Tuy nhiên, do nhận thức về vai trò và vị trí của người phụ nữ còn hạn chếnên trong xã hội ngày nay, nên người phụ nữ vẫn chưa thực sự có được vị thế xứngđáng, tư tưởng “trọng nam khinh n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN
- -BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT
Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN
- -BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT
Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội
Nhóm sinh viên thực hiện : Lê Thu Hiền
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa của đề tài 4
7 Cấu trúc 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Quan niệm về bình đẳng giới 5
1.2 Vài nét khái quát về đạo Phật 7
Kết luận chương 1 17
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG GIỚI 18
TRONG GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT 18
2.1 Một số tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật 18
2.2 Tác động của Phật giáo và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam 31
Kết luận chương 2 36
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 4MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Các Mác đã từng nói: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội
mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào” [16] Tiếp thu tư tưởng của
Các- Mác và xuất phát từ thực tiễn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng
định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già ra sức dệt thêu
mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [16] Có thể thấy từ xưa đến nay người phụ nữ luôn giữ vị
trí quan trọng và có những cống hiến to lớn, góp phần xây dựng truyền thống vẻvang của dân tộc, đồng thời cũng tạo nên truyến thống của chính giới mình
Tuy nhiên, do nhận thức về vai trò và vị trí của người phụ nữ còn hạn chếnên trong xã hội ngày nay, nên người phụ nữ vẫn chưa thực sự có được vị thế xứngđáng, tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, nạn ngược đãi đối với phụ nữ, tác phong giatrưởng, chuyên quyền, độc đoán của không ít nam giới, sự thiếu bình đẳng trongviệc ra các quyết định lớn vẫn đang tồn tại Bên cạnh đó, xã hội và gia đình chưathực sự nhìn nhận, đánh giá hết những cống hiến của phụ nữ cũng như những khókhăn của họ về mặt nào đó, chỉ khai thác sự đóng góp của phụ nữ mà chưa coi trọngđúng mức việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt, tạo điều kiện cho phụ nữ pháttriển Chính điều này đã làm chậm quá trình thực hiện mục tiêu công bằng xã hội vàbình đẳng giới ở nước ta hiện nay
Tại Việt Nam, Phật giáo đã được du nhập vào từ rất sớm và trở thành mộtthành tố tạo nên bản sắc văn hóa Từ trong lịch sử, những giá trị nhân văn của Phậtgiáo mang tính phổ quát như từ bi, bình đẳng, bác ái, khoan dung, đã trở thành nhânsinh quan, triết lý sống và thẩm thấu vào đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đếnđời sống tinh thần của người Việt Việc truyền tải những giá trị đó vào cuộc sống sẽđóng góp một phần đáng kể vào việc xây dựng một nền đạo đưc mới lành mạnh, tiến
bộ Vậy vấn đề đặt ra là với một quốc gia mà đạo Phật có tầm ảnh hưởng vô cùng sâurộng thì giáo lý đạo Phật đóng góp gì cho việc thực hiện bình đẳng giới?
Đề tài nghiên cứu không phải là trích dẫn kinh điển để bổ sung cho những vănkiện, báo cáo, các tham luận, nghị quyết có tính quốc tế về bình đẳng giới, về quyền
Trang 5phụ nữ… vốn đã rất chi tiết rõ ràng và đã được công nhận về mặt pháp lý Quan trọnghơn là tinh thần bình đẳng giới của Phật giáo Trong bài phát biểu tại Lễ khai mạc
“Ngày văn hóa Phật giáo Ấn Độ”, Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa cho biết: "Bình đẳng giới là một chủ đề rất quan trọng trong Phật giáo Bởi, Đức Phật luôn dạy về sự bình đẳng không chỉ giữa nam giới và nữ giới, mà mọi loài, mọi vật đều cần được đối
xử bình đẳng, công bằng Xét về giữa nam giới và nữ giới, Đạo Phật không bao giờ nói rằng nam giới là hơn và nữ giới là kém" [10] Tinh thần này cần được thông hiểu,
được phổ biến, thực hành đối với tất cả những người Phật tử, từ đó, ảnh hưởng tốt đến
xã hội Qua đó, một lần nữa, khẳng định tính chất bình đẳng, không phân biệt, của Phậtgiáo là chân lý có thể được áp dụng qua mọi thời đại, mọi vị thế địa lý
Vì những lí do trên, chúng em mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Tư tưởng bình
đẳng giới trong giáo lý đạo Phật”.
2 Lịch sử nghiên cứu
Phật giáo là một hệ thống tôn giáo – triết học đã thu hút sự quan tâm nghiêncứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Có một khối lượng khá đồ sộ các côngtrình nghiên cứu tổng quan về Phật giáo hay các khía cạnh khác nhau về Phật giáo.Tuy nhiên, về tư tưởng bình đẳng giới trong Phật giáo cho đến nay chưa có côngtrình chuyên biệt nào nghiên cứu trọn vẹn về vấn đề này Nghiên cứu tư tưởng bìnhđẳng giới trong Phật giáo không thể tách rời việc khảo cứu những công trình nghiêncứu cơ bản về đạo Phật, bởi vì trong hệ thống giáo lý đạo Phật, các tư tưởng đều cóliên quan mật thiết với nhau Chúng em chia các tư liệu thành hai nhóm chính sau:
2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về Phật giáo nói chung
Trong nước, Nguyễn Lang với ba tập“Việt Nam Phật giáo sử luận”; Nguyễn Hùng Hậu với tác phẩm đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam.
