỳ cách mạng đồ đá

Trang 7

Ngoài công cụ và đồ dùng bằng đá, dân cư thời này đã biết chế tạo ra đồ gốm Như vậy, có thể nói cuộc sống sinh hoạt, làm ăn của cư dân thời kỳ đồ

đá mới tiến bộ hơn rất nhiều so với thời kỳ trước Bên cạnh việc săn bán, hái lượm, nhiều nghề mới xuất hiện như trồng trọt, chăn nuôi, đánh cá Nghề nông bắt đầu hình thành trong thời kỳ đồ đá giữa, đến nay tiếp tục phát triển

và trở thành một trong những ngành chính Cây trồng quan trọng và chủ yếu chính là cây lúa Đời sống vật chất phát triển đã kéo theo sự phát triển của đời sống tinh thần Đồ trang sức được chế tác trên nhiều chất liệu phong phú như đá, đất nung, vỏ ốc, vỏ trai, và nhiều thể loại khác nhau như vòng tay, vòng cổ, khuyên tai, Điều này chứng tỏ nghề thủ công đã rất phát triển hơn rất nhiều so với thời kì trước

Trong các mộ cổ được khai quật và qua cách chôn người chết, chúng ta

có thể hiểu thêm những quan niệm người Việt cổ về “cuộc sống” sau khi chết của con người Trong ngôi mộ chúng ta đã tìm được nhiều xương sọ và các xương khác được tô màu đỏ cùng các vật dụng, công cụ lao động Điều

đó cho thấy trong tư duy của người nguyên thuỷ đã hình thành quan niệm về một thế giới khác tồn tại chỉ khi con người từ giã cuộc sống ở thế giới đó, con người vẫn làm ăn sinh sống như thế giới thực tại

Thời kỳ đồ đá mới là giai đoạn cuối của thời kỳ nguyên thủy Tư duy của con người ngày một phát triển phong phú hơn Bàn tay ngày một khéo léo hơn Phân công lao động trong một bộ lạc ngày một rõ ràng, cụ thể và chuyên môn hoá hơn Đời sống ổn định lâu dài hơn Tất cả những điều đó là

sự chuẩn bị cho việc ra đời một chế độ xã hội mới và sự hoàn thành nhà nước ở giai đoạn sơ khai nhất

2.2 Quá trình phát triển mỹ thuật Việt Nam thời nguyên thủy

2.2.1 Mĩ thuật ở thời kì đồ đá giữa (cách nay khoảng 1 vạn năm)

Trang 8

Năm 1926, nhà khảo cổ học người Pháp, Ma-đơ-len – Cô-la-ni, đã đổ nhiều tâm sức nghiên cứu về nền văn hoá Hoà Bình và đến năm 1932, Hội nghị Quốc tế đã công nhận những nghiên cứu khảo cổ học của bà Trong lịch

sử mỹ thuật thế giới đến cuối thời kỳ đồ đá cũ đã xuất hiện những dấu vết đầu tiên về nghệ thuật tạo hình Ở Việt Nam, thời kỳ đồ đá cũ với văn hoá Sơn Vi, tìm được chủ yếu là hòn ghè và các công cụ chặt Để chia các giai đoạn văn hoá, các học giả cho rằng nếu chỉ dựa vào hình thái công cụ là chưa đủ mà phải dựa vào cấu tạo địa tầng di tích văn hoá của động, thực vật

ở tầng văn hoá Văn hoá Hoà Bình được xếp với thời kỳ đồ đá giữa và dần dần phát triển sang thời kỳ đồ đá mới Trong nhiều di tích thuộc nền văn hoá Hoà Bình chúng ta đã tìm được những dấu hiệu mỹ thuật đầu tiên Mặc dù

đó chỉ là những hình khắc đơn giản về nội dung và bằng trình độ tạo hình sơ khai nhưng sự xuất hiện của những hình khắc đã khẳng định được sự ra đời của nghệ thuật tạo hình của người Việt cổ Thời kỳ này con người vẫn ở trong hang động Nghệ thuật văn hoá Hoà Bình cũng chính là nghệ thuật hang động Ở hang động Lam Gan (Hoà Bình), người ta tìm được mũi dùi làm từ xương thú Hình sáu cái lá mọc so le đan thành hình ngọn cây được khắc ở đầu nhọn của mũi dùi Mặc dù rất nhỏ, song hình lá được khắc rõ và chi tiết Bốn trong sáu chiếc lá còn lại còn khắc cả đường gân song song Những hình khắc đó vừa mang lại vẻ đẹp cho mũi dùi, lại còn có tác dụng về mặt kỹ thuật Mặc dù vậy, phải đến các hình khắc trong hang Đồng Nội thuộc xã Đồng Tâm, huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình, chúng ta mới chứng kiến được hình vẽ, những tác phẩm hoàn thiện và độc lập hơn, chứng tỏ sự phát triển thêm một bước của mỹ thuật nguyên thuỷ Trên vách đá của lối đi vào hang Đồng Nội có bốn hình khắc với nét sâu và to Trong đó có ba hình mặt người và một hình mặt thú Mặt người ngoài cùng, có lẽ do mưa nắng nên đến nay chỉ còn một nửa Ba hình khắc được xếp thành một nhóm Mặt

