1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN

90 327 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 597,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phật giáo được truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân dân Việt Nam, gắn bó với s

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hùng Hậu

Đà Nẵng – Năm 2014

Trang 2

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hà

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN 7

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1.1.Tư tưởng biện chứng của Phật giáo 7

1.1.2 Tư tưởng của Phật giáo thời Lý-Trần 13

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 18

1.2.1 Điều kiện chính trị, kinh tế-xã hội Việt Nam thời Lý - Trần 18

1.2.2 Văn hóa thời Lý - Trần 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN 33

2.1 TRIẾT LÝ VÔ THƯỜNG 33

2.2 QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢN THỂ VÀ HIỆN TƯỢNG 40

2.3 QUAN NIỆM VỀ NHÂN QUẢ, LUÂN HỒI NGHIỆP BÁO 61

2.4 QUAN NIỆM VỀ GIẢI THOÁT 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 83

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phật giáo là một trong những học thuyết triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, có lịch sử phát triển lâu đời cùng với hệ thống giáo lý đồ sộ và

số lượng phật tử đông đảo khắp thế giới

Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ vào khoảng thế kỉ VI trước Công nguyên Đây là thời kỳ xã hội Ấn Độ diễn ra sự phân chia đẳng cấp và mâu thuẫn giữa các đẳng cấp rất sâu sắc Cùng thời điểm này Ấn Độ đã và đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa các nhà duy vật và duy tâm, đấu tranh giữa các tôn giáo, bởi lẽ bên cạnh sự thống trị của đạo Bà la môn còn có sự hiện diện của Phật đà giáo và một số giáo phái khác, đồng thời tư tưởng duy vật thô sơ

và tư duy biện chứng đã xuất hiện

Giáo lý của đạo Phật tập trung vào hai vấn đề, một là khổ, hai là sự giải thoát ra khỏi sự khổ ấy Khổ là bởi sự luân hồi, thoát khỏi vòng luân hồi thì khỏi khổ, mà muốn thoát khỏi vòng luân hồi thì phải bỏ hết tham, sân, si Khi thoát khỏi vòng luân hồi con người mới chứng được trạng thái Niết bàn, Cực lạc

Ở Việt Nam, Phật giáo cũng có lịch sử lâu đời, đồng hành cùng với lịch

sử hàng ngàn năm của dân tộc Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng Phật giáo vào Việt Nam vào thế kỷ I với trung tâm Phật giáo nổi tiếng là Luy Lâu Trải qua quá trình hình thành và phát triển những tư tưởng của Phật giáo được nhân dân Việt Nam tiếp thu và Việt hóa Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường xâm lược, không phải do sự cưỡng chế mà thông qua đường giao thương buôn bán Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình đẳng, bác ái, cứu khổ cứu nạn…gần gũi với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp nhận Mặt khác thời kỳ này còn

có các tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước, cộng với sự tồn

Trang 5

tại của Nho giáo, đạo Lão được Trung Quốc truyền vào, tuy nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khuyết thiếu đối với đời sống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt đấy Vì vậy đạo Phật ở Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa cùng các tín ngưỡng, tôn giáo khác

Phật giáo được truyền bá ở Việt Nam tính đến nay đã gần 2000 năm, trải qua các thời kỳ lịch sử của đất nước, Phật giáo từ lâu vốn đã đi sâu vào quần chúng nhân dân Việt Nam, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng của người Việt, một sự gắn bó tự nhiên không do áp đặt của chính quyền, cả khi Phật giáo được tôn là Quốc giáo Sự tồn tại lâu dài của Phật giáo trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội đã đem lại những đóng góp đáng kể cho văn hóa, tư tưởng, kinh tế, chính trị trong tiến trình lịch sử Việt Nam, đặc biệt là ở thời

Lý -Trần - thời kỳ phát triển đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam

Mặc dù tiếp thu và chịu ảnh hưởng của cả Phật giáo từ Ấn Độ và Trung Hoa nhưng với tinh thần độc lập tự chủ các nhà sư Lý - Trần đã sáng lập ra những thiền phái đậm màu sắc Việt Nam như thiền phái Thảo Đường và thiền phái Trúc Lâm Yên Tử… Thời kỳ này cũng xuất hiện các thiền sư xuất chúng của Phật giáo Việt Nam như: Thảo Đường, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Pháp Loa, Huyền Quang… Vì vậy những tư tưởng của Phật giáo trong thời kỳ này vừa là sự kế thừa tư tưởng của Phật giáo Ấn, Trung vừa mang những nét đặc trưng của tư tưởng Việt Nam Phật giáo thời Lý - Trần đã

kế thừa tư duy biện chứng của Phật giáo khi bàn đến các vấn đề như vô thường, vô ngã, luân hồi nghiệp báo, giải thoát… Tuy nhiên nếu Phật giáo bàn đến những vấn đề đó với tinh thần xuất thế thì Phật giáo thời Lý - Trần bàn đến nó bằng tinh thần nhập thế, chính vì vậy nó có ảnh hưởng to lớn đối với tư tưởng và hành động của con người Việt Nam lúc bấy giờ Điều đó góp phần tạo nên nét đặc sắc của Phật giáo thời Lý - Trần - giai đoạn cực thịnh

Trang 6

của Phật giáo Việt Nam

Chính vì vậy tôi đã chọn vấn đề “Tư tưởng biện chứng trong Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài đi sâu phân tích những tư tưởng biện chứng của các thiền sư và thiền phái trong Phật giáo thời Lý - Trần nhằm khẳng định giá trị của những

tư tưởng đó trong Phật giáo Lý - Trần nói riêng, trong văn hóa Việt Nam nói chung

Để thực hiện được mục tiêu trên đề tài có nhiệm vụ:

- Thứ nhất: Trình bày và phân tích được những tiền đề kinh tế - xã hội, tiền đề tư tưởng lý luận hình thành tư tưởng biện chứng của Phật giáo thời Lý

- Trần

- Thứ hai: Trình bày và phân tích được nội dung cơ bản của những tư tưởng biện chứng trong Phật giáo thời Lý - Trần

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu những tư tưởng biện chứng trong Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần

- Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của luận văn, đề tài chỉ đi sâu phân tích một số tư tưởng mang tính biện chứng trong Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần đó là:

- Tư tưởng vô thường

- Tư tưởng về mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng

- Tư tưởng về nhân quả, luân hồi nghiệp báo

- Tư tưởng giải thoát

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

Trang 7

duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: sử học, hệ thống hóa, lôgic và lịch sử, so sánh và đối chiếu, phân tích, tổng hợp Luận văn chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ lịch sử triết học

2.1 Triết lý vô thường

2.2 Quan niệm về mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng

2.3 Quan niệm về nhân quả, nghiệp báo, luân hồi

2.4 Quan niệm về giải thoát

6 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là Phật giáo ở giai đoạn Lý - Trần luôn thu hút sự quan tâm đầu tư của nhiều tác giả trong nước Hàng loạt những công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần nói riêng, đã ra đời mà điển hình là một số công trình sau đây:

Trước hết là các công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam dưới góc

độ tư tưởng văn hóa, tôn giáo mà tiêu biểu là các tác phẩm: “Việt Nam Phật giáo sử luận” (3 tập) của Nguyễn Lang, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 2000; “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” do PGS Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb

Trang 8

Khoa học xã hội, Hà Nội,1993; “Lược sử Phật giáo Việt Nam” của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo Tp Hồ Chí Minh, 1993; Thiền uyển tập anh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1993; Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam (3 tập) của Lê Mạnh Phát, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2002; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999; Thơ văn

Lý - Trần, do Viện Văn học biên soạn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1989; Thiền học Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, Nxb Lá Bối, Sài Gòn, 1966;…

Các tác phẩm kể trên đã trình bày, phân tích sâu sắc tiến trình lịch sử và đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, đặc điểm, vai trò, vị trí của Phật giáo thời

Lý - Trần trong tiến trình phát triển của Phật giáo dân tộc cũng như trong lịch

sử tư tưởng Việt Nam

Thứ hai là các tác phẩm nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thời Lý - Trần dưới góc độ tư tưởng triết học, như các tác phẩm: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, của Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 1993; Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập 1 từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997; Đại cương lịch sử triết học Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2010; Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Hùng Hậu chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002; Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần, do Doãn Chính - Trương Văn Chung chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008; Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập

1, do Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2006…

Các công trình trên đã khái quát, hệ thống hóa vai trò của Phật giáo Việt Nam nói chung, Phật giáo thời Lý - Trần nói riêng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Trong cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” do PGS Nguyễn Tài Thư chủ biên, khi trình bày về lịch sử tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần, cuốn

Trang 9

sách đã có hẳn một chương để viết về Phật giáo và triết học của Thiền sư Trong phần này, có tác giả dành sự quan tâm nhiều hơn đến việc trình bày những tư tưởng triết học của các thiền sư thời Lý - Trần Đặc biệt trong tác phẩm Đại cương lịch sử triết học Việt Nam tác giả Nguyễn Hùng Hậu đã dành một phần viết về tư tưởng triết học Việt Nam trong thời kỳ phục hồi và xây dựng quốc gia độc lập (thế kỷ X - XIV) trong đó tư tưởng triết học Phật giáo thời Lý - Trần là một nội dung quan trọng Trong phần V của tác phẩm này, tác giả Nguyễn Hùng Hậu đã trình bày một cách hệ thống về điều kiện kinh tế - xã hội thời Lý - Trần - tiền đề cho sự hình thành tư tưởng triết học Phật giáo thời kỳ này, nội dung tư tưởng triết học của các thiền sư và thiền phái thời Lý - Trần, bước đầu đánh giá những giá trị và hạn chế của các tư tưởng đó trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam

Ngoài ra, trên một số tạp chí nghiên cứu điển hình là Tạp chí Triết học cũng có một số bài nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam, chẳng hạn bài Thử tìm hiểu vị trí của ba đạo: Nho, Phật, Lão trong lịch sử tư tưởng Việt Nam của tác giả Nguyễn Tài Thư đăng trên Tạp chí Triết học số 1-1982, bài “Thử bàn về một số tư tưởng Phật giáo” của tác giả Nguyễn Hùng Hậu đăng trên Tạp chí Triết học số 143-1989…

