47 CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG TRONG PHẬT GIÁO VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY .... Vài nét về thực trạng đạo đức và ý nghĩa của tư tưởng bình đẳn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ BÌNH ĐẲNG VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG TRONG PHẬT GIÁO 12
1.1 Khái lược về tư tưởng bình đẳng 12
1.1.1 Khái niệm bình đẳng 12
1.1.2 Tính lịch sử của khái niệm “bình đẳng” 14
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Ấn Độ cổ đại – cơ sở hình thành tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo 20
1.2.1 Vị trí địa lý và hoàn cảnh tự nhiên 20
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội Ấn Độ cổ đại 22
1.3 Quá trình hình thành tư tưởng bình đẳng của Đức Phật Thích Ca 26
1.3.1 Con đường tìm đạo của Đức Phật Thích Ca 26
1.3.2 Gương bình đẳng của Đức Phật Thích Ca 33
1.4 Quan niệm của Phật giáo về vũ trụ và nhân sinh – nền tảng của tư tưởng bình đẳng 36
1.4.1 Quan niệm của Phật giáo về vũ trụ 36
1.4.2 Quan niệm của Phật giáo về nhân sinh 41
Kết luận chương 1 47
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG TRONG PHẬT GIÁO VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY 49
2.1 Thực tướng bình đẳng của Vạn pháp 49
2.2 Tư tưởng bình đẳng dưới góc độ đạo đức 54
Trang 42.2.1 Bình đẳng – cội nguồn của từ bi 55
2.2.2 Bình đẳng trước nhân quả, nghiệp báo 60
2.2.3 Bình đẳng trước cơ hội giải thoát 66
2.2.4 Phương pháp thực hành bình đẳng 70
2.3 Một số khía cạnh xã hội của tư tưởng bình đẳng trong phật giáo 77
2.3.1 Bình đẳng tôn giáo giữa người và người 77
2.3.2 Vấn đề bình đẳng nam nữ trong Phật giáo 81
2.3.3 Vấn đề bình đẳng giữa tăng và ni 86
2.4 Vài nét về thực trạng đạo đức và ý nghĩa của tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay 90
2.4.1 Khái niệm đời sống đạo đức 90
2.4.2 Vài nét về thực trạng đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay 93
2.4.3 Ý nghĩa của tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay 97
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ra đời tại quê hương Ấn Độ trên 2.500 năm qua, Phật giáo đã lan tỏa rộng rãi trên thế giới, hấp dẫn nhân loại bằng tư tưởng triết học sâu sắc và tính nhân văn trong hệ thống giáo lý của mình Tại Việt Nam, Phật giáo đã được du nhập vào rất sớm và đã trở thành một thành tố tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Từ trong lịch sử, những giá trị nhân văn của Phật giáo mang tính phổ quát như từ bi, bình đẳng, nhân ái, khoan dung…đã thẩm thấu vào trong đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt Nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng, Phật giáo đã sát cánh cùng dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
Triết lý của đạo Phật về Phật tính bình đẳng nơi chúng sinh, về chủ trương xóa bỏ hàng rào vô nhân đạo giữa con người với con người mang giá trị nhân bản sâu sắc.Đức Phật Thích Ca đã từng nói “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ Không có đẳng cấp trong nước mắt cùng mặn” Cách đây hơn 2.500 năm,
tư tưởng đó thật sự tiến bộ, mới mẻ, đáp ứng được khát vọng của người dân Ấn Độ đang phải sống trong chế
độ phân biệt đẳng cấp nghiệt ngã Điều này làm chúng ta liên tưởng đến Tuyên Ngôn Độc lập của nước Mỹ ngày 4/7/1776 và Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945
Hàng ngàn đời nay, nhân loại vẫn khao khát về một xã hội thật sự bình đẳng, một cuộc sống hạnh phúc cho tất cả mọi người, song điều đó vẫn chưa trở thành hiện thực Trên bình diện toàn cầu, chiến tranh tại một số khu vực vẫn đang xảy ra