Ở nước ngoài, có các chuyên gia nghiên cứu về Phật giáo như Bác sĩ Kimura
Taiken với tác phẩm bộ ba:“Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận”; “Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận”; “Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận”; Walpola Rahula với tác phẩm “Lời giáo huấn của Phật Đà,…
Những tác phẩm nói trên đã cung cấp những kiến thức cơ bản và sâu sắc vềPhật giáo, là nền tảng để tác giả có thể triển khai nghiên cứu tư tưởng bình đẳngtrong đạo Phật
Trang 6Trong số những luận văn, luận án nghiên cứu về Phật giáo theo các khía cạnh
khác nhau có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Toan“Quan niệm về giải thoát trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Việt Nam hiện nay”, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2006 Tác giả đã trình bày khá sâu sắc về phạm trù giải thoáttrong Phật giáo Việt Nam và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống người ViệtNam hiện nay
2.2 Nhóm các công trình đề cập đến tư tưởng bình đẳng ở các góc độ khác nhau
Tác giả Thu Giang và Nguyễn Duy Cần với tác phẩm “Phật học tinh hoa”
đã trình bày một cách bao quát, hệ thống tư tưởng Phật giáo, giải thích rõ ràng và
tiến vào mức độ cao của Phật học Đặc biệt trong chương về thuyết “Bình đẳng” đã
gợi mở nhiều điều bí ẩn và sâu sắc trong hệ thống tư tưởng Phật giáo
Tác giả Hoàng Thị Thơ trong Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 2-2007 với bài
viết: “Vài suy ngẫm về khoan dung tôn giáo trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Việt Nam”, tác giả đã đưa ra một nhận định rất có giá trị rằng chính mục tiêu
giải thoát chúng sinh khỏi cái khổ nội tâm và con đường giải thoát bình đẳng, mọingười đều bình đẳng trên con đường giải thoát và khả năng giải thoát
Trong luận văn thạc sĩ triết học (2009) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải tìm
hiểu về “Đạo đức Phật giáo qua Trung Bộ kinh” cũng đã khẳng định tư tưởng bình
đẳng trong Phật giáo nguyên thủy trên các phương diện như: bình đẳng tôn giáogiữa người và người, bình đẳng Phật tính nơi chúng sinh
Trong luận văn thạc sĩ triết học (2012) của tác giả Phạm Thị Hồng tìm hiểu
về “Tư tưởng bình đẳng trong giáo lý đạo Phật”cũng đã chỉ ra tư tưởng bình đẳng
trong giáo lý đạo Phật trên các phương diện: bình đẳng dưới góc độ đạo đức và một
số khía cạnh xã hội của tư tưởng bình đẳng trong Phật giáo
Tóm lại, hầu hết các công trình nghiên cứu về Phật giáo đều đề cập đếnnhững bất công trong xã hội và sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt trong xã hội Ấn
Độ cổ đại và đi đến khẳng định Phật giáo đề xướng một xã hội bình đẳng và dùngtinh thần bình đẳng để đối xử với con người cũng như thế giới xung quanh Nhưngtất cả chỉ dừng lại ở đó Chưa có một công tình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và
kĩ càng về tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật Nhận thấy đây là một
Trang 7khoảng trống trong nghiên cứu để chúng em có thể khai thác, đào sâu, vì vậy mà
chúng em quyết định lựa chọn “Tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật”
làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý Phật giáo, chỉ ra những ảnhhưởng của nó tới việc thực hiện bình đẳng giới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tập trung vào hai nội dung:
Phân tích cơ sở lí luận của tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật.Làm rõ những nội dung, ảnh hưởng của tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lýđạo Phật và đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức về tư tưởng bình đẳng giớitrong đạo Phật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật
Phạm vi nghiên cứu: tác giả chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng bình đẳng giớitrong các giáo lý Phật giáo nguyên thủy như Kinh Tăng Chi Bộ, Kinh Hoa Nghiêm,Kinh A Hàm, Kinh Trường Bộ,…
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩaduy vật biện chứng
Các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, phương pháp logic, lịch
sử, đối chiếu, so sánh,… để thực hiện các nhiệm vụ đã nêu
6 Ý nghĩa của đề tài
Khái quát tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật
Chỉ ra ảnh hưởng của giáo lý đạo Phật tới việc thực hiện bình đẳng giới
7 Cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo của đề tàinghiên cứu khoa học gồm có 2 chương 4 tiết:
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Quan niệm về bình đẳng giới