Các công trình trên thực sự là những tài liệu bổ ích cho những người nghiên cứu về lịch sử triết học Việt Nam nói chung và triết học Phật giáo Việt Nam nói riêng Tuy nhiên do mục đích, phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình

là khác nhau nên chưa có công trình nào riêng biệt bàn về tư tưởng biện chứng trong Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần Kế thừa những thành quả trên, trong luận văn của mình, tôi muốn đi sâu tìm hiểu và trình bày một cách có hệ thống những tư tưởng mang tính biện chứng trong Phật giáo thời Lý - Trần Từ đó khẳng định giá trị của những tư tưởng đó trong Phật giáo Lý - Trần nói riêng, trong lịch sử triết học Phật giáo Việt Nam nói chung

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG

CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1.Tư tưởng biện chứng của Phật giáo

Phật giáo là một tôn giáo vô thần, không quan niệm về đấng sáng tạo ra thế giới Về mặt triết học, Phật giáo có nhiều tư tưởng mang tính duy vật và tính biện chứng sơ khai Điều đó được thể hiện trong một số nội dung cơ bản sau:

a Tư tưởng vô thường, vô ngã

Vô thường, vô ngã và niết-bàn tịch tịnh là một trong ba nguyên lý cơ bản của Phật giáo

Vô thường theo Phật giáo được hiểu là một biện chứng pháp nói lên được tính chất của mọi sự vật hiện tượng là luôn vận động, biến đổi Vô thường, không nên hiểu một cách hạn chế là sự thay đổi vị trí trong không gian, mà cần phải hiểu theo nghĩa chung nhất của nó là vận động hay biến đổi

Điều đó được thể hiện trong cách nhìn nhận về thế giới của Phật giáo

Trước hết trong quan điểm về thế giới, Phật giáo cho rằng thế giới chỉ là một dòng biến ảo vô thường, không do một vị thần nào sáng tạo ra cả Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới (vạn vật nằm trong vũ trụ) gọi là Pháp giới Mỗi một pháp (mỗi một sự vật hiện tượng, hay một lớp các sự vật hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn pháp Như vậy các sự vật, hiện tượng hay các quá trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại và quy định lẫn nhau Tác phẩm “thanh dung thực luận” của kinh phật viết: có người cố chấp có Đại tự nhiên là bản thể chân thực bao khắp cả, lúc nào cũng thường định ra chu pháp, đạo Phật cho rằng toàn bộ chư pháp đều chi phối bởi luật nhân quả, biến hóa vô thường, không có cái bản ngã cố định, không có

Trang 11

cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh viễn Do vậy trong thế giới không có gì là thường hằng, bất biến hay là vô thường Có hai loại vô thường: Sátna vô thường chỉ sự biến hóa trong từng sátna (đơn vị thời gian của nhà Phật, một ngày 24 giờ có 6.499.99.980.000.000 sát-na (kṣaṇas) và tương tục

vô thường (hay còn gọi là sanh diệt vô thường) chỉ trong một chu kỳ có bốn tướng sinh trụ dị diệt nối tiếp nhau

Vậy sát-na vô thường là gì? Theo Phật giáo, tất cả sự vật không có điểm khởi đầu cũng không có điểm kết thúc Chúng ta khó nhận biết được: “Một vật phát xuất từ cái không hoặc cái không phát xuất từ một vật nào đó và điều không thể xảy ra nếu có một vật tồn tại thì không thay đổi” Trong kinh Pháp

Cú (bản kinh Pāli) nói: “Trong bầu trời không có biển cả mênh mông, không

có hang động núi lớn, một nơi như thế không thể có sự sống, nơi mà con người có thể trú ẩn và không ai có thể vượt qua sự chế ngự bởi cái chết” Bởi

vì sanh và tử là hai phạm trù đối lập hoàn toàn, tử là sự thay đổi đột ngột và thậm chí làm xáo động tinh thần của người chết cũng như những người đang hiện hữu trong cuộc sống hiện tại, sự thay đổi này tùy thuộc vào sanh, lão, bệnh… Theo Phật giáo, đây là một trong những nỗi thống khổ nhất của con người Trong triết lý Phật giáo, sát-na vô thường là sự thay đổi liên quan đến cái chết ngụ ý sự vô thường của vạn vật Mặt khác, ý nghĩa về sát-na vô thường biểu thị sự khác nhau giữa trạng thái sanh và trạng thái tử, giữa sự vật

vô tri và vô giác… Trong Luận giải Madhyātānugama về giáo lý Duy Thức, ngài Vô Trước (Asa-ga) đã nói: “Tất cả vạn vật được phát sanh ra do nhiều nguyên nhân hợp lại thành, không có vật nào mà tự nó tạo nên, khi sự kết hợp

bị tan rã thì sự hủy diệt theo sau” Như cơ thể con người bao gồm bốn yếu tố (tứ đại): đất, nước, gió, lửa; khi tứ đại hợp thành thì đã ngấm ngầm sự hủy diệt bên trong Đó gọi là sự vô thường của một thực thể sanh diệt Như vậy, sanh diệt vô thường là sự vô thường nhanh chóng trong từng ý niệm, nó thay

Trang 12

đổi hoàn toàn, cái mà xảy ra bên trong bất cứ một sự vật nào, ngoài sự tập hợp của các pháp thì xuất hiện sự sanh diệt ngay lúc đó Nghĩa là trong mỗi sự vật khi xuất hiện thì đồng thời đã có mầm mống của sự tan rã, mất đi Như vậy, mỗi người, mỗi vật luôn luôn thay đổi và không bao giờ giống nhau, vì hai sự kiện hoạt động tiếp nối nhau Trong Triết học Phật giáo gọi là “sanh diệt vô thường”, nguyên lý này được giải thích theo quan điểm Phật giáo là bất cứ sự thay đổi nào của vạn vật đều sanh diệt không ngừng trong từng khoảnh khắc

Theo Phật giáo, sở dĩ vạn vật trong vũ trụ biến hóa vô thường là do chúng đều chịu sự chi phối của luật nhân quả Nhờ đó sự vật trong thế giới biến hóa không ngừng nghỉ theo quá trinh sinh, thành, dị, diệt hay thành, trụ, hoại, không Quá trình đó có thể diễn ra trong nháy mắt (một sat-na) hay trong từng giai đoạn có sự biến đổi về chất

Do vạn vật cứ sinh hóa biến đổi vô thường nên thế giới cũng chỉ là hư

ảo, không có thực thể, không có bản ngã (vô ngã) Đạo Phật cho rằng, vạn vật trong vũ trụ vốn không có tính thường hằng nó chỉ là sự “giả hợp” do sự hội

đủ nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại) Ngay bản thân sự tồn tại của thực thể con người chẳng qua cũng là do “ngũ uẩn” (năm yếu tố) hợp lại: Sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (tư tưởng), hành (ý muốn thúc đẩy hành động) và thức (ý thức) “Duyên hợp ngũ uẩn thì là Duyên tan ngũ uẩn ra thì ta không còn là là ta, là diệt Quá trình tan hợp, hợp tan của ngũ uẩn do nhân duyên tác động là vô cùng Ngay các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hóa theo luật nhân quả không ngừng không nghỉ, cho nên mọi sinh vật cũng chỉ tồn tại tương đối trong khoảnh khắc của dòng biến chuyển vô thường, vô định, vụt mất vụt còn, không có sự riêng biệt, không có cái tôi thường định…” [1] Như vậy quan điểm của Phật giáo về thế giới mang tính duy vật và biện chứng đã gạt bỏ vai trò sáng tạo thế giới của các đấng tối cao, của Thượng đế

và cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khách quan và không do vị thần nào

Trang 13

sáng tạo ra cả Cái bản thể ấy chính là sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, là muôn ngàn hình thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trong vạn vật nhưng nó không dừng lại ở bất kỳ hình thức nào Trong cách nhìn nhận thế giới của Phật giáo mọi vật trong thế giới luôn vận động, biến đổi không

ngừng trong quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và biến mất

b Thuyết nhân duyên, luân hồi nghiệp báo

Theo triết lý Phật giáo sở dĩ mọi vật trong thế giới đều biến hóa vô thường bởi vì chúng đều chịu sự chi phối của luật nhân quả Trong học thuyết nhân quả có ba khái niệm chủ yếu là: nhân (hetu), duyên (pratitya) và quả (phala) Nhân là cái phát động ra ở vật, làm cho nó biến đổi, gây ra một hay nhiều kết quả Cái được tập kết lại bởi một hay nhiều nhân được gọi là quả Duyên là điều kiện, là mối liên hệ hay trợ giúp cho nhân biến thành quả Duyên không chỉ là một cái gì đó xác định mà còn là điều kiện, sự tương hợp tương sinh nói chung giúp cho vạn pháp sinh thành, biến đổi Ví dụ: Hạt lúa cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân của cây lúa sắp thành Hạt lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng Những nhân tố đó chính là duyên

Thuần nhân không sinh ra quả Hạt lúa không thành cây, nếu không đem gieo Hạt lúa không thành cơm, nếu không đem xay giã và nấu chín Nghĩa là nhân có sinh ra quả được hay không còn phụ thuộc vào duyên, có nhân mà không có duyên thì không thể sinh ra quả Duyên là điều kiện đủ để nhân có thể thành quả Nhân ở khía cạnh khác thì lại khác Thí dụ, muốn có quả cam thì phải có nhân (hạt) cam Tức nhân nào thì quả nấy Học đàn thì biết đàn Nghĩa là nhân quả phải đồng loại nhau Do đó, nhân chuyển đổi thì quả cũng chuyển đổi theo Thế nên dựa vào luật nhân quả ông bà ta khuyên ngắn gọn "làm lành hưởng phước, làm ác mang họa", với ước muốn con cháu ăn hiền ở lành

Trang 14

Tuy nhiên sự phân biệt nhân quả chỉ là tương đối, trong nhân có quả, trong quả có nhân Chính trong nhân hiện tại đã hàm chứa cái quả vị lai; cũng chính trong quả hiện tại đã có hình bóng của nhân quá khứ Một sự vật ta gọi

là nhân, là khi nó chưa biến chuyển, hình thành ra cái quả Một vật đều có nhân và quả; đối với quá khứ nó là quả, nhưng đối với tương lai nó là nhân Một vật là nhân của cái này nhưng là quả của cái kia Nhân và quả đấp đổi nhau, tiếp nối nhau không bao giờ dứt Nhờ sự liên tục ấy, mà trong một hoàn cảnh nào, người ta cũng có thể đoán biết quá khứ và tương lai của một sự vật hay một người