Ở nước ta hiện nay, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là sự phân biệt giàu nghèo diễn ra nhanh chóng với hố ngăn cách ngày càng sâu
Mặt trái của kinh tế thị trường đã khiến đạo đức xã hội có sự xuống cấp nghiêm trọng Để chấn hưng nền đạo đức xã hội cần có nhiều biện pháp khác nhau, trong đó khơi dậy và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống đóng một vai trò vô cùng quan trọng Hiện tại, Phật giáo ở Việt Nam đang phát triển một cách
đa dạng và phong phú với xu hướng nhập thế, cứu đời bằng những công việc rất cụ thể Nghiên cứu tư tưởng bình đẳng – một giá trị căn bản của đạo Phật để hiểu Phật giáo một cách sâu sắc hơn, nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của Phật giáo vào việc kiến tạo đời sống đạo đức xã hội là một điều cần thiết
Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phật giáo là một hệ thống tôn giáo – triết học đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong
và ngoài nước Có một khối lượng khá đồ sộ các công trình nghiên cứu tổng quan về Phật giáo hay các khía cạnh khác nhau về Phật giáo Riêng về tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo cho đến nay chưa có công trình
chuyên biệt nào nghiên cứu trọn vẹn về vấn đề này Nghiên cứu tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo
không thể tách rời việc khảo cứu những công trình nghiên cứu cơ bản về đạo Phật, bởi vì trong hệ thống giáo
lý Phật giáo, các tư tưởng đều có liên quan mật thiết với nhau Chúng tôi phân chia các tư liệu thành hai
nhóm chính sau đây:
Trang 62.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về Phật giáo nói chung:
Nguyễn Lang với ba tập “Việt Nam Phật giáo sử luận”, Nguyễn Hùng Hậu với tác phẩm “Đại
cương Triết học Phật giáo Việt Nam, tập 1 (Từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV)
Trong số những cuốn sách viết về phật giáo nói chung có ba cuốn ảnh hưởng lớn nhất đến sự hình
thành ý tưởng cho tác giả là cuốn “Những hạt ngọc trí tuệ Phật giáo” của Thích Tâm Quang, “Đường xưa
mây trắng” của Thích Nhất Hạnh và “Phật học khái lược” của Lưu Vô Tâm
Ở nước ngoài, có các chuyên gia nghiên cứu về Phật giáo như Bác sĩ Kimura Taiken với tác phẩm bộ
ba: “Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận”, “Tiếu thừa Phật giáo tư tưởng luận”, “Đại thừa Phật giáo tư
tưởng luận” Buckkỹo Đennõ Kỹokai với “Lời Phật dạy”, Walpola Rahula với tác phẩm “Lời giáo huấn của Phật Đà”…
Những tác phẩm nói trên đã cung cấp những kiến thức cơ bản và sâu sắc về Phật giáo, là nền tảng để tác giả có thể triển khai nghiên cứu tư tưởng bình đẳng trong đạo Phật
Trong số những luận văn, luận án nghiên cứu về Phật giáo theo các khía cạnh khác nhau có luận án tiến
sĩ của Nguyễn Thị Toan“Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống
người Việt Nam hiện nay”, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 Tác giả đã trình bầy khá sâu sắc về phạm trù
giải thoát trong Phật giáo nguyên thủy, quan niệm về giải thoát trong Phật giáo Việt Nam và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Việt Nam hiện nay Vấn đề nhân sinh quan của Phật giáo được tác giả
đề cập theo hướng xoáy vào những nguyên nhân của sự giải thoát đó chính là nỗi khổ của đời người Vì vậy,
“Giải thoát” mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc và đây là cơ hội cho tất cả mọi người, mọi loài Từ luận án này chúng tôi cũng tìm thấy những gợi mở nhất định cho việc tìm hướng nghiên cứu cho luận văn của mình