Bình đẳng giới là một khái niệm hàm chứa ý nghĩa xã hội to lớn Sự ra đờicủa khái niệm bình đẳng giới là kết quả của phong trào phụ nữ và chủ nghĩa nữquyền Lịch sử nhân loại ở các nền văn hóa khác nhau, trải qua nhiều hình thái kinh
tế xã hội và nhiều thời đại, đã cung cấp nhiều bằng chứng về sự bất bình đẳng đốivới phụ nữ, về thân phận khốn cùng của người phụ nữ Do đó, ngay từ khi ra đời,phong trào phụ nữ đã là phong trào đòi quyền bình đẳng, đòi giải phóng khỏi sự lệthuộc vào nam giới và cho ra đời phong trào nữ quyền và chủ nghĩa nữ quyền Bìnhđẳng giới là nguyên tắc chỉ đạo của phong trào nữ quyền trong suốt mấy chục nămqua Mặc dù vậy, không phải lúc nào, ở đâu cũng có cách hiểu thống nhất về vấn đềnày Có rất nhiều quan điểm khác nhau về bình đẳng giới:
Bình đẳng giới là phụ nữ và nam giới cùng có những điều kiện như nhau đểphát huy hết năng lực tiềm tàng của mình, cùng có cơ hội để tham gia, đóng góp vàhưởng thụ bình đẳng các kết quả phát triển của quốc gia trên các mặt chính trị, kinh
tế, văn hóa và xã hội Điều quan trọng nhất là bình đẳng giới đem lại kết quả ngangnhau cho cả phụ nữ và nam giới [24]
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống vàkhác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và phụ nữ cũng có vị thế bình đẳng
và được tôn trọng như nhau Phụ nữ và nam giới cùng: có điều kiện bình đẳng đểphát huy hết khả năng và thực hiện mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng đểtham gia, đóng góp và hưởng thụ từ các nguồn lực của xã hội và quá trình pháttriển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quảbình đẳng trong tiếng nói [24]
Bình đẳng giới là sự bình đẳng về luật pháp, về cơ hội, bao gồm sự bìnhđẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bìnhđẳng trong thù lao cho công việc và bình đẳng trong tiếng nói
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điềukiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của giađình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [24]
Trang 9Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống vàkhác nhau giữa phụ nữ và nam giới, là tình hình lý tưởng trong đó phụ nữ và namgiới được hưởng vị trí như nhau, có các cơ hội bình đẳng để phát hiện đầy đủ tiềmnăng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển chung và hưởng lợi bình đẳng từcác kết quả đó
Như vậy, bình đẳng giới trước hết được hiểu là sự đối xử như nhau giữa namgiới và phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội Nguyên tắc đối
xử như nhau là điều hết sức cần thiết, song có lẽ nó chưa đủ để phụ nữ được bìnhđẳng thực sự Vì việc đối xử như nhau, cơ hội như nhau không đem lại kết quả nhưnhau đối với giới nữ và giới nam, vì cũng là con người như nam giới nhưng phụ nữlại có những đặc tính hết sức riêng biệt (do đặc trưng sinh học và đặc trưng xã hộiquy định hay chi phối), cho nên, nếu chỉ thực hiện sự đối xử như nhau căn cứ vàocái chung và không chú ý đến cái riêng để có các đối xử đặc thù thì sẽ không cóbình đẳng thực sự Những đối xử đặc thù tác động đến sự khác biệt tự nhiên giữanam và nữ, hạn chế những thiệt thòi của phụ nữ, tác động làm thay đổi vị thế củaphụ nữ do lịch sử để lại được duy trì chừng nào đạt được sự bình đẳng hoàn toàn.Đối xử đặc thù không chỉ căn cứ vào sự khác biệt giữa nam và nữ, quá trình bìnhđẳng giới còn phải chú ý sự khác biệt ngay trong giới nữ, thể hiện qua các nhómphụ nữ khác nhau: giữa thành thị và nông thôn, giữa công nhân và nông dân, tríthức, giữa phụ nữ giàu và phụ nữ nghèo…
Theo Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2007:
“Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.” [13]
Ngoài ra khi đề cập tới bình đẳng giới, không nên hiểu bình đẳng giới theocách đơn giản là nam giới và nữ giới tham gia như nhau trong tất cả các hoạt động,cũng không phải là phương châm phụ nữ “vùng lên” đòi hỏi quyền lợi ngang bằngvới nam giới, bất chấp sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa nam và nữ Việckhông phân định rõ ràng sự khác biệt mang tính chất giới và giới tính lại chỉ thấy cómột phía là không bình đẳng nghiêng về phía nữ, chắc chắn sẽ dẫn đến hệ quảngược lại với mong muốn ban đầu mang tính nhân văn sâu sắc của nhận thức giới
Trang 10và cách giải quyết sẽ chỉ là: hoặc hoán vị vai trò giới một cách máy móc những gìphụ nữ có và phải làm thì đem chuyển cho nam giới và ngược lại, hoặc đi đến chủnghĩa bình quân giữa nam và nữ để chi chia nhau cơ hội, lợi ích, trách nhiệm…