Sự biến chuyển từ nhân đến quả có khi mau, khi chậm, chứ không phải bao giờ diễn tiến trong một thời gian đồng đều Có những nhân và quả xảy ra

kế tiếp nhau, nhân vừa phát thì quả xuất hiện, như khi ta vừa đánh xuống mặt trống (nhân) thì âm thanh phát ra (quả), đó chính là nhân quả cùng thời Nhiều khi nhân gây rồi, nhưng phải đợi một thời gian mới hình thành Cái thời gian

ấy phức tạp vô chừng Như gieo hạt lúa phải cần thời gian vài ba tháng Có khi từ nhân đến quả hàng chục năm, như từ khi đi học (nhân) đến lúc thành tài (quả) Có khi từ nhân đến quả phải đợi một vài trăm năm hay hơn nữa, đây chính là nhân quả khác thời

Vũ trụ nhân sinh luôn chuyển biến vận hành trong mọi thời khắc Ngay

cả bản thân chúng ta, hoạt động tâm lý và tất cả các pháp đang chuyển biến liên tục, không dừng trụ dầu chỉ một sát-na Quá khứ, hiện tại và vị lai luôn chuyển biến theo chiều hướng nhân quả Nhân quả cũng tức là vô thường, là chiều thời gian chuyển biến liên tục trong tự thân của vật thể và trong hoạt động tâm lý của con người Vũ trụ nhân sinh chuyển biến vận hành theo một quy luật chung, đó là luật nhân quả Nó vận hành một cách âm thầm nhưng chi phối cả đời sống vật chất và tinh thần của con người

Con người cũng do nhân duyên kết hợp tạo ra bởi hai yếu tố là sắc (vật

Trang 15

chất - thân thể) và danh (tinh thần, tâm lý) Trong cuộc sống do không nhận thức được cái vô thường biến ảo của thế giới, do lầm tưởng, ngộ nhận cái gì cũng thường định, tồn tại mãi mãi, cái gì cũng của ta, do ta Từ đó nảy sinh ham muốn, dục vọng, dẫn đến hành động chiếm đoạt, tạo ra những kết quả,

gây ra nghiệp báo Nghiệp tiếng Sanskrit gọi là Karman, tiếng Pāli gọi là

Kamma, Trung quốc phiên âm là Yết-ma, có nghĩa là tạo tác, ý chỉ cho hành

vi, những gì đã tạo ra, hay chỉ cho hành động, tác dụng, ý chí v.v… nói chung chỉ cho hoạt động của thân và tâm của chúng ta, hay hoạt động của thân tâm

do ý chí tác động phát sinh Nghiệp là “cái do hành động thiện hay bất thiện,

cố ý hay không cố ý, qua thân, khẩu, ý của ta để thỏa mãn những ham muốn của ta mà thành” Và “do nghiệp chi phối theo luật nhân quả nên vạn vật chúng sinh mất đi ở chỗ này, thời gian này là để sinh ra ở chỗ khác, thời gian khác Đó chính là quá trình tái sinh luân hồi” [1, tr 250-251] Nghĩa là quá trình xuất hiện, tồn tại và mất đi của vạn vật chúng sinh giống như sự chuyển động bất tận của một bánh xe quay không bao giờ dừng nghỉ, cho nên gọi là luân hồi Luân hồi ở đây còn có nghĩa là sinh tử, hay sinh tử luân hồi, sinh tử tương tục, luân hồi chuyển sinh, lưu chuyển hay luân chuyển Luân hồi còn là một trong những tư tưởng chủ yếu của Bà-la-môn giáo Ấn Độ xưa kia Phật giáo cũng đã kế thừa tư tưởng này và cải biến thành giáo nghĩa của riêng mình

Như vậy theo tư tưởng nghiệp báo luân hồi của Phật giáo thì trong cuộc đời, con người phải chịu hậu quả của kiếp sống này và từ kiếp trước, sang kiếp sau Nghiệp báo trong cuộc đời con người là do nghiệp gây ra ở kiếp trước, kiếp này và nó quyết định kiếp sau tốt hay xấu

Tóm lại, theo triết lý Phật giáo, đã tạo nghiệp, đã gieo nhân tất phải gặp quả, có thể ở lúc này, nơi khác hay lúc khác, nơi khác, ở hiện tại hay trong tương lai Kinh Samyutta Nikàya đã viết:

Trang 16

Đã gieo giống nào

1.1.2 Tư tưởng của Phật giáo thời Lý-Trần

Những tư tưởng biện chứng trong Phật giáo thời Lý - Trần còn được bắt nguồn và nuôi dưỡng trong hệ thống tư tưởng Phật giáo thời kỳ này

Đạo phật thật sự đã được gieo mầm từ lâu và đã trải qua hàng bao thế kỷ,

nó đã thích nghi với con người và đất nước Việt Nam, đến thời Lý - Trần là đỉnh cao của nó, Phật giáo đã trở thành cốt tuỷ và hoà nhập với nền văn hóa dân tộc Do đó nó hoàn toàn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của một dân tộc khao khát hoà bình, yêu thích tự do độc lập Khi chiến tranh chống ngoại xâm, đạo Phật trí tuệ tập hợp những tâm hồn yêu nước, thương dân, đoàn kết một lòng mọi người với ông Bụt từ bi, với Quan Âm cứu khổ và giáo lý thực tiễn không tách rời cuộc sống bằng thân, khẩu, ý Có thể nói rằng các vị vua, các thiền sư đã sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật, khiến cho nó trở thành Phật giáo Việt Nam mà không phải Phật giáo Trung Hoa hay Ấn Độ từ cái nhìn cho đến hành động

Phật giáo thời Lý - Trần là Phật giáo Việt Nam, mang bản sắc Việt Nam, dấu ấn Việt Nam, điều đó được thể hiện ở những đặc điểm sau:

Phật giáo Lý - Trần có sự hỗn dung Trước hết là sự hỗn dung giữa các tông phái Phật giáo truyền bá vào nước ta chủ yếu là ba tông phái lớn: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông Thực trạng Phật giáo thời Lý - Trần cho thấy

sự hỗn dung tư tưởng và tín ngưỡng giữa các tông phái này Trong đó xu hướng phát triển của Thiền tông là nổi bật về mặt tư tưởng triết lý nhân sinh,

Trang 17

còn Tịnh độ tông và Mật tông thiên về lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo Người ta khó có thể xác định đặc điểm riêng cho từng tông phái Ta chỉ có thể nói một khuynh hướng nào đó nổi trội hơn Vì các tông phái này tồn tại song song trong một thời gian dài và tác động ảnh hưởng lẫn nhau

Phật giáo thời Lý - Trần có sự dung thông với Nho giáo, Lão giáo, dù được coi như một quốc giáo nhưng nó không độc tôn mà vẫn có mặt pha trộn với Nho giáo và Lão giáo Việc Phật giáo hỗn dung với Đạo giáo thì cũng đã diễn ra Phật giáo và Đạo giáo còn giống nhau ở tư tưởng xuất thế nhưng phương thức khác nhau Những triết lý của Phật giáo Lý - Trần đã góp phần làm cho những tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời kỳ này không phải là phiên bản nguyên mẫu của Nho giáo Trung Hoa Do hoàn cảnh lịch sử khách quan của công cuộc giữ nước trong thời kỳ độc lập, tự chủ đòi hỏi giới quân sự phải biết trọng dụng trí thức nên chính các vị sư cũng giỏi cả Nho học, tinh thông cả dịch học của Nho, khoa địa lý phong thủy của Lão Các nhà tu hành trí thức này có ý thức quốc gia, có lòng yêu nước trong sáng, học vấn uyên bác cả về giáo lý đạo mình và kinh điển của đạo khác nên có một tinh thần đại đồng, không bị hình thức sắc tướng làm mê chấp, làm cho các vị ấy đã sớm biết đoàn kết, đứng chung dưới ngọn cờ dân tộc để phù trợ chặt chẽ cho các chính sách, đường lối của triều đình, cả về đối nội lẫn đối ngoại

Phật giáo thời Lý - Trần còn có sự hỗn dung với tín ngưỡng dân gian Sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa tạo nên cái mà người ta gọi là

“dòng Phật giáo dân gian” và nó cũng đã tồn tại lâu dài trong lịch sử Việt Nam Phật giáo Lý - Trần là một nền Phật giáo nhập thế tích cực Tùy nghi, tùy thời, nhâm vận, đó là hành động của những người đã giác ngộ ở một đất nước trong lúc mọi người đều hăm hở, hăng hái chống giặc, nếu cứ ôm khư khư giáo lý nhà Phật, đóng kín cửa chùa, thì thật chẳng hợp thời đúng lúc chút nào Đi sâu hơn một chút ta thấy Phật là Thiện Trong Thiện có nhiều mức độ,

Trang 18

có thiện lớn, thiện nhỏ, thiện vĩ đại như đức Phật từ bỏ ngai vàng để đi tìm con đường giúp chúng sinh thoát khỏi sông mê bể khổ, thiện nhỏ như làm một điều tốt lành nho nhỏ Người Phật tử Việt Nam thời Lý - Trần luôn làm theo điều thiện lớn khi đứng giữa ngã ba đường cần có sự lựa chọn, dù có phải vi phạm vào giới luật Chấp vào những giới luật để làm những điều thiện nhỏ mà

bỏ qua điều thiện lớn thì chẳng khác nào “ngu trung”, “ngu hiếu” trong Nho giáo vậy ở đây muốn hợp thời, đúng lúc thì phải học theo Thượng Sĩ là không trái với đời người, trộn lẫn cùng thế tục, phải đứng ngay trong hàng ngũ dân tộc, cầm gươm lên ngựa tiêu diệt quân xâm lược Đã giác ngộ thì mọi hành động, cử chỉ, suy nghĩ đều là Thiền Và ở đây đánh giặc cứu nước cũng là Thiền Theo tác giả Nguyễn Hùng Hậu: “Thiện lớn, đức lớn, hợp thời, đúng lúc, tùy nghi lúc này là ở cứu dân tộc, quê hương, đất nước, khỏi cảnh thảm họa là nạn ngoại xâm Vì thế thiện lớn, đức lớn đó mà các Phật tử sẵn sàng cầm gươm lên ngựa, sẵn sàng vi phạm giới luật (cấm sát sinh) giết một người cứu muôn người Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, những người Phật tử không giáo điều ôm khư khư giới luật mà không được giết hại chúng sinh trong đó có cả kẻ thù, quân xâm lược đang giết hại đồng bào Không thể vì một điều thiện nhỏ cho cá nhân mà quên điều thiện lớn cho dân tộc, ở đây phá giới là theo tinh thần phá chấp” [5, tr 237] Trong các tông phái Phật giáo thì Thiền Tông Việt Nam có quan niệm về nhập thế rõ ràng hơn cả