Ngoài ra còn có luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Ngô Thị Lan Anh với đề tài“Ảnh hưởng của
“Tâm” trong Phật giáo với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay” Tác giả đã giải thích một cách cặn kẽ
những ý nghĩa của chữ “Tâm” trong Phật giáo và chỉ ra những ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay Tác giả đã vạch ra những thực trạng và giải pháp của sự ảnh hưởng đó trên các khía cạnh như: Ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức, quan hệ đạo đức Cuối cùng tác giả đi đến khẳng định những đóng góp mà đạo đức Phật giáo nói chung và phạm trù “Tâm” nói riêng tới việc xây dựng một đời sống đạo đức tốt đẹp cho con người Việt Nam trong thời đại ngày nay
Một số các công trình khác như: “Quan niệm về Nghiệp của Phật giáo và ý nghĩa của nó trong
việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Điệp,“Thuyết nhân quả qua lăng kính duy thức” của Huỳnh Thị Hà; Vũ Ngọc Hà với “Tư tưởng Phật giáo về nhân quả và một số ý nghĩa nhân văn của nó” Những đề tài trên đã khảo sát một cách có hệ thống về nội dung thuyết nhân quả,
thuyết nghiệp báo Đồng thời nói lên ý nghĩa cũng như tính cấp thiết của việc triển khai những phạm trù này trong cuộc sống hiện đại
2.2 Nhóm các công trình đề cập đến tư tưởng bình đẳng ở các góc độ khác nhau:
- Sách và các công trình nghiên cứu chuyên khảo:
Tác giả Thu Giang và Nguyễn Duy Cần với tác phẩm “Phật học tinh hoa” đã trình bày một cách bao
quát hệ thống tư tưởng Phật giáo, giải thích rõ ràng và tiến vào mức độ cao của Phật học Đặc biệt trong
Trang 7chương về thuyết “Nhân quả” và “Bình đẳng” đã gợi mở nhiều điều bí ẩn và sâu sắc trong hệ thống tư
tưởng Phật giáo
Cuốn sách gồm 5 chương của tác giả Đặng Thị Lan “Đạo đức Phật giáo và đạo đức con người Việt
Nam” Trong chương hai của cuốn sách tác giả đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của đạo đức Phật giáo
như từ bi, ngũ giới, nhân quả, nghiệp báo và luân hồi Trong chương này, tư tưởng bình đẳng trong Phật
giáo được tác giả trình bày như một khía cạnh của lòng Từ bi với một khẳng định rằng: Phật giáo chủ trương bình đẳng, đem tình yêu thương đến với muôn loài, hướng đến giải thoát con người Trong chương bốn, tác giả đã trình bày rất sâu sắc ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay bằng cách chỉ ra những thực trạng về đạo đức ở nước ta hiện nay và ảnh hưởng của
nó tới việc hình thành ý thức đạo đức, điều chỉnh hành vi đạo đức của con người Những nội dung được trình bày ở đây cũng là những gợi mở quan trọng để chúng tôi triển khai các nội dung trong luận văn của mình
Cuốn sách “Nghiệp và kết quả” của tác giả Thích Chân Quang đã minh chứng một cách thuyết
phục cho sự hiện hữu của luật nghiệp báo cũng như đường đi của nghiệp để dẫn đến những kết quả tương thích trong tương lai Với đường đi của Nghiệp thì tất cả mọi hành động sẽ tạo thành quả báo, người nào làm điều tốt sẽ được quả báo tốt đẹp, người nào gây tội ác sẽ tự mình gánh chịu hậu quả trong tương lai Đặc biệt, trong chương bốn của cuốn sách tác giả đã trình bầy về khái niệm “Bản thể tuyệt đối” được gợi mở như một thế giới, một sức mạnh và một chân lý sâu sắc nhiệm màu – kết quả của sự Giác ngộ mà Phật giáo đã chủ trương
- Các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Cùng tác giả Hoàng Thị Thơ trong Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo số 2 – 2007 với bài viết: “Vài suy ngẫm về
khoan dung tôn giáo trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam”, tác giả đã đưa ra một nhận định