Qua sự phân tích trên có thể hiểu bình đẳng giới là sự đối xử ngang quyềngiữa hai giới nam và nữ có xét đến những đặc điểm giống nhau và khác nhau củamỗi giới, thậm chí sự cả sự khác biệt trong giới nữ, và được điều chỉnh bởi cácchính sách đối với từng giới một cách hợp lí Những chính sách về bình đẳng giớiphải thể hiện những đặc điểm sau: tính ngang bằng của nữ giới với nam giới trongmọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế - xã hội và gia đình; tính ưu đãi: do đặc điểmsinh học và quan hệ xã hội mang tính truyền thống của phụ nữ là thiệt thòi hơn sovới nam giới nên để đạt được sự bình đẳng giới cần có sự đối xử ưu đãi, khuyếnkhích đặc biệt và hợp lý đối với phụ nữ; tính linh hoạt: sự đối xử ưu đãi với phụ nữcần mềm dẻo, được điều chỉnh linh hoạt trong từng hoàn cảnh cụ thể, không mangtính bất biến
Bình đẳng giới theo yêu cầu của xã hội hiện nay cần phải gắn với quan điểmphát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Nó đòi hỏi một sự chuyểnbiến đồng bộ của tất cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng trước hết đối với namgiới trong hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ ứng xử xã hội và hành vi cụthể trong mối quan hệ với phái nữ
1.2 Vài nét khái quát về đạo Phật
1.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật
1.2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Ấn Độ cổ đại là một trong những nước ở Phương Đông có điều kiện tựnhiên, điều kiện địa lý, khí hậu đa dạng, phức tạp và vô cùng khắc nghiệt Chínhđiều kiện sống đó đã tác động thường xuyên, lâu dài đến sinh hoạt vật chất và tinhthần, phong tục tập quán, tâm lý, quan điểm tư tưởng và tín ngưỡng tôn giáo đặcbiệt là cách tư duy của người Ấn Độ cổ
Ấn Độ là một bán đảo lớn – một tiểu lục địa vừa cách biệt với bên ngoài vừachia cắt ở bên trong Bán đảo hình tam giác này mặc dù nằm ở châu Á nhưng lại bịngăn cách với châu lục này bởi dãy Hymalaya theo một vòng cung dài 2.600 km,trong đó có tới hơn bốn mươi ngọn núi cao trên 7000m so với mực nước biến,
Trang 11quanh năm tuyết phủ Sự hiểm trở của núi non ở đây đã ngăn cách môi liên hệ củađất nước Ấn Độ cổ với thế giới bên ngoài Theo tiếng Phạn chũ Hymalaya có nghĩa
là “xứ sở của tuyết” Từ xa xưa nơi đây đã từng là chốn tu hành khổ luyện củanhững đạo sĩ muốn xa lánh thế giơn, tĩnh tâm thiền tịnh tìm đạo “cứu nhân độ thế”
Giữa miền bắc Ấn và miền Nam Ấn được cách biệt nhau bởi dãy núiVindhya Nửa phía bắc, đồng bằng lưu vực sông Indus (sông Ấn) và đồng bằng lưuvực sông Ganga (sông Hằng) bị chia thành hai phần đông và tây bởi dãy núiAryavarta và vùng sa mạc Thar nóng nực như thiêu như đốt Miền Nam Ấn là caonguyên Dekkan rộng lớn có nhiều rừng núi và khoáng sản Nói một cách khái quát,
Ấn Độ là một đất nước có điều kiện địa lý và điều kiện tự nhiên hết sức phong phúnhưng cũng rất phức tạp Đó là một bán đảo mênh mông vừa có những miền núi caođầy băng giá ẩm ướt và những rừng rậm thâm u, nhưng cũng lại vừa có cả nhữngmiền đại dương chói chang ánh nắng; vừa có những vùng đồng bằng trù phú lại vừa
có những cao nguyên và sa mạc khô khan, nóng nực Chính nơi đó đã nảy sinh rabiết bao những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết thần kỳ, những tín ngưỡng tôngiáo và những tư tưởng triết lý đặc sắc với lối tư duy trìu tượng vừa thâm trầm vừacao siêu, bay bổng trí tưởng tượng thanh thoát như huyền thoại, để người Ấn Độ cốgửi gắm vào đó những ước mơ và lẽ sống của mình
Vị trí địa lý cũng tạo nên tính chất khắc nghiệt của khí hậu Ấn Độ Ở miềnNam Ấn, dãy Hymalaya quanh năm tuyết phủ, sương mù dày đặc; mùa hè, nắngnóng làm tan băng, tạo thành những cơn lũ cuồn cuộn chảy xiết, có khi cuốn trôi cảmột khu dân cư, để lại những tổn thất lớn về mặt vật chất và tinh thần Miền Bắc
Ấn, nắng chói chang với cái nắng như thiêu như đốt, làm cho đất đai khô cằn và conngười trở nên chai sạn, lam lũ Bão cát từ sa mạc Thar thổi về hun nóng và vùi lấp
cả một vùng rộng lớn
Tóm lại, thiên nhiên bao la, hùng vĩ, huyền bí và đầy uy lực của đất nước Ấn
Độ vốn là cái nôi của con người từ thuở ban sơ nhưng cũng lại thường gây ra chocuộc sống của con người biết bao những bất trắc và hiểm họa khôn lường, đã khiếnngười dân Ấn Độ cảm thấy sức lực con người nhỏ bé mong manh, cuộc đời mauchóng hợp tan như phù du ảo ảnh; họ sớm nhận ra cuộc sống là vô thường mauchóng đổi thay, không có gì là vĩnh viễn để mà bám trụ Thiên nhiên khắc nghiệt đã
Trang 12đè nặng lên cuộc sống của người Ấn Độ cổ đại, nên họ luôn khao khát được sốngcuộc sống bình đẳng để không phải nhận thêm một gắng nặng cuộc đời nào nữa.Phật giáo đã sớm nhận ra những mong muốn khắc khoải ấy của con người dân tộcmình và đã lên tiếng bảo vệ những người bình dân – vốn là những người phải gánhchịu nhiều nhất những tổn thất mà thiên nhiên mang lại Mặt khác, thiên nhiên bao