Trang 9

to nhất với kích thước 31cm, rộng 34cm Các nét chi tiết mắt, mũi, miệng rõ ràng, cân đối Nét khắc dứt khoát, khoẻ Khuôn mặt vuông vức, đôi mày đậm gợi cho người xem cảm giác đây là chân dung một người đàn ông Hai mặt người hai bên có đặc điểm tạo hình khác với hình ở giữa Hình ở trong (cao 13cm, rộng 18cm) nét khắc mảnh và mềm mại hơn Nét cong của khuôn mặt được thể hiện rõ gợi khuôn mặt nữ hơn, các chi tiết của nét mặt mũi, miệng gần nhau Đặc biệt phía trên đầu của cả ba hình khắc đều có hình gần giống chữ Y Hình này gợi nhớ đến hình sừng thú Có nhiều giả thuyết

về hình này, song tập trung gồm hai giả thuyết Đây là một cách hoá trang để

có thể lại gần các con thú Đồng thời cũng có thể là một nghi lễ với một hình thức thờ phụng gì đó của người Việt cổ Nhóm thứ hai là hình khắc mặt thú

có kích thước to nhất (cao 57 cm, rộng 51cm) với đặc điểm miệng rộng, mắt tròn, cái mũi to và có sừng Bốn hình khắc ở hang động Đồng Nội một mặt chửng tỏ tư duy hình tượng và nghệ thuật của người Việt thời nguyên thuỷ

đã tiến thêm một bước Từ những hình đơn giản độc lập đã tiến thêm một bước có ý thức Mặt khác, trong các hình khắc đã bộc lộ khả năng quan sát

và thể hiện tỉ lệ mặt người, thú tương đối cân đối và hoàn thiện Ngoài ra còn thể hiện tài năng khéo léo của bàn tay qua nét khắc khoáng đạt và phong phú về độ sâu, độ to nhỏ, cứng cáp hoặc mềm mại Chỉ bằng bốn hình khắc đơn giản nhưng gợi cảm, người nghệ nhân nguyên thuỷ đã cho chúng ta ngày nay nhiều hiểu biết, suy đoán về con người và cuộc sống nguyên thuỷ xưa

2.2.2 Mỹ thuật thời kỳ đồ đá mới (cách ngày nay khoảng 5000 năm)

Theo các nhà khảo cổ học, thời kỳ đồ đá mới trên thế giới bắt đầu từ thiên niên kỷ VI đến thiên niên kỷ III trước công nguyên (TCN) Ở thời kỳ này nghệ thuật tạo hình phát triển đa dạng, phong phú, đề tài rộng sâu hơn Trong các tác phẩm chú ý đến tính đối xứng và nhịp điệu, sự lặp lại các yếu

Trang 10

tố hình tượng ở Việt Nam, thời kỳ đồ đá mới để lại dấu vết của nhiều nền văn hoá: Văn hoá Bắc Sơn, văn hoá Quỳnh Lưu, văn hoá Bàu Tró, văn hoá

Hạ Long… Đến cuối thời kỳ đồ đá mới, trên toàn bộ nước ta đã tụ cư nhiều nhóm bộ lạc trồng lúa Họ có kỹ thuật chế tạo đồ đá, đồ gốm tương tự như nhau Trên cơ sở đó, nghệ thuật tạo hình cũng phát triển ở nhiều nơi khác nhau từ miền núi đến miền biển, đồng bằng Dấu vết của văn hoá Bắc Sơn tìm được ở nhiều nơi như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hoà Bình…

Cùng với sự ngẫu nhiên người nguyên thuỷ phát hiện ra đồ gốm, những hoa văn đầu tiên cũng ngẫu nhiên xuất hiện Bắt đầu là những dấu nan đan, dấu vân tay còn lại trong quá trình nặn, làm đồ đựng nước dần dần được thay đổi, phát triển thành một hệ thống hoa văn phong phú Tất cả đều được bắt nguồn từ hiện thực, từ những hình mẫu có sẵn trong tự nhiên được đơn giản hay cách điệu hoá Các hoa văn này ngoài mục đích trang trí cho đồ gốm, còn tạo sự tiện dụng như dễ bưng bê, di chuyển

Một số đồ gốm được tìm thấy ở Minh Cầm, Bàu Tró còn được trang trí bằng những bằng màu đỏ rộng từ 10mm đến 25mm hoặc những đường song song Ngoài ra còn tìm được những vỏ ốc, rùi đá được nhuộn màu đỏ cùng với những miếng thổ hoàng đỏ, những mảnh đá, vỏ sò, vỏ ngao dùng để nghiền màu, đựng màu Những vỏ ốc, rùi đá tô màu đỏ là những vật chôn theo người chết Như vậy, đến thời kỳ đồ đá mới ngoài khả năng tạo hình và trang trí, người nguyên thuỷ đã biết dùng màu sắc, nhất là màu đỏ thổ hoàng Theo cố Giáo sư Chu Quang Trứ, ở một số nước, một số dân tộc trên thế giới như người Mê-la-nê-diêng, người Tân Dê-lan… dùng phẩm màu đỏ trong một số tục lệ để biểu thị sức sống và sự tái sinh Người Việt từ thời nguyên thuỷ đến nay vẫn sử dụng nhiều màu đỏ trong đám tang, có lẽ cũng không nằm ngoài mong muốn đó Thế giới tìm được rất nhiều hình vẽ chứng

tỏ sự có mặt của một nền hội hoạ, nhưng về nghệ thuật chạm khắc trên đất

Ngày đăng: 18/06/2014, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w