rất có giá trị rằng chính mục tiêu giải thoát chúng sinh khỏi cái khổ nội tâm và con đường giải thoát bình đẳng giải thần quyền – mọi người đều bình đẳng trên con đường giải thoát và khả năng giải thoát, mỗi người
tự quyết định sự giải thoát cho mình chứ không phải Đức Phật hay Đấng Siêu Nhiên quyết định – là tiền đề lập thuyết có tính nhân văn bền vững để Phật giáo có thể dễ dàng được tiếp nhận ở nhiều nơi trên thế giới
Tác giả Thích Thọ Lạc với: “Tổ chức Tăng đoàn thời Đức Phật và những bài học cho việc tổ chức
Giáo hội hôm nay”, (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008), đã đưa ra những nguyên tắc ứng xử mà các vị
Tỳ Kheo thời Đức Phật phải tuân theo Tư tưởng bình đẳng được thể hiện khá rõ với việc tất cả mọi người trong tăng đoàn đều phải tuân theo những nguyên tắc này, không phân biệt bất cứ một ai
Tác giả Hoàng Liên Tâm với: “Có phải Phật giáo đại thừa là Bà la môn giáo?” (Tạp chí nghiên cứu
Phật học Số 3/ 2004) đã chỉ ra những bất công to lớn trong xã hội Ấn Độ cổ đại và khẳng định sự ra đời của Đạo Phật cùng tư tưởng bình đẳng thực sự như một luồng gió mới, một cuộc cách mạng giải phóng con người ra khỏi tình trạng bất công hà khắc về đẳng cấp xã hội… Ngoài ra, trong bài viết này tác giả cũng đề cập đến một số khía cạnh của khái niệm Bản thể tuyệt đối – một trong những nội dung được nói đến trong luận văn
Tác giả Đặng Thị Lan với bài viết: Phát huy giá trị Phật giáo trong điều kiện kinh tế thị trường, Hội thảo khoa học quốc tế “Quốc sư Khuông Việt và Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập” đã khẳng định
những giá trị tiến bộ của tư tưởng bình đẳng mà Đức Phật đã đề xướng cách ngày nay hơn 2.500 năm Trong
Trang 8bài viết, tác giả đã đề cập đến những đóng góp tích cực của Phật giáo trong xã hội hiện nay và ý nghĩa của việc phát huy những giá trị của Phật giáo trong việc xây dựng một nền đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường
- Luận văn và luận án
Trong luận văn thạc sỹ triết học (2009) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải tìm hiểu về“Đạo đức Phật
giáo qua Trung Bộ kinh” cũng đã khẳng định tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo nguyên thủy trên các
phương diện như: bình đẳng tôn giáo giữa người và người, bình đẳng Phật tính nơi chúng sinh Tư tưởng và hành động bình đẳng của đức Phật đã làm suy yếu chế độ phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội Ấn Độ
cổ đại…
Tóm lại, hầu hết các công trình nghiên cứu về Phật giáo đều đề cập đến những bất công xã hội và sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt trong xã hội Ấn Độ cổ đại và đi đến khẳng định Phật giáo đề xướng một xã hội bình đẳng và dùng tinh thần bình đẳng để đối xử với con người cũng như thế giới xung quanh Nhưng tất
cả cũng chỉ dừng lại ở đó Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp về tư tưởng bình đẳng như là một nội dung cấu thành hệ thống Tôn giáo – Triết học Phật giáo Nhận thấy đây chính là khoảng trống
trong nghiên cứu để tác giả khai thác và đào sâu Vì vậy mà chúng tôi quyết định chọn “Tư tưởng bình đẳng
trong Phật giáo” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở trình bày những điều kiện, tiền đề ra đời và nền tảng của tư tưởng bình đẳng
trong đạo Phật, luận văn làm rõ nội dung tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo và ý nghĩa của nó đối với đời sống đạo đức xã hội Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng bình đẳng trong giáo lý Phật giáo