la cũng là cái nôi nuôi dưỡng, đùm bọc con người Bởi thế tư tưởng bình đẳng trongPhật giáo cũng là tư tưởng hòa đồng với thế giới tự nhiên, nuôi dưỡng mối thâmtình với muôn loài
1.2.1.2 Điều kiện kinh tế-xã hội
Tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật bắt nguồn từ đời sống củangười dân Ấn Độ, nó chính là sự phản ánh những đặc điểm của sinh hoạt xã hội vànhững mâu thuẫn, những xu thế, yêu cầu tất yếu của đời sống xã hội Ấn Độ đươngthời Bằng cách xem xét như vậy mới có thể vạch ra một cách đúng đắn căn nguyênđích thực của tư tưởng bình đẳng trong hệ thống triết lý, tư tưởng, tôn giáo của Đạo
Phật Về quan điểm này, C.Mác đã khẳng định: “Ý thức không bao giờ có thể là cái
gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người” [15, tr.37-38]
Lịch sử Ấn Độ cổ đại kéo dài gần ba thiên nhiên kỉ tuy nhiên trong phạm vinghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thời kỳ Đức Phật tại thế (thế kỉ VI đếnthế kỉ IV TCN) để thấy được những ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội đến việchình thành những quan điểm của Đức Phật về thân phận của người phụ nữ trong xãhội bấy giờ, là cơ sở hình thành tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật
Về mặt kinh tế, môi trường tự nhiên quy định nền sản xuất của Ấn Độ cổ đại
là nền sản xuất nông nghiệp Đặc trưng của nền kinh tế thời kỳ này là nền kinh tế tiểunông kết hợp với tiểu thủ công nghiệp gia đình, công cụ lao động thô sơ, năng suấtthấp, sản xuất tự cấp, tự túc là chủ yếu Đây cũng là thời đại của đồ sắt và việc ứngdụng kỹ thuật canh tác mới vào trong đời sống lao động Việc chế tạo những công cụlao động bằng sắt như cuốc, cày, rìu, liềm, búa, dao phay, mà ngành khảo cổ học đãtìm thấy được trong thời kỳ này là bằng chứng cho một cuộc cách mạng về nôngnghiệp Vào lúc con người tìm ra kim loại, chế biến thành công cụ sản xuất và vũ khí,tiến hành chiến tranh quy mô, thì rõ ràng sức mạnh và sự cung cấp sản vật khiến vai
Trang 13trò kinh tế của nam giới nổi bật đã hạ thấp địa vị người phụ nữ Chính vì vậy, gia đình
Ấn Độ thời kỳ này là gia đình gia trưởng và phụ quyền Trong kiểu gia đình này, namgiới nắm giữ kinh tế và có quyền quyết định mọi vấn đề, người phụ nữ bị phụ thuộcvào nam giới Bộ luật Manu của Ấn Độ giáo thời cổ mà nay vẫn còn ảnh hưởng mạnhđến xã hội Ấn Độ, đã xem phụ nữ là phần của cải của chồng, phải phục vụ, tuân thủ
sự sai bảo của chồng, chồng có thể đuổi đi; phụ nữ không được lui tới chỗ đôngngười, không được hành lễ, không được học kinh Veda
Về mặt xã hội, Ấn Độ thời kỳ này hai vấn đề xã hội nghiêm trọng nhất là sựphân biệt nam nữ và sự phân biệt giai cấp:
1 Bà la môn (Bràhmana): chủ trương việc nghi lễ tôn giáo
2 Sát đế lợi (Khattiya): giai cấp vua quan, nắm quyền thống trị
3 Tỳ xá (Vessa): giai cấp bình dân, nông, công, thương
4 Thủ đà la (Sudda): giai cấp tiện dân, bần cùng
Chế độ đẳng cấp này dựa trên đức tin thần linh, và ảnh hưởng rất nhiều đếnmọi lãnh vực, mọi bình diện: kinh tế, chính trị, xã hội, Trong mỗi giai cấp, lạiphân biệt người đàn ông là chúa, người đàn bà là tôi
Người phụ nữ bấy giờ, bị khinh rẻ và chỉ là những món đồ tiêu khiển của đànông thuộc giới quyền quý Sự bắt cóc, cưỡng ép, cũng như sự buôn bán phụ nữ,thiếu nữ thường xuyên xảy ra Trong đời sống thường nhật, người phụ nữ phải chịukhá nhiều thiệt thòi: họ không được ra khỏi nhà mà không che mặt, không có quyềntrong các hoạt động xã hội, không có mặt trong lãnh vực tôn giáo Những ngày vôtận của họ chỉ là để chờ đợi trong thầm lặng sự viếng thăm của người đàn ông, chođến khi người này chết thì phải chịu sự thiêu sống để đi theo người đã chết
Sự đau khổ, sự bất công đang tràn ngập khắp các nẻo đường, khắp các phốphường thành thị, ai là người dắt lối đưa đường Các nhà triết lý, lịch sử có nghi lại
có sáu mươi hai vị, lại thêm đạo Jaina nhưng chỉ bàn luận về những vấn đề siêuhình, về bản thể vũ trụ, về sự hữu biên hay vô biên của thế giới, về sự hiện hữu haykhông hiện hữu của linh hồn, về sự có tưởng hay không có tưởng sau khi chết, về sựđoạn diệt hay không đoạn diệt bản ngã, tất cả đều không đáp ứng được khát vọngcủa dân chúng
Bên cạnh đó, do Ấn giáo cổ nhấn mạnh về nghi lễ tế tự, chúng ta biết rằng
Trang 14trong các thần linh được thờ phượng có một số nữ thần; và trong số các tác giả củanhững thánh thi có một số là phụ nữ nên một mặt nào đó phụ nữ tương đối đượckính trọng và được quyền tham dự vào đời sống tâm linh.