Trong khi kinh Phật nói đến thế giới cực lạc Tây Phương, đó là cái đích

là mục tiêu hướng tới Mục đích cuối cùng của Phật giáo là “biến cõi người này thành cõi Tịnh độ trang nghiêm, biến địa ngục thành thế giới cực lạc Đó mới là tôn chỉ chân chính của Phật giáo chứ không phải yêu cầu mọi người trốn tránh thế giới này để sang Tinh độ Tây Phương mà hưởng phúc

Tính nhập thế của Phật giáo Lý - Trần còn được biểu hiện ở việc tham gia chính sự của các nhà sư Nhiều thiền sư đã tham gia tích cực vào đời

Trang 19

sống chính trị xã hội, uy tín và địa vị cao trong triều đình, là những cố vấn, những người trợ giúp đắc lực cho nhà vua Triều đình đã sử dụng các nhà sư vào mục đích chính trị, nhất là vào việc bang giao Như các nhà sư Vạn Hạnh, Viên Thông, Nguyễn Huy Tường, Đa Bảo “Thiền uyển tập anh” chép: “Khi vua (Lý Thái Tổ) lên ngôi thường mời sư (Đa Bảo) vào cung hỏi han về đạo, ân lẽ rất hậu Đến cả việc chính sự trong triều, sư đều được tham gia quyết định”

Với những đặc điểm đó Phật giáo thời Lý - Trần đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Trong thời Lý - Trần, Phật giáo

đã đứng đầu trong tam giáo và có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau Trong lĩnh vực chính trị, Phật giáo lúc này đã để lại dấu ấn sâu sắc vì nó

là lực lượng chi phối thế giới quan của con người nhất là của giai cấp thống trị Vai trò chi phối này của Phật giáo được biểu hiện ở triết lý nhập thế của

nó cũng như việc tham gia chính sự của các thiền sư Phật giáo còn có vị trí quan trọng trong việc kiến tạo mô hình nhà nước quân chủ theo Nho giáo nhưng không hoàn toàn là Nho giáo, khác biệt với mô hình Nho giáo phương Bắc Trong phong trào giải phóng dân tộc, vai trò của Phật giáo được thể hiện thông qua hoạt động tích cực của các thiền sư, của các tăng ni, phật tử

Trong lĩnh vực kinh tế Phật giáo không chỉ tồn tại dưới vai trò là một tôn giáo mà còn có tiềm lực kinh tế Đó là do nhà vua có những chính sách: cấp dụng ruộng đất cho nhà chùa trở thành một đơn vị kinh tế, một tổ chức có tài sản Một số chùa lớn có cả điền nô, kho lẫm Theo bia chùa Vạn Phúc (tức chùa Phật Tích ở Tiên Sơn, Hà Bắc) thì năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057) nhà vua đã xây trên 100 ngôi chùa ở đây và cúng hơn 100 thửa ruộng Tuy nhiên, Phật giáo Lý - Trần không chỉ phát huy được vai trò tích cực trong lĩnh vực kinh tế, chính trị mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đến đạo đức, văn hoá, giáo dục, lối sống, phong tục…

Trang 20

Phật giáo, xét về bản chất là hệ thống tư duy tôn giáo mà hạt nhân là triết học Phật giáo đã có sự tương đồng với quan niệm đạo đức và sinh hoạt truyền thống của người Việt Nam Vì vậy trong lĩnh vực đạo đức và sinh hoạt truyền thống đều có dấu ấn nhất định của đạo đức Phật giáo Đạo đức cao nhất của Phật giáo là “Đại bi” Có tác giả cho rằng “lòng nhân ái” Việt Nam được rút

ra từ tinh thần đạo đức Nho giáo và Phật giáo, rằng “những nguyên tắc của đạo đức Phật giáo với sự tin tưởng ở kiếp sau, của sự cứu giúp của đấng tối cao, cũng biến thành những nguyên tắc sống hàng ngày của nhân dân như: ở hiền gặp lành, chị ngã em nâng, thương người như thể thương thân” [4] Tinh thần bình đẳng, bác ái, thái độ từ bi hỉ xả và sự tu dưỡng về thập thiên, ngũ giới mà đạo Phật đòi hỏi ở mỗi người phật tử không khỏi liên hệ với tình cảm xót thương, nỗi khổ đau của dân chúng và những khái niệm: khoan, từ, phúc, huệ Tầng lớp trên của xã hội đã thấu triệt tinh thần bác ái, thương dân, đức hiếu sinh của nhà Phật, biết gác lại lợi ích vị kỷ của một cá nhân một dòng họ

mà bước vào sự hoà đồng của dân tộc, vì sự nghiệp chung của dân tộc Chính tinh thần nhân ái, thương người theo nhân sinh quan từ bi của Thiền Tông đã

có tác dụng tích cực trong việc đoàn kết dân tộc lúc bấy giờ Từ đó, đã tập hợp mọi tộc người thành khối đoàn kết vững mạnh để đối phó với mọi kẻ thù xảo quyệt luôn trong tư thế rình chờ người khác sơ hở để tràn xuống Nó là sợi dây nhân ái liên hệ cộng đồng anh em trong quốc gia tạo thành sức mạnh

cố kết dân tộc Trong không khí sục sôi của dân tộc khi ấy, tinh thần bình đẳng bác ái của Phật giáo đã tác động quan trọng vào sự hình thành tư tưởng bình đẳng dân tộc trong dân tộc ta, để không ngồi im chịu sự áp bức bóc lột của dân tộc khác Và tư tưởng vô ngã của Phật cũng tác động đến tinh thần không ngại hi sinh vì độc lập tự do của đất nước GS Trần Văn Giàu đã từng nói: “Theo sát cuộc đấu tranh của dân tộc ta từ trước đến nay không tư tưởng nào lớn hơn Phật giáo, trừ chủ nghĩa cộng sản Bình minh của lịch sử dân tộc

Trang 21

ta đã gắn với Phật giáo Phật giáo là ngọn đuốc văn minh ở xứ ta, và ông còn đánh giá đóng góp lớn nhất của Phật giáo vào lịch sử tư tưởng Việt Nam:

“Mười vạn quyển kinh còn hai hay bốn chữ… và bốn chữ đó là cốt lõi của Phật giáo: cứu khổ, cứu nạn” Sau này tác giả Nguyễn Lang cũng đánh giá cao tư tưởng từ bi của Phật giáo: “Có thể từ bi không phải là một đường lối chính trị, nhưng chính trị từ bi là một nền chính trị nhân bản đáng được “ủng hộ”

Sự phát triển cực thịnh của Phật giáo Lý - Trần cũng như ảnh hưởng của các tăng lữ trong thời kỳ này đã chi phối đến giáo dục, khoa cử (thi tam giáo) Phật giáo thời Lý - Trần còn ảnh hưởng đến nguồn cảm hứng sáng tác văn học của các tác giả thời kì này Trong thời kì này cảm xúc văn học về đề tài Phật giáo thực sự hoà nhập vào văn hoá chính trị, tức là tư tưởng của thời đại, nên thời kỳ này đã để lại nhiều tác phẩm văn hoá mang tinh thần Phật giáo có giá trị Những hình ảnh văn học súc tích ngắn gọn đã làm cho tính chất tôn giáo của đạo Phật đầy khắc khổ dày vò trở nên thanh thản, say mê, sảng khoái Như vậy, qua các sáng tác của mình, các thiền sư, các phật tử đã thể hiện tư tưởng của mình về thời cuộc chính trị, các tư tưởng đức trị

Với vai trò, vị trí quan trọng như vậy, Phật giáo Lý - Trần đã thấm sâu vào mọi cơ tầng xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của Phật giáo vua quan quý tộc thời Lý - Trần đã không ngừng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của

nó đến mọi miền của Tổ quốc Phật giáo đã góp phần quan trọng trong việc làm nền những chiến thắng vĩ đại thời Lý - Trần

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Điều kiện chính trị, kinh tế-xã hội Việt Nam thời Lý - Trần

Là một hình thái ý thức xã hội, những tư tưởng triết học trong Phật giáo thời Lý - Trần ra đời trên cơ sở tồn tại xã hội lúc bấy giờ hay nói cách khác điều kiện kinh tế xã hội thời Lý - Trần là cơ sở thực tiễn cho sự hình thành những tư tưởng của Phật giáo lúc đó

Trang 22

Năm 938 với sự kiện Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên Bạch Đằng giang đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc: chấm dứt ngàn năm Bắc thuộc, bước vào giai đoạn đầu của thời kỳ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền độc lập Trải qua các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê (938 -1009) đã bước đầu đạt được cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội cho một nền quân chủ phong kiến trung ương tập quyền độc lập Sang thời đại Lý - Trần (1010 - 1399), đã tiếp tục xây dựng và phát triển nền quân chủ ấy với hai nhiệm vụ cơ bản, là độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia Hai nhiệm vụ này tồn tại song song trong suốt chiều dài lịch sử của triều đại nhà Lý cũng như nhà Trần sau này Hai nhiệm vụ đó có quan hệ mật thiết với nhau: mỗi bước tiến của sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc là một bước tạo ra những điều kiện căn bản cho công cuộc thống nhất quốc gia, đồng thời mỗi bước củng cố chặt chẽ khối đoàn kết dân tộc là một bước tạo ra sức mạnh cho sự nghiệp bảo

vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Nhận thức được hai nhiệm vụ lịch sử trọng đại đó, hai triều đại Lý - Trần đã thực hiện hàng loạt các chủ trương, chính sách và biện pháp tích cực, có hiệu quả nhằm thực hiện hai nhiệm vụ lịch sử nói trên