nguyên thủy
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên nền tảng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về tôn giáo và vấn đề phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo
- Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, phương pháp logic, lịch sử, đối chiếu, so sánh…để thực hiện các nhiệm vụ đã nêu
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn bước đầu trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo
- Luận văn có ý nghĩa nhất định đối với việc giáo dục nhân sinh quan,
đạo đức, lối sống của người Việt Nam hiện nay
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập Phật giáo và đạo đức Phật giáo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm có 2 chương, 8 tiết
Trang 10CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ BÌNH ĐẲNG VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH
THÀNH TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG TRONG
PHẬT GIÁO
1.1 Khái lược về tư tưởng bình đẳng
1.1.1 Khái niệm bình đẳng
“Bình đẳng”, theo từ điển tiếng Việt, (bình: đều nhau, đẳng: thứ bậc) Bình đẳng là ngang nhau về
địa vị, quyền lợi
Bình đẳng (e‟galite‟ trong tiếng Pháp và equality trong tiếng Anh) có nghĩa là sự bằng nhau
Bình đẳng là sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân hay nhóm xã hội về một hay một số phương diện
xã hội nào đó Thí dụ, sự ngang bằng nhau về những quyền và nghĩa vụ công dân, về địa vị xã hội, về khả năng, cơ hội, mức độ thỏa mãn những nhu cầu cụ thể nhất định trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa
và tinh thần
Bình đẳng không loại trừ sự khác nhau về giới tính, lứa tuổi, chủng tộc, màu da v.v… Đó là sự khác nhau về mặt sinh học, tự nhiên chứ không phải là sự khác nhau về mặt xã hội
Khái niệm bình đẳng có liên quan đến khái niệm “công bằng”
Công bằng là khái niệm đạo đức – pháp quyền, đồng thời cũng là khái niệm chính trị xã hội Khái
niệm công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được đánh giá là bất công
Như vậy, bản chất của công bằng xã hội chính là sự phù hợp giữa một loạt khía cạnh thể hiện các phương diện khác nhau trong mối quan hệ giữa cái mà cá nhân làm và cái mà họ được hưởng từ xã hội Cái
mà cá nhân làm cho xã hội có thể là điều tốt lành, hoặc cũng có thể là điều xấu, có hại cho xã hội Còn cái
mà cá nhân được hưởng có thể là địa vị xã hội, quyền lợi, tiền công, phần thưởng, sự đánh giá, ghi công của
xã hội…, cũng có thể là sự trừng phạt thấp hoặc cao
Công bằng xã hội không chỉ thể hiện trong mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội mà còn thể hiện trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa các nhóm xã hội khác nhau
1.1.2 Tính lịch sử của khái niệm “bình đẳng”
Bình đẳng là khái niệm có tính lịch sử Khái niệm này có những nội dung khác nhau trong những thời đại lịch sử khác nhau Bình đẳng là khát vọng tự nhiên của con người Nó cũng là đề tài bàn luận của nhiều hệ thống triết học và tôn giáo khác nhau trên thế giới Mỗi hệ thống triết học và tôn giáo đều đưa ra những quan niệm về bình đẳng cũng như các chuẩn mực của sự bình đẳng đựa trên quan điểm của mình và thời đại lịch sử mà các hệ thống tôn giáo hay triết học ấy ra đời
Trung Quốc cổ đại với hệ thống triết học Nho giáo nổi tiếng mà người sáng lập là Đức Khổng Tử lỗi lạc xây dựng hệ tư tưởng của mình trên mối quan hệ bất bình đẳng trong xã hội Ông chia con người thành
ba cấp: quân – thần, phụ - tử, phu – phụ và đề cao trung, hiếu, tiết, nghĩa Trong xã hội mọi người được chia