Ngay trong hoàn cảnh này, Đức Phật Thích Ca ra đời, sáng lập nên một tôngiáo bình đẳng, vị tha Ngài phủ nhận giai cấp bất công, đem chế độ bình đẳng đểđãi ngộ mọi hạng người trong xã hội Và từ đó, Ngài đã mở ra cho nữ giới conđường giải phóng không những ra khỏi một thân phận đen tối thấp hèn, lệ thuộc vàonam giới, mà còn ra khỏi ngục tù bản ngã nhỏ hẹp để vươn lên Chân lý, Niết bàn
1.2.2 Một số giáo lý của đạo Phật đề cập tới tư tưởng bình đẳng giới
Đạo Phật có rất nhiều giáo lý khác nhau, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứucủa đề tài, chúng em chỉ tập trung vào một số tài liệu Phật giáo sau:
Thứ nhất, Kinh Tăng Chi Bộ
Kinh Tăng Chi Bộ, là bộ thứ tư trong năm bộ kinh tạng Pali: Kinh Trường
Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh Tăng Chi Bộ và Kinh Tiểu Bộ
Bộ kinh này được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ tạng Pali sang Việtngữ năm 1976-1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980-
1981 Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinhđược hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24
Kinh Tăng Chi Bộ là một bộ kinh được sắp theo pháp số, từ một pháp đếnmười một pháp, phân thành 11 chương Mỗi chương lại chia thành nhiều phẩmChương Một Pháp gồm các kinh đề cập đến một pháp Chương Hai Pháp gồm cáckinh có liên quan đến hai pháp, và tuần tự như thế đến Chương Mười Một Phápgồm các kinh có đề cập đến 11 pháp Tổng cộng số kinh được ghi nhận là 2308 bàikinh, nhưng con số này không thống nhất vì số kinh phân biệt không được rõ ràng,
và có học giả tính theo số đoạn, tổng cộng là 7557
Thứ hai, Kinh Trường Bộ
Kinh Trung Bộ gồm tất cả 152 kinh từ nguyên bản Pali đã được Hòa thượngThích Minh Châu thực hiện rất công phu Kinh Trường bộ gồm tất cả 34 kinh, mỗikinh dài hơn mỗi kinh của kinh Trung bộ Kinh Trường bộ mang tính lịch sử vềquãng thời gian hoằng hóa của Đức Phật, phản ảnh các sinh hoạt của Ấn Độ cổ; đặcbiệt kinh mang tính đối thoại với các tư tưởng thời bấy giờ của Bà-la-môn, Kỳ-na,cũng như các du sĩ
Trang 15Ba bài kinh đầu tiên, Kinh Phạm Võng, Kinh Sa Môn Quả, và Kinh A MaTrú, là những bài kinh quan trọng bậc nhất trong Trường Bộ Kinh.