Trước hết, để quản lý xã hội các triều đại Lý - Trần đã lập bộ máy nhà nước chặt chẽ quy củ hơn các triều đại trước đó Đứng đầu triều đình là Hoàng đế, dưới Hoàng đế có 3 chức đứng đầu các quan lại trong triều, đó là thái sư, thái phó, thái bảo (tam thái) Dưới đó là chức thái úy, nắm giữ việc chính trị, quân sự trong nước, về sau chức này được gọi là tể tướng Tiếp đến là các chức tư không,

thiếu phó, thiếu bảo, thiếu úy (phụ trách cấm quân), nội điện đô trị sự, ngoại điện

đô trị sự, kiểm hiệu bình chuơng sự Đây là những chức vụ trọng yếu nhất giúp việc nhà vua Để giúp vua quản lý mọi mặt của đất nước, còn có các cơ quan chuyên trách như Trung thư sảnh, Khu mật sứ, Ngự sử đài, Hành khiển tượng thư sảnh, Nội thị sảnh, Đình uý, Hàn lâm học sĩ

Trang 23

Năm 1097, nhà Lý cho biên soạn và ban hành Hội điển, quy định các phép tắc chính trị, tổ chức bộ máy quan lại Từ đó, quy chế tổ chức hành chính và quan lại được xác lập, thể hiện bước tiến bộ rõ rệt trong việc quản lý

xã hội, đất nước Các quan lại cao cấp có nhiều công lao được phong thực phong, thực ấp Chỉ con cháu những người có quan tước, được tập ấm, mới được làm quan

Sang thời Trần, tổ chức bộ máy quan lại ở trung ương có bước hoàn thiện hơn thời Lý Khác với nhà Lý, nhà Trần đặt ra chế độ Thái thượng hoàng Các vua sớm truyền ngôi cho con trai trưởng (hoàng thái tử) nhưng vẫn cùng với vua (con) trông coi chính sự, tự xưng là Thái thượng hoàng Chế độ Thái thượng hoàng thời Trần có tác dụng ngăn chặn tình trạng các đại thần chuyên quyền, cướp ngôi khi vua còn ít tuổi Trong triều đình, đứng đầu các quan vẫn

là ba chức thái (sư phó, bảo) chỉ có điểm khác thời Lý ở chỗ nhà Trần đặt

thêm hàm thống quốc, tá thánh, phụ quốc để gia phong thêm (như thống quốc

thái sư, tá thánh thái sư phụ quốc thái bảo) Chức thái úy thời Lý (tướng quốc)

đổi thành tả hữu tướng quốc bình chương sự Giúp việc cho tể tướng (tướng quốc) thời Trần đặt thêm các chức hành khiển nằm trong cơ quan mật viện Các hành khiển thường kiêm cả các chức thượng thư (đứng đầu bộ), tả hữu

bộc xạ, tả hữu gián nghị đại phu Dưới các chức vụ nói trên, các quan được

chia thành hai ban văn và võ Bên văn có các bộ, đứng đầu mỗi bộ là một viên

thượng thư Ban đầu mới có thượng thư hành khiển, thượng thư hữu bật (2 bộ), từ cuối thế kỷ XIV (1388-1398), đời Quang Thái mới có thêm thượng thư các bộ binh, hình Dưới thượng thư có thị lang, lang trung giúp việc Bên võ

có các chức vụ phiêu kỵ tướng quân, đại tướng, đô tướng, tướng quân, lúc có

chiến tranh, đặt thêm chức tiết chế tổng chỉ huy toàn quân

Ngoài bộ, có các cơ quan chuyên trách như ở thời Lý, nhưng nhiều hơn,

tổ chức chặt chẽ hơn như: các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục);

Trang 24

các đài (Ngự sử đài với các chức tả hữu gián nghị đại phu, thị ngự sử, giám

sát ngự sử v.v.); các viện (Khu mật viện với các chức tri mật viện sự, khu mật tham chính, thiêm tri mật viện sự, giám sự, v.v.), hàn lâm viện (với các chức

hàn lâm học sĩ phụng chỉ, hàn lâm viện học sĩ ), Quốc sử viện, Thâm hình

viện; giám (Quốc tử giám),

Nhìn chung, bộ máy quan lại ở trung ương thời Lý - Trần cấu trúc theo

ba cấp: trung ương, cấp hành chính trung gian, cấp hành chính cơ sở, nhưng ngày càng có hệ thống, đầy đủ hơn từ thời Lý đến thời Trần Ở các địa

phương, nhà Lý từ năm 1011 đổi 10 đạo thời Lê làm 24 lộ, đặt thêm một số đạo và trại, châu Một số châu, trại đổi làm phủ, các vùng xa gọi là châu (như

châu Vĩnh An, Đằng Châu, châu Lâm Tây, v.v.) Dưới lộ có huyện, hương Đếnn thời nhà Trần đổi 24 lộ thành 12 lộ, dưới lộ, phủ là châu, huyện,

xã Đứng đầu các lộ là an phủ sử, ở các phủ là tri phủ, trấn phủ rồi đến các viên chức thông phán, thiên phán, tào, vận lệnh uý v.v Các châu do chuyển

vận sứ, thông phán quản lý, ở huyện do lệnh uý, chủ bạ coi giữ Chế độ xã

quan được phổ biến ở các xã Đứng đầu các xã là đại tư xã và tiểu tư xã Các

viên xã quan được tuyển chọn trong hàng ngũ những người có phẩm hàm, từ ngũ phẩm trở lên làm đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống giữ chức tiểu tư xã (xã

nhỏ) Dưới đại, tiểu tư xã có các chức xã trưởng, xã giám giúp việc sổ sách Nhà Trần còn đặt thêm một tổ chức phụ trách về dòng họ nhà vua gọi là tông chính phủ Năm 1230, nhà Trần cho ban hành bộ sách Thông chế gồm 20 quyển, lại cho soạn sách Quốc triều thường lễ , ghi chép công việc của triều

đình Việc cai quản đất nước dưới thời Trần theo quy chế rõ ràng, có bước tiến bộ, phát triển hơn thời Lý Nhà Trần cũng thực hiện chế độ ban phong thái ấp cho vương hầu, tôn thất và cho phép họ được xây dựng phủ đệ riêng Thời Lý, các quan lại đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc, sang thời Trần, tất cả các chức vụ quan trọng trong triều cũng đều giao cho vương hầu quý

Trang 25

tộc nhà Trần nắm giữ Bởi vậy nhà Trần nắm khá chắc toàn bộ công việc chủ chốt trong triều, quyền lực tập trung trong tay nhà nước trung ương; chế độ quân chủ trung ương tập quyền được củng cố thêm một bước

Cách sử dụng, bổ nhiệm quan lại của nhà nước Lý - Trần đã phản ánh rõ nét tính đẳng cấp sâu sắc, nhất là dưới thời Trần Vì vậy, có thể nói nhà nước

thời Lý - Trần là nhà nước quân chủ quý tộc

Về kinh tế, thời Lý - Trần kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo và là

cơ sở của mọi hoạt động trong nước Chính quyền phong kiến coi trọng nghề nông và đề ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp Sức lao động

và sức kéo trong nông nghiệp được nhà nước bảo vệ Nông dân có ruộng cày, xóm làng ổn định Quân lính được thay phiên nhau về tham gia sản xuất theo

chính sách Ngụ binh ư nông Các công trình khẩn hoang và thủy lợi được tiến

hành hằng năm, quy mô ngày một lớn Tuy nhiên ở thời Lý việc trị thủy do các địa phương tự lo liệu, góp tiền của, nhà nước đóng vai trò chỉ đạo và quản

lý một số đê xung yếu quanh kinh thành Thăng Long, như vậy công tác thủy lợi ở thời kỳ này còn mang tính địa phương nên chưa đồng bộ, do đó mấy chục năm cuối thời Lý thì hầu như việc trị thủy bị bỏ bê không được quan tâm thích đáng Nhưng đến thời Trần, triều đình có nhiều biện pháp khuyến khích nông nghiệp, trong đó có tổ chức làm thủy lợi trong cả nước Trong suốt thời nhà Trần việc xây dựng các công trình thủy lợi hết sức được coi trọng, nhà Trần còn cho đắp đê ngăn mặn, đào sông (sông Mã, sông Lễ ở Thanh Hóa…) Những công trình đó đã tạo ra những điều kiện tốt cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp “Coi trọng nông nghiệp nên thời Lý - Trần các triều đại đã có những điều luật bảo vệ trâu bò và các công trình thủy lợi, luật nhà nước coi việc xây dựng và sửa chữa đê điều là công việc của toàn dân kể cả triều đình” [17, tr 158] Ruộng đất chủ yếu do nhà nước quản lý đứng đầu là vua Ngoài

ra còn có ruộng làng xã, điền trang thái ấp của quý tộc quan lại và ruộng của

Trang 26

nhà chùa Chế độ tư hữu về ruộng đất cũng bắt đầu hình thành trong thời kỳ này Tuy nhiên ở thời nhà Lý chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất chiếm ưu thế trong xã hội tạo ra cơ sở quan trọng cho chế độ trung ương tập quyền Chế

độ này bao gồm 3 bộ phận: ruộng công xã, ruộng phong cấp và ruộng quốc khố, chế độ tư hữu về ruộng đất cũng tồn tại nhưng chiếm một tỷ lệ nhỏ trong

xã hội, điều này khiến cho sự phân hoá giai cấp, sự hình thành giai cấp địa chủ chưa mạnh mẽ Để thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc, triều đại nhà Lý đặc biệt chú ý đến chính sách khoan giảm đối với thần dân của triều đình, đến chính sách dân tộc… chủ trương mở rộng cho sự phát triển văn hoá tư tưởng: Nho - Phật - Lão, văn hoá cung đình, văn hoá dân gian, tín ngưỡng Phật giáo, tín ngưỡng bản địa, ra sức xây chùa tháp nhưng đồng thời cũng bảo tồn và xây dựng miếu thần