thành người quân tử và kẻ tiểu nhân Những phẩm chất cao đẹp thì có ở người quân tử còn những tính cách
Trang 11hèn hạ thì ở kẻ tiểu nhân Không thể có sự bình đẳng giữa người dân thường và tầng lớp thống trị cũng như không tìm thấy sự hòa đồng giữa kẻ tiểu nhân và người quân tử Về sau, tư tưởng này còn được đẩy lên cao hơn với sự phát triển cực thịnh của Nho giáo Thuyết Tam cương (vua tôi, cha con, chồng vợ) của Đổng Trọng Thư chỉ xác định mối quan hệ một chiều, đòi hỏi trách nhiệm tuyệt đối của kẻ dưới đối với người trên
và uy quyền tuyệt đối của người trên đối với kẻ dưới: “Vua xử thần tử, thần bất tử bất trung”
Trong xã hội phương Tây cổ đại, vào thế kỷ I, đạo Ki Tô ra đời đã đem đến cho xã hội phương Tây một luồng gió mới, bởi vì ngài Jesu đã tuyên bố quyền bình đẳng cho con người “Mọi người đều bình đẳng với nhau trước Chúa”, rằng: “Tại đây không còn chia ra người Do Thái hoặc người Hy Lạp, không còn nô lệ hay chủ nhân, không còn đàn ông hay đàn bà, vì trong Đức Chúa Jesu Christ, anh em tất thảy đều là một” Tuy nhiên, xã hội phương Tây lại diễn ra sự phân biệt giai cấp nghiệt ngã giữa kẻ chủ nô và người nô lệ Trong đó những người nô lệ bị coi như một món hàng mà các ông chủ có quyền rao bán Augustino (354 – 430) là người đã cố chứng minh cho sự trường tồn vĩnh cửu của chế độ chiếm hữu nô lệ Theo ông, mặc dù bình đẳng giữa mọi người là quyền tự nhiên vốn có, tuy nhiên “kẻ nô lệ phải là nô lệ vì những tội lỗi của mình trước Chúa” Bởi vậy, nô lệ phải hoàn toàn cam chịu phục vụ chủ nô của mình Ông tuyên bố sự tồn tại
kẻ giàu và người nghèo là lý do “ý Chúa” “Sinh ra người giàu là để giúp người nghèo, sinh ra người nghèo
Chủ nghĩa Mác xuất phát từ chỗ cho rằng không thể có sự bình đẳng kinh tế (lĩnh vực sản xuất, phân phối, tiêu dùng những của cải vật chất), bình đẳng chính trị (lĩnh vực quan hệ giai cấp, dân tộc và giữa các quốc gia), bình đẳng văn hóa (lĩnh vực sản xuất, phân phối, tiêu dùng những của cải tinh thần), nếu không thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xóa bỏ các giai cấp bóc lột Chính vì vậy, trong thư gửi August Bebel ngày 18-28/3/1875 Ăngghen phê phán Látxan đã thay thế khẩu hiệu “xóa bỏ tất cả sự phân biệt giai cấp” bằng khẩu hiệu “xóa bỏ mọi bất bình đẳng về xã hội và chính trị” Ph.Ăngghen viết: “Như vậy, bản thân khái niệm về bình đẳng là một sản phẩm lịch sử, để chế tạo ra sản phẩm đó, cần phải có toàn bộ lịch sử trước đây; như vậy, khái niệm đó không phải đã tồn tại từ xưa đến nay như một chân lý vĩnh cửu Nếu như hiện nay, khái niệm đó đối với đa số người là cái gì đó hiển nhiên, thì đó không phải là do tính chất tiền đề của
nó, mà do việc truyền bá những tư tưởng của thế kỷ XVIII” [56, tr.842]
Tóm lại, bình đẳng theo quan niệm của triết học Mác là xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ sự bất bình đẳng và bất công lớn nhất đã từng tồn trong lịch sử, tạo điều kiện để phát triển công bằng và bình đẳng xã hội lên một bước mới Bình đẳng theo tinh thần của chủ nghĩa Mác là tiếng nói bênh vực cho người lao động, là những
nỗ lực giải phóng người lao động thoát khỏi chế độ bóc tư bản chủ nghĩa Nó giành lại tư liệu sản xuất về tay những người lao động, trả lại những giá trị về đúng với chủ nhân sáng tạo ra nó Đó là bình đẳng hiện thực Những tư tưởng và những cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Mác và Ph.Ăng ghen giải phóng giai cấp công