Bài kinh Phạm Võng giới thiệu 62 Tà Kiến của các ngoại đạo đương thời, giántiếp đặt đạo Phật ra ngoài các tà thuyết trên, và xác minh lập trường của Đức Phật đốivới các vấn đề vũ trụ và nhân sinh Kinh này cũng đề cập đến Giới của Đức Phật, từTiểu Giới đến Đại Giới, gián tiếp so sánh đời sống xa hoa phù phiếm của các SaMôn, Bà La Môn đương thời với đời sống giản dị giải thoát của Đức Thế Tôn
Cũng chính trong bài kinh này, Đức Phật nói, chỉ có kẻ vô văn phàm phu mớitán thán giới đức, còn bậc thiện trí thì tán thán trí đức của Ngài Và chính nhờ vàotrí đức, đức Phật đã tóm thâu hết thảy mọi tà thuyết hiện hữu trong đời và truynguyên căn nhân cùng động lực của mọi tà thuyết
Bài kinh Sa Môn Quả giới thiệu thứ bậc của một vị xuất gia theo đức Phật, từkhi mới bước chân vào Thiền Môn cho đến khi thành đạt Đạo Quả Kinh này khéo
hệ thống hóa sự tu hành của một vị Sa Môn một cách rõ ràng và mạch lạc, cũng nhưtrình bày những kết quả tốt đẹp và thiết thực do hạnh Sa Môn mang đến
Bài kinh A Ma Trú bênh vực cho sự bình đẳng giai cấp và bác bỏ nền thốngtrị giai cấp của Bà La Môn Qua bài kinh này, đức Phật nhấn mạnh địa vị con người,không thể bằng cứ vào giai cấp, mà phải dựa trên nền tảng giới đức và trí đức củacon người
Với mười bài kinh tiếp theo (từ bài thứ 4 đến 13), thì bài kinh Tu Bà với đạiđức Ànanda, nói đến phương pháp tu hành của Sa Môn Gotama sau khi đức Phậtvừa mới viên tịch Niết Bàn, tương tự như nội dung của bài kinh Sa Môn Quả, vàphân loại theo ba pháp Vô Lậu Học, Giới – Định – Tuệ Chín bài kinh nối tiếp nêulên những quan điểm và thái độ của đức Phật đối với những vấn đề xã hội Ấn Độđương thời, sùng tín nhiệt thành, bất khả thuyết, khổ hạnh, linh hồn, thần thông biếnhóa, Phạm Thiên cùng con đường đưa đến Phạm Thiên, và thái độ ích kỷ khôngthuyết giáo
Mười bài kinh tiếp theo (từ bài thứ 14 đến 23) đề cập đến giáo lý thuần túy,với Liên Quan Tương Sinh trình bày về 12 lý duyên khởi Bài kinh Đại Niệm Xứ đềcập đến phương pháp tu hành và nêu lên nét đặc trưng độc nhất đưa đến giải thoát
Bài kinh Viên Tịch Niết Bàn diễn tả lại những ngày cuối cùng của đức Phật
Trang 16và cuộc hành trình tối hậu suốt ba tháng trường, từ thành Vương Xá đi qua cácthành phốlớn nhỏ, cuối cùng đến Kusinarà và viên tịch Niết Bàn, mang một tầm vóclịch sử rất có giá trị trên con đường truyền giáo của Ngài.
Tiếp theo là những bài kinh khuyến khích đời sống tu tập của các vị tỳ khiêu,hãy tự sống với chính mình, là ngọn đuốc cho chính mình, và giữ gìn oai nghi chínhhạnh Phủ nhận giá trị tối thượng của giai cấp Bà La Môn và xác nhận sự bình đẳngcủa bốn giai cấp theo hành vi Thiện Ác của mình Lấy Chính Pháp là vị tối thượng,
dù là thuộc giai cấp nào đi nữa, vì Pháp là tối thượng
Bài kinh Tự Hoan Hỷ nói lên lòng tin tưởng vô biên của đại đức Xá Lợi Phấtđốivới đức Phật bởi vì đại đức Xá Lợi Phất biết đến truyền thống Chính Pháp, tất cảbậc Chính Đẳng Giác đã diệt trừ Ngũ Triền Cái, an trú trong Tứ Niệm Xứ, tu hạnhThất Giác Chi, và chứng đắc Vô Thượng Giác
Với bài kinh Thanh Tịnh, Đức Phật khuyên tỳ khiêu nên sống hòa hợp, dunghòa, tương thân tương kính, không nên tranh chấp cãi cọ với nhau
Với bài kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt, Đức Phật giải thích ý nghĩa và giá trịtrong việc lễ bái Lục Phương, là diệt trừ bốn nghiệp phiền não, không làm điều áctheo bốn lý do, không theo sáu nguyên nhân phung phí tài sản Đức Phật giải thíchrõràng từng phương một trong Lục Phương Phương Đông chỉ cho Cha Mẹ - ConCái, phương Nam chỉ cho Thầy - Trò, phương Tây chỉ cho Vợ - Chồng, phương Bắcchỉ cho Bạn Hữu, phương Dưới chỉ cho Chủ - Tớ, và phương Trên chỉ cho Sa Môn -
Bà La Môn Chính những sự đối xử tương xứng tạo ra sự an lạc, hoan hỷ cho cảLục Phương
Với bài kinh A Sá Năng Chí, được đức Phật thuận ý, vua Tỳ Sa Môn giới thiệuhọc chú để khởi lòng tin cho hàng Dạ Xoa và cũng để che chở hộ trì Tứ Chúng
Hai bài kinh cuối cùng, Kinh Phúng Tụng và Kinh Thập Thượng, do đại đức
Xá Lợi Phất thuyết giảng với các Pháp Số từ một đến mười, tóm lược và giải thíchcác Pháp mà đức Phật đã khéo thuyết giảng, phân loại từ một chi Pháp đến mười chiPháp, với mục đích ôn lại những lời giảng dạy của đức Phật cho được tròn đủ,không thiếu sót, và tránh khỏi sự tranh luận Hai bài kinh cuối này rất quan trọng vì
mở đầu cho các học giả được thuận duyên tu học Tạng Vô Tỷ Pháp sau này
Xuyên qua 34 bài kinh thuộc Trường Bộ Kinh, học giả hội túc duyên sẽ lãnh
Trang 17hội nhiều lợi lạc trong việc tu học và trau dồi trí tuệ, ngõ hầu tiến tới Đạo Quả giảithoát Niết Bàn Kinh Trung bộ, kinh Trường bộ đã được các bậc luận gia, các nhànghiên cứu trích dẫn, giảng giải từng phần, từng kinh lẻ và từng nội dung, đề tài.