Đến nhà Trần, các vua Trần hết sức chú ý đến việc phát triển kinh tế, đặc biệt là chế độ sở hữu ruộng đất Ở thời kỳ này bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước thì ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân cũng xuất hiện và có xu hướng gia tăng Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước gồm hai bộ phận: Một là, ruộng đất do nhà nước quản lý, nó tồn tại như tài sản của bản thân nhà vua và triều đình, là một loại “tư hữu” đặc biệt của riêng hoàng đế Bộ phận ruộng đất do nhà nước quản lý có sơn lăng (là loại ruộng dùng cho việc thờ phụng tổ tiên dòng họ nhà vua), tịch điền (là ruộng riêng của triều đình) và quốc khố Đây là nguồn thu nhập đáng kể của triều đình Hai là, ruộng đất công của thôn làng còn được gọi là quan điền hay “quan điền bản xã” Triều Trần còn cho phép bán ruộng đất công thành ruộng đất tư Năm 1254, triều đình “bán ruộng công, mỗi một diện là 5 quan” [25, tr 25] đã xác nhận quyền sở hữu ruộng đất công làng thuộc về nhà nước Đến 1229, việc bán đất đai đã trở nên tương đối phổ biến Tô thuế ruộng đất vào thời kỳ này chủ yếu là đánh vào ruộng công, nhân đinh cày ruộng công làng xã phải nộp bằng thóc theo diện tích và

Trang 27

thêm một số tiền nhất định Như vậy việc nộp thóc và tiền của nông dân cho nhà nước vừa là thuế vừa là địa tô Năm 1242 nhà Trần cũng ban bố luật tô thuế cho loại ruộng công của làng xã

Về ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân ở thời kỳ này, gồm có: thái ấp, điền trang của quý tộc nhà Trần, ruộng tư hữu của địa chủ và ruộng đất sở hữu của tiểu nông So với nhà Lý, một nét khác biệt trong chính sách kinh tế của nhà Trần là ban cấp ruộng đất và bổng lộc của nhà vua cho quan lại mà tiêu biểu nhất là thái ấp Ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra

cơ sở xã hội xã hội cho chính quyền nhà Trần Ruộng đất của nhà nước sau khi ban thành thái ấp thì trở thành sở hữu tư nhân của các quý tộc Điều đó tồn tại bền vững suốt trong thời nhà Trần, như lời Trần Hưng Đạo nói trong

Hịch tướng sĩ rằng: “thái ấp của ta mãi mãi bền vững mà bổng lộc các ngươi

cũng suốt đời tận hưởng” [26, tr 392] Ngoài thái ấp thì từ 1266, do nhu cầu khẩn trương mở rộng diện tích canh tác và củng cố thêm thế lực cho quý tộc, nhà Trần đã cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ đi khẩn hoang lập điền trang Từ đây, quý tộc dựa vào hai tổ chức kinh tế cơ bản là thái ấp và điền trang mà có thêm thế lực kinh tế, đó cũng là hai bộ phận quan trọng có ý nghĩa quyết định tính chất loại hình sở hữu ruộng đất của quý tộc

Để phát triển nông nghiệp nhà Trần đã cho xây dựng hệ thống đê điều, kênh tiêu úng và áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích phát triển nông nghiệp, trong đó có việc tổ chức làm thủy lợi trong cả nước Đây là một điều khác biệt so với nhà Lý

Thích hợp với quan hệ kinh tế đó là một xã hội có kết cấu giai cấp tương ứng Giai cấp phong kiến thống trị là tầng lớp quý tộc và quan liêu, đại biểu là vua nắm mọi quyền hành ở triều đình và trong xã hội Tiếp đó là tầng lớp địa chủ lúc đầu còn ít nhưng về sau tăng dần lên Tăng lữ là một tầng lớp xã hội

Trang 28

đáng kể và là một lực lượng đông đảo từ cuối Bắc thuộc đến đầu thời Trần Nhà nước phong kiến đã sử dụng tầng lớp này cùng với tầng lớp Nho sĩ mới xuất hiện để duy trì sự ổn định xã hội và củng cố quyền lực triều đình Đông đảo quần chúng nhân dân bị thống trị gồm nông dân, nông nô, nô tỳ Việc phân chia đẳng cấp trong xã hội bắt đầu từ thời Lý vẫn tiếp tục được củng cố trong thời Trần Quá trình xây dựng, củng cố chính quyền quý tộc quân chủ thời Trần đã làm cho quá trình phân hóa đẳng cấp ngày càng mạnh mẽ Nhìn chung trong thời Trần, tồn tại ba đẳng cấp chính là: Đẳng cấp quý tộc, tôn thất

- quan lại trong chính quyền quân chủ; Đẳng cấp những người bình dân (nông dân, thợ thủ công, thương nhân, địa chủ…); Đẳng cấp nô tỳ Do nhiệm vụ cứu nước mà mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và nhân dân thời kỳ này chưa diễn

ra một cách quyết liệt nhưng nó vẫn âm ỉ và cuối cùng phát triển thành những cuộc khởi nghĩa nông dân vào nửa cuối thế kỷ XIII và nửa đầu thế kỷ XIV Chúng ta cũng cần phải lưu ý một mâu thuẫn nữa trong xã hội Trần là cùng với sự phát triển của triều Trần, tầng lớp lãnh đạo, quan lại có sự phân hoá, một bên là quý tộc tôn thất nhà vua có thế lực, cơ sản nghiệp, cơ xu hướng ủng hộ Phật giáo với một bên là ngoại tộc đi lên bằng tài năng, trí tuệ có xu hướng ủng hộ Nho giáo Mâu thuẫn này biểu hiện rõ ở hệ tư tưởng, một bên

đề cao Phật giáo, một bên đề cao Nho giáo Như vậy sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp thời Lý - Trần đã sinh ra một kết cấu xã hội tương ứng phù hợp với nó, đến lượt mình kết cấu xã hội đó đã tác động trở lại không chỉ nền kinh tế mà còn các mặt khác trong xã hội như văn hóa, tín ngưỡng…

Sự phát triển của nông nghiệp cũng tạo điều kiện cho các nghề thủ công phát triển Dưới thời Lý - Trần, các nghề thủ công trong nước được tạo điều kiện phát triển Đó là những nghề truyền thống như dệt, gốm sứ, luyện kim,

mỹ nghệ, chạm khắc, đúc đồng, v.v Trong nông thôn Đại Việt xuất hiện những làng thủ công chuyên sản xuất những sản phẩm truyền thống của mình,

Trang 29

như nghề dệt lĩnh ở Trích Sài (Hà Nội); nghề dâu ở Nghi Tàm (Hà Nội); nghề dệt ở Từ Sơn (Hà Bắc); nghề làm nón ở Ma Lôi (Hải Hưng)… Kinh thành Thăng Long có 61 phường, mỗi phường làm một nghề thủ công, phố xá buôn bán các sản phẩm ngày một sầm uất Từ thời Lý, nhà nước đã áp dụng những biện pháp tạo điều kiện cho các nghề thủ công trong nước phát triển Chẳng hạn, mở lớp dạy dệt gấm cho các cung nữ và khuyến khích dùng những sản phẩm thủ công nội địa Năm 1040, Lý Thái Tông đã ra lệnh phát gấm vóc trong kho để may lễ phục cho vua quan, cấm mua gấm vóc của nhà Tống Nghề dệt lụa của Đại Việt vì thế mà đã trở thành nổi tiếng trong vùng với đủ các thứ vải, lụa, gấm vóc, the đoạn có nhiều màu sắc và họa tiết trang trí đặc sắc Nhu cầu vải mặc và một số trang bị khác cho quân đội đã được nghề dệt trong nước cung cấp Ở thời Trần, thủ công nghiệp được tiếp tục phát triển Nhà Trần cho vẫn tiếp tục cho xây dựng quan xưởng thủ công nghiệp nhà nước Thủ công nghiệp nhà nước bao gồm: sản xuất đồ gốm, dệt, chế tạo vũ khí Bên cạnh đó là sự phát triển của thủ công nghiệp nhân dân bao gồm các nghề: gốm, rèn, đúc đồng, làm giấy, khắc bản in, xây dựng và khai khoáng Như vậy có thể thấy nghề gốm rất phát triển trong thời kỳ này Nghệ thuật gốm sứ thời Lý - Trần mang đậm sắc thái dân tộc, có trình độ thẩm mỹ cao và đạt tới đỉnh cao trong lịch sử phát triển của nó Nghề khai mỏ và luyện kim, chủ yếu là đồng và sắt, đã cung cấp thỏa mãn nguyên vật liệu cho nhà nước đúc tiền, đúc chuông, tượng, các nông cụ cũng như các thứ binh khí, chiến cụ trang bị cho quân đội

Thời Lý - Trần, đường giao thông thủy, bộ trong nước được mở mang và phát triển đồng thời với các phương tiện vận chuyển như các loại thuyền lớn, nhỏ, không chỉ tạo điều kiện trao đổi hàng hóa trong nước và nước ngoài, thúc đẩy phát triển giao lưu kinh tế mà còn phục vụ cho công cuộc phòng giữ đất nước, là cơ sở tốt để nhà nước huy động, sử dụng khi có chiến tranh Đặc biệt

Trang 30

ở thời Trần việc xây dựng hệ thống đường thủy, đường bộ không phải do địa phương và nhân dân tự phát xây dựng mà do triều đình và chính quyền các địa phương trực tiếp tổ chức, xây dựng, đây là bước tiến so với thời Lý

Sự phát triển của giao thông đã thúc đẩy thương nghiệp phát triển Quan

hệ buôn bán với các nước lân cận phát triển Nhà nước thời Lý - Trần không hạn chế ngoại thương, nhưng luôn luôn có những biện pháp quản lý rất chặt chẽ để đề phòng âm mưu do thám của người nước ngoài, nhằm bảo vệ an ninh trong nước chẳng hạn như ở thời Lý chỉ cho phép thương nhân nước ngoài buôn bán ở một số địa điểm nhất định Để thúc đẩy lưu thông hàng hóa, các vua thời Lý - Trần đều cho đúc tiền, ngoài ra còn sử dụng tiền Trung Quốc Tiền không chỉ có vai trò trong buôn bán, giao thương mà cả trong pháp luật triều đình Nhà Lý cho phép dùng tiền để chuộc tội, nhà Trần còn mở rộng việc mua bán đất bằng tiền, nộp tiền để lấy quan chức… Như vậy có thể thấy tiền tệ đã xâm nhập vào đời sống chính trị và tín ngưỡng thời kỳ này