Trang 12nhân thực sự là một cuộc cách mạng vĩ đại của lịch sử Có thể khẳng định rằng cuộc cách mạng đó là một sự lựa chọn “duy nhất” trong bối cảnh lịch sử lúc đó Giải phóng người lao động khỏi sự „tha hóa lao động” đã tạo ra bước ngoặt lịch sử vĩ đại, đã giáng một đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa tư bản, buộc nó phải thay đổi hình thức cũng như cách thức quản lý và sản xuất theo hướng có lợi hơn cho người lao động trong những thế kỷ tiếp theo
Như vậy, cùng với sự phát triển của lịch sử, tư tưởng bình đẳng đã không ngừng được phát triển, bổ sung, mang dấu ấn của mỗi thời đại Tuy nhiên, khái niệm “Bình đẳng” không chỉ là một khái niệm thuộc về lĩnh vực chính trị - xã hội “Bình đẳng” còn mang ý nghĩa của một khái niệm thuộc về đạo đức – tôn giáo Phật giáo, từ thế kỷ VI tr CN, đã dương cao ngọn cờ bình đẳng, phản đối sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội Ấn Độ cổ đại Tư tưởng ấy đã đặt cơ sở cho toàn bộ đạo đức Phật giáo về sau
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Ấn Độ cổ đại – cơ sở hình thành tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo
1.2.1 Vị trí địa lý và hoàn cảnh tự nhiên
Tóm lại, thiên nhiên bao la, hùng vĩ, huyền bí và đầy uy lực của đất nước Ấn Độ vốn là cái nôi của con người từ thuở ban sơ nhưng cũng lại thường gây ra cho cuộc sống của con người biết bao những bất trắc
và hiểm họa khôn lường, đã khiến người dân Ấn Độ cảm thấy sức lực con người nhỏ bé mong manh, cuộc đời mau chóng hợp tan như phù du ảo ảnh; họ sớm nhận ra cuộc sống là vô thường mau chóng đổi thay, không có gì là vĩnh viễn để mà bám trụ Thiên nhiên khắc nghiệt đã đè nặng lên cuộc sống của người Ấn Độ
cổ đại, nên họ luôn khao khát được sống cuộc sống bình đẳng để không phải nhận thêm một gắng nặng cuộc đời nào nữa Phật giáo đã sớm nhận ra những mong muốn khắc khoải ấy của con người dân tộc mình và đã lên tiếng bảo vệ những người bình dân – vốn là những người phải gánh chịu nhiều nhất những tổn thất mà thiên nhiên mang lại Mặt khác, thiên nhiên bao la cũng là cái nôi nuôi dưỡng, đùm bọc con người Bởi thế
tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo cũng là tư tưởng hòa đồng với thế giới tự nhiên, nuôi dưỡng mối thâm tình với muôn loài
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội Ấn Độ cổ đại
Tư tưởng bình đẳng của Đạo Phật bắt nguồn từ đời sống của người dân Ấn Độ, nó chính là sự phản ánh những đặc điểm của sinh hoạt xã hội và những mâu thuẫn, những xu thế, yêu cầu tất yếu của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời Bằng cách xem xét như vậy mới có thể vạch ra một cách đúng đắn căn nguyên đích thực của tư tưởng bình đẳng trong hệ thống triết lý, tư tưởng, tôn giáo của Đạo Phật Về quan điểm này, chính Jawaharlal Nehru cũng đã nhấn mạnh: “Không thể không đồng ý rằng một nền văn hóa hay một nhân sinh quan dựa trên thuyết thế giới bên kia hay sự vô giá trị của thế giới lại có thể sản sinh ra tất cả những biểu hiện về cuộc sống mạnh mẽ và muôn vẻ như thế …, thông thường thì mỗi tư tưởng đều liên quan đến cơ cấu đời sống đang thay đổi” [13, tr.43] Điều đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm mà C.Mác đã khẳng định:
“Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người”; và không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [54, tr.37-38] Tuy nhiên, ý thức xã hội không bao giờ phản ánh tồn tại xã hội một cách cứng
nhắc, giản đơn, trực tiếp mà nó trải qua nhiều khâu trung gian, hết sức tinh tế và linh hoạt Tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo cũng không nằm ngoài quy luật ấy