Sự phát triển của thương nghiệp trong thời Lý - Trần còn được thể hiện ở việc hình thành mạng lưới nội thương với các chợ, trung tâm buôn bán ở nhiều vùng khác nhau như: hệ thống chợ ở đồng bằng sông Hồng; ở các đầu mối giao thông có các phố buôn bán sầm uất như phố Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), phố Lố (Văn Giang, Hưng Yên), cảng Vân Đồn (Quảng Ninh)…

và hệ thống các cửa biển Hội Thống, Cần Hải (thuộc Nghệ Tĩnh), Hội Triều (Thanh Hóa) là những trung tâm buôn bán lớn với nước ngoài

Mở rộng buôn bán, giao thương với nước ngoài nhưng các triều đại Lý - Trần vẫn giữ được thế tự chủ trong quan hệ với các nước xung quanh Nhà nước Lý - Trần tiếp tục thực hiện chính sách ngoại giao tích cực thời Đinh -

Lê là chủ trương giao hảo với các nước lân bang, nhưng kiên quyết chống trả các thế lực ngoại xâm để bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ

Nhà Lý thường cử các đoàn sứ giả sang Tống nộp cống lễ Vua Tống biết

Trang 31

chưa thể xâm lược được Đại Việt, nên đã phong vương và công nhận các vua triều Lý Từ những năm 70 của thế kỷ XI, để cứu vãn tình thế nguy ngập trong nội bộ triều chính, nhà Tống chủ động phá mối quan hệ hòa hảo giữa hai nước, gây cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt Đối với Chămpa và Chân Lạp, nhà Lý theo đuổi chính sách giữ yên biên giới của một vương triều mạnh Nhưng Chămpa về hùa với Chân Lạp, nhiều lần đem quân xâm phạm Đại Việt, như vào các năm 1020, 1044, 1065 Nhà Lý đã điều quân đánh trả

Có những lần đánh vào tận kinh đô Phật Thệ như các năm 1044, 1069

Nhà Trần tiếp tục chính sách của nhà Lý trong việc giữ yên biên cương, bảo toàn lãnh thổ Tuy có sự việc xảy ra năm 1252, quân Chămpa cướp bóc vùng ven biển phía nam Đại Việt đã bị quân Việt, dưới sự chỉ huy của vua Trần Thái Tông, tiến quân vào đánh bại, nhưng nổi bật lên vẫn là quan hệ hoà hiếu rất tốt đẹp giữa nhà Trần với vương triều Indravarman IV của Chămpa, nhất là trong và sau cuộc phối hợp kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược Trong quan hệ ngoại giao với Mông Cổ, nhà Trần tỏ thái độ rất kiên quyết tìm mọi cách để giữ vững độc lập, tự chủ, mặc dù vẫn chịu nộp cống cho chúng theo lệ thường từ trước với nhà Tống, làm cho nhà Nguyên phải kính nể Khi quân Mông - Nguyên xâm lược nước ta, nhà Trần đã lãnh đạo cả nước đứng lên đánh thắng chúng, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và độc lập của đất nước

Những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế, chính trị- xã hội đã tạo ra những

cơ sở vật chất vững vàng cho sự tồn tại quốc gia độc lập tự chủ và mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nền văn hóa dân tộc vừa mang những nét đặc trưng riêng vừa có sự giao thoa với văn hóa của các quốc gia lân cận

1.2.2 Văn hóa thời Lý - Trần

Dựa trên cơ sở kinh tế như đã phân tích ở trên, văn hóa trong thời Lý -

Trang 32

Trần đã có bước phát triển mạnh mẽ so với các triều đại trước đó Điều này thể hiện ở hệ thống giáo dục và văn học thời kỳ này “Giáo dục thi cử dần dần

đi vào quy củ Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu; năm 1075 mở khoa thi đầu tiên gọi là Minh kinh bác học; năm 1076 lập Quốc Tử Giám Thời Lý - Trần liên tục mở các khoa thi để chọn người hiền tài… Sự ra đời của tầng lớp tri thức đã tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển tư duy lý luận của dân tộc” [10, tr 132-133] Trong xã hội xuất hiện dần một tầng lớp Nho sĩ Nhưng chế độ giáo dục và thi cử theo tinh thần Nho giáo mới chỉ bắt đầu Thời Lý, Phật giáo vẫn chiếm ưu thế và các nhà sư vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Tuy nhiên, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo đồng thời phát triển pha trộn nhau, kết hợp với những tín ngưỡng dân gian và tất cả đều bị chi phối bởi yêu cầu đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước

Sang thời Trần, vẫn duy trì và phát triển chế độ khoa cử từ thời Lý, tuy nhiên được sự quan tâm của nhà nước việc học tập và thi cử ngày càng đi vào

nề nếp, chính quy hơn Năm 1253 nhà Trần cho mở Quốc học viện để đào tạo nhân tài lúc đầu chỉ dành riêng cho con em quý tộc, quan lại, sau mở rộng cho giới nho sĩ vào học Tiếp sau đó, ở Thăng Long và các địa phương trường lớp cũng được dựng lên khá nhiều Ngoài các trường do nhà nước tổ chức, trường

tư xuất hiện cũng thu hút sự tham gia của nhiều học trò, sự tồn tại của trường

tư cũng góp phần quan trọng vào đời sống xã hội của đất nước Tuy nhiên, ngoài những trường do nhà nước quản lý có quy chế rõ ràng, còn lại các trường khác việc học hết sức tùy tiện Mãi đến cuối thời Trần, năm 1397 nhà Trần đưa ra một quy chế về giáo dục thi cử như sau: “Nay quy chế ở kinh đã

đủ mà ở châu huyện thì thiếu làm thế nào để mở rộng đường giáo hóa cho dân? Nên lệnh cho các lộ phủ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa thì 12 mẫu, phủ châu nhỏ 10 mẫu để chi dùng cho việc học

Trang 33

trong phủ châu mình Lộ quan và đốc quan hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghề, cứ đến cuối năm chọn người ưu tú tiến cử lên triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc” [25, tr 192]

Về khoa cử năm 1232 nhà Trần đặt ra học vị đầu tiên cho việc thi cử ở nước ta gọi là Thái học sinh, được tổ chức định kỳ 7 năm một lần Bên cạnh

đó nhà Trần còn mở các kỳ thi tuyển chọn các nho sinh hay chữ vào các quán, sảnh, viện và mở các khoa thi tam giáo (Nho, Phật, Đạo) Từ 1247 nhà Trần đặt lệ lấy tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) và chế độ thi cử cũng được quy định chặt chẽ hơn Nội dung học và thi cử thời kỳ này bao gồm một số nội dung chính trị, đạo đức của Nho giáo và Phật giáo Các vua Trần không chỉ sùng Phật mà còn sử dụng Phật giáo như môt công cụ tư tưởng để quản lý xã hội và tu dưỡng đạo đức, cố kết xã hội

Văn học trong thời kỳ Lý - Trần cũng có bước phát triển vượt bậc, không chỉ đa dạng về thể loại mà còn phong phú về nội dung Chủ đề của những áng thơ văn thời Lý - Trần không những xoay quanh vấn đề của Phật giáo, mà còn xoay quanh những vấn đề của đạo Nho và nhất là của đời sống hiện thực Những sáng tác trong thời kỳ này phong phú về thể loại, sâu sắc về nội dung cùng với những công trình nghiên cứu về tự nhiên và xã hội Trong đó nổi bật lên là những áng văn thơ thể hiện tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân ta trong công cuộc chống ngoại xâm Đặc biệt sự ra đời của chữ Nôm phản ánh tinh thần độc lập tự cường của dân tộc ta lúc bấy giờ

Ngoài ra nghệ thuật sân khấu ca vũ nhạc cũng có bước tiến bộ đáng kể: hát ả đào, hát chèo, hát tuồng ra đời Kiến trúc và điêu khắc đạt được thành tựu quan trọng với những công trình nổi tiếng như: Văn Miếu, chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, chùa Phổ Minh, tháp Bình Sơn Chứng tỏ kỹ thuật thiết kế và xây dựng của người Việt thời kỳ này cũng khá cao

Ngành sử học ra đời, việc soạn những bộ sử của đất nước đã được chú

Trang 34

trọng ở thời Trần Nhiều bộ sử đã xuất hiện thời Trần như Việt sử lược, An Nam chí lược, Việt sử cương mục… đáng chú ý nhất là bộ Đại Việt sử ký của

Lê Văn Hưu Đặc biệt trong thời kỳ này còn xuất hiện một số bộ sử chuyên

ngành, dã sử và truyền thuyết của dân tộc như tác phẩm Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái…

Trong y học xuất hiện danh y nổi tiếng Tuệ Tĩnh

Trong thời Lý - Trần, cả Nho - Phật - Lão đều phát triển nhưng hưng thịnh nhất vẫn là Phật giáo Phật giáo Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng của cả Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, đến thời nhà Lý do muốn có một hệ tư tưởng của riêng mình nên thiền phái Thảo Đường ra đời, đến thời nhà Trần, Trần Nhân Tông đã lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang đậm màu sắc Việt Nam

Sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hoá của Đại Việt thời Lý - Trần

là cơ sở điều kiện cho vườn hoa tư tưởng của thời Lý - Trần nói riêng, của dân tộc nói chung tươi tốt và có nhiều hương sắc

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như C Mác đã nói: "Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ

là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học" [15, tr 156] Điều đó cũng có nghĩa là bất cứ một trào lưu tư tưởng, một học thuyết triết học nào cũng hình thành và phát triển dựa trên các điều kiện vật chất và đời sống xã hội nhất định Những tư tưởng triết học của Phật giáo thời kỳ Lý - Trần hình thành, phát triển và chịu sự quy định của điều kiện kinh tế - xã hội, cũng như những tiền đề lý luận trong thời kỳ đó

Có thể nói thời đại Lý - Trần kéo dài trong gần bốn thế kỷ (1010 -1399)

là thời kỳ phát triển thịnh vượng của chế độ phong kiến Việt Nam Đây là thời

kỳ gặt hái được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã

Trang 35

hội… Về kinh tế, mặc dù mỗi triều đại có chính sách cụ thể khác nhau, tuy nhiên cả nhà Lý và nhà Trần đều chú trọng phát triển một nền kinh tế trong đó nông nghiệp là chủ đạo đồng thời phát triển đa dạng các ngành nghề khác như thủ công nghiệp, thương nghiệp Chính sự phát triển thương nghiệp đặc biệt là hoạt động giao thương với nước ngoài là điều kiện để giao lưu, tiếp biến văn hóa, làm phong phú nền văn hóa dân tộc thời kỳ này

Là một hình thái ý thức xã hội Phật giáo Lý - Trần nói chung và những

tư tưởng biện chứng trong Phật giáo thời kỳ này nói riêng không chỉ phản ánh điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội lúc bấy giờ mà nó còn là kết quả của sự kế thừa, phát triển như tư tưởng văn hóa, tôn giáo trước đó Đó là sự kế thừa những tư tưởng biện chứng trong Phật giáo (từ Trung Quốc và Ấn Độ), tư tưởng văn hóa Việt Nam trong thời kỳ này Mặt khác với quyết tâm xây dựng đất nước Đại Việt giàu mạnh, độc lập cả về kinh tế, văn hóa… cho nên dù tiếp thu Phật giáo từ nước ngoài nhưng các thiền sư, thiền phái thời Lý - Trần đã cải biến nó, tạo nên thiền phái mang đặc trưng Việt Nam với rất nhiều tư tưởng đặc sắc

Trang 36

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN

2.1 TRIẾT LÝ VÔ THƯỜNG

Quy luật vô thường của nhà Phật cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều không thường hằng, mà luôn luôn biến đổi Sinh lão bệnh tử, sinh trụ dị diệt, thành trụ hoại không, không có gì là tồn tại vĩnh viễn Phật giáo Lý - Trần cũng tiếp thu tư tưởng đó về cơ bản nhưng biến đổi nó thông qua lăng kính của các thiền sư

Hầu hết các thiền phái, thiền sư trong thời Lý - Trần đều có bàn đến vô thường ở những mức độ khác nhau và nói đến sự vô thường của vạn vật cũng

là để làm rõ sự vô thường của cuộc đời con người Họ chủ yếu bàn về vô thường trong cách nhìn nhận đời sống con người

Về luật vô thường, Trần Thái Tông viết: “Quang cảnh trăm năm toàn ở sátna, thân dối bốn đại, há được trường cửu Suốt ngày long đong vội vã, một mai lưới nghiệp mênh mang Không biết một tính sáng tròn, luống sinh sáu căn tham muốn Công danh cái thế chỉ là mộng lớn một trường; phú quý khinh người, khó tránh vô thường hai chữ Ta người tranh chấp rốt cuộc thành không, hay giỏi khoe khoang cuối cùng chẳng thực” [21, tr 61] Có thể hiểu theo ông vạn vật, con người luôn luôn biến đổi vụt mất, vụt còn không có gì

là trường cửu Vậy mà con người không hiểu được cứ suốt ngày long đong vội vã, nảy sinh ham muốn chiếm đoạt những cái chẳng có thực Đây giống như một hồi chuông cảnh báo người đời đang lầm trong sông mê, bể khổ Vạn vật cũng thay đổi trong nháy mắt, ngay cả thân thể con người cũng đâu là tạm

bợ, không trường cửu, vậy mà con người vẫn lầm lạc mê muội sống hối hả bon chen mà không biết danh lợi cũng chỉ là mộng tưởng, cho nên “khó tránh

vô thường hai chữ”

Trang 37

Trần Thái Tông cho rằng con người cũng là sự kết hợp động, tạm thời của năm dharma động cho nên nó cũng là ảo, không thật Cuộc đời con người cũng thoáng qua như nước trên sông, mây trên đỉnh núi “Luật vô thường thể hiện ở vũ trụ là thành, trụ, hoại không, thể hiện ở vạn vật là sinh, trụ, dị, diệt còn thể hiện ở con người là sinh, lão, bệnh, tử.” “Bản thể là không sinh không hóa, nhưng đi ngược đường đó làm cho có hóa có sinh Hoặc sinh đấng thánh hiền, người ngu kẻ trí, hoặc hóa vẩy sừng, giống mao vũ Luôn ngập đắm sông mê, trôi chìm trong bể khổ” [10, tr 189] Vốn dĩ sự vật hiện tượng

đã là như thế không sinh, không hóa nhưng do con người không hiểu điều đó, luôn muốn thay đổi vạn vật theo ý mình vì thế luôn chìm trong sông mê, bể khổ Như vậy có thể thấy Trần Thái Tông đã tiếp thu tư tưởng vô thường trong Phật giáo, tuy nhiên ông chỉ chủ yếu bàn về con người và cuộc sống của con người mà không bàn nhiều về thế giới, vạn vật

Trong quan niệm về vô thường Tuệ Trung Thượng Sĩ có cái nhìn tương đối toàn diện Theo ông, từ con người đến quốc gia dân tộc, từ không gian đến thời gian đều biến đổi không ngừng, sự vật hiện tượng, từ cái to lớn đến cái nhỏ bé đều luôn biến đổi không ngừng

Ông viết:

Người đời có thịnh thì có suy,

Hoa kia có tươi thì có héo

Quốc kia có hưng thì có vong,

Thời thế có thái thì có bĩ

Ngày có sớm thì có chiều,

Năm có trước thì có sau

(Nhân chi hữu thịnh hề hữu suy,

Hoa chi hữu diễm hề hữu ủy

Quốc chi hữu hưng hề hữu vong,

Trang 38

Thì chi hữu thái hề hữu bĩ

Nhật chi hữu mộ hề hữu triêu, Niên chi hữu chung hề hữu thủy)

[21, tr 292-293]

Theo Tuệ Trung, cuộc đời của con người lúc thế này lúc thế khác “hư hư thực thực”, nay thịnh mai suy, cứ như vậy biến đổi không ngừng Không chỉ con người mà vạn vật: đất, nước, cỏ cây, thời thế, thậm chí cả chí cả thời gian cũng biến đổi, đó là một tất yếu không cưỡng lại được Vì thế con người nên chấp nhận nó, không nên tìm cách chống lại điều đó chỉ mang lại đau khổ mà thôi Sự hưng thịnh hay suy vong ấy diễn ra giống hệt như những lớp sóng trên đại dương mênh mông, thăng trầm vô tận Tuy nhiên ông lại cho rằng kết thúc quá trình biến đổi ấy mọi sự vật lại dường như trở về trạng thái ban đầu, tức là không thấy được sự phát triển của vạn vật Trong bài Chợt tỉnh (Đốn tỉnh), ông viết:

“Trăng sáng đêm qua vẫn là trăng đêm nay,

Hoa nở năm mới vẫn là năm cũ”

(Tạc dạ nguyệt minh kim dạ nguyệt,

Tân niên hoa phát cố niên hoa)

[21, tr 269]

Tất cả mọi vật trong thế giới đều biến đổi tuân theo luật tạo hóa, giống như trăng cứ đến rằm là tròn, đến mùa xuân hoa lại nở, vì thế đừng thấy trăng lặn, hoa tàn mà buồn lòng, bởi vì rồi trăng sáng đêm qua đêm nay lại sáng, hoa nở năm cũ năm mới lại nở Cuộc đời của con người cũng vậy, lúc thế này, lúc thế khác, giống như bọt biển trên biển trên biển khơi, mong manh vô thường phù du, ngắn ngủi

Với quan niệm “trăng sáng đêm qua vẫn là trăng đêm nay”, và mọi sự vật trong thế giới hiện tượng biến đổi nhanh chóng trong từng sátna, triết học

Trang 39

Phật giáo nói chung, triết học Tuệ Trung nói riêng đã tuyệt đối hóa vận động, phủ nhận đứng im tương đối

Dựa theo tư tưởng của chủ nghĩa duy vật biện chứng ta có thể thấy rằng

tư tưởng về vận động trong triết học Tuệ Trung về cơ bản là đúng, vì mọi sự vật trong vũ trụ dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào cũng nằm trong quá trình biến đổi không ngừng Nhưng do chỉ thấy vận động mà không thấy đứng im tương đối, nên Tuệ Trung nhìn sự vật, hiện tượng chỉ là ảo ảnh

Ngoài tư tưởng về vận động đã nêu trên, Tuệ Trung còn cho rằng, mọi sự vật suy cho cùng đều là không Ông nói:

“Bọt trong biển lớn lênh đênh ẩn hiện,

Mọi hiện tượng đều biến diệt không ngừng, hết thảy là không”

(Đại hải trung âu nhan xuất một,

Chư hành vô thường nhất thiết không)

Trời đất chỉ như búng ngón tay,

Non song chỉ bằng một tiếng dặng hắng

Tạm thời gió mưa rung chuyển,

Gà gáy lúc canh năm

Trang 40

[21, tr 245]

Theo Tuệ Trung, sự thay đổi của trời đất, non song diễn ra nhanh chóng như “búng ngón tay”, “bằng một tiếng đặng hắng”, cuộc đời của con người chỉ là những giấc mộng, có đấy mà không thật, vụt mất, vụt còn

“Cuộc đời như đám mây nổi, luôn luôn thay đổi nhiều vẻ,

Mơ màng đành phó cho giấc mộng Nam Kha”

(Y cẩu phù vân biến thái đa,

Du du đô phố mộng Nam Kha)

“Bốn mùa tuần hoàn hết, xuân lại thu,

Nhanh sấm sập chả mấy chốc đã già mái đấu con trẻ

Chẳng chịu ngoái nhìn vinh hoa như một giấc mộng”

(Tứ tự tuần hoàn sinh phục thu,

Xăm xăm dĩ lão thiếu niên đầu

Vinh hoa khẳng cố nhất trường mộng) [21, tr 264]

Sự biến đổi của thời gian trong một năm diễn ra vô cùng nhanh chóng, khiến con người bất lực, nên vinh hoa phú quý cũng chỉ là giấc mộng mà thôi Đối với Tuệ Trung, con đường khổ ải luân hồi của kiếp người cũng giống như trục bánh xe quay mãi không ngừng Ông nói:

“Nẻo “khổ”cứ luân hồi như trục bánh xe quay mãi,

Song “ái”, chìm nổi như bọt nước bập bềnh”

Ngày đăng: 26/11/2017, 02:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w