Thứ ba, Kinh Hoa Nghiêm
Kinh Hoa Nghiêm, gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, là
bộ kinh điển trọng yếu hiển bày ý nghĩa tuyệt vời về nhân hạnh quả đức của Phật-đànhư tạp hoa trang nghiêm rộng lớn viên mãn, vô tận vô ngại, qua các vị Bồ-tát lớnPhổ Hiền, Văn-thù, sau khi Phật thành đạo tại các nơi như Bồ Đề Tràng …
Bản Hán dịch kinh này có 3 :
Bản dịch của Phật-đà-bạt-đà-la, đời Đông Tấn, nhan đề “Đại phương quảng Phật Hoa thiên nghiêm”, 60 quyển, vì để phân biệt với bản dịch đời Đường nên
được gọi là Cựu dịch Hoa Nghiêm, hoặc Lục thập Hoa Nghiêm
Bản dịch của Thật-xoa-nan-đà vào đời Đường Võ Chu, nhan đề “Đại phương quảng Phật Hoa thiên nghiêm”, 80 quyển, còn gọi Tân dịch Hoa Nghiêm,
hoặc Bát thập Hoa Nghiêm
Bản dịch của Bát-nhã vào niên hiệu Trinh Quán đời Đường, cũng mang tên,
“Đại phương quảng Phật Hoa thiên nghiêm” 40 quyển, gọi đủ tên là Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Bất Tư Nghị Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền HạnhNguyện Phẩm, gọi tắt là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, hoặc Tứ thập Hoa Nghiêm
Kinh Hoa Nghiêm có ba bộ: Bộ thứ nhất gọi là Đại Hoa Nghiêm do Phápthân Tỳ Lô Giá Na chuyển Bộ thứ hai là Trung Hoa Nghiêm do Báo thân Lô Xá Nachuyển và bộ thứ ba do người thân Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết
Hiểu kinh Hoa Nghiêm là từ văn tự đi vào tư duy, vào thiền định, phát sinhđược trí tuệ và dùng trí tuệ quán sát mọi sự, mọi vật Nói cách khác, kinh HoaNghiêm dẫn chúng ta vào pháp giới hay nhìn thế giới chân thật Và biết được việc ởdạng chân thật, thì ta không còn lỗi lầm trên sinh hoạt hiện tượng của cuộc đời.Kinh Hoa Nghiêm muốn dạy ta cốt lõi ấy
Thứ tư, Kinh A Hàm
Kinh Tăng Nhất A Hàm
Kinh Tăng Nhất A-hàm gồm 51 quyển, do ngài Cù-đàm-tăng-già Đề-bà dịchvào đời Đông Tấn (317-419), Trung Quốc, được xếp vào Đại Chánh Tân Tu ĐạiTạng Kinh tập 2
Trang 18Nội dung kinh này ban đầu nói phẩm Tựa, thuật lại chuyện ngài A-nantruyền tụng kinh điển, sự kết tập của kinh này, nhân duyên Ưu-đa-la thọ pháp v.v Sau đó nương theo thứ tự tăng dần của các pháp số mà phân loại và gom tập Đặcbiệt trong bộ kinh này, sau các phẩm hoặc các kinh phần nhiều có phần tổng tụng,tức phần đại yếu của mỗi phẩm hoặc mỗi kinh.
Về số phẩm và số quyển của Kinh Tăng Nhất A-hàm, 3 bản đời Tống; đờiNguyên và đời Minh có 52 phẩm, 50 quyển; trong Cao Ly tàng bản thì có 50 phẩm, 51quyển Về pháp số được trình bày theo thứ tự tăng dần trong kinh này có hai thuyết :
Theo Luật Ma-ha Tăng-kỳ 32, Luận A-tỳ-đàm bà-sa 10 và Hữu Bộ nại-da Tạp Sự 39, Kinh Tăng Nhất A-hàm vốn trình bày thứ tự tăng dần từ 1 phápđến 100 pháp, nhưng về sau bị mất mát hết nên chỉ còn 10 pháp
Tỳ-Theo Luật Ngũ Phần 30, Luật Tứ Phần 54 và Luận Phân Biệt Công Đức 2,Kinh này trình bày thứ tự tăng dần từ 1 pháp đến 11 pháp Thuyết này phù hợp vớinội dung của Kinh Tăng Nhất A-hàm hiện còn
Kinh này tương đương với Tăng Chi Bộ trong 5 bộ kinh hệ Nam truyền
Tăng Chi Bộ gồm 11 tụ, 171 phẩm, 2203 kinh Theo tác phẩm “The four Buddhist Àgamas in Chinese” của học giả người Nhật, trong 472 kinh của Tăng Nhất A-hàm
(Bản Hán dịch chỉ có 136 kinh là tương đương hoặc có thể đối chiếu so sánh vớiTăng Chi Bộ Kinh), Tăng Chi Bộ Kinh không có bao hàm tư tưởng Đại thừa nhưtrong bản Hán dịch, lại ít có dấu hiệu của sự thêm thắt sửa đổi; cho nên có thể niênđại hoàn thành bộ này trước bản Hán dịch, tức khoảng thế kỷ thứ I Tây lịch Ngoài
ra, theo phần đề giải Kinh Tăng Nhất A-hàm trong Phật Quang Đại Tạng Kinh,Tăng Nhất A-hàm có 153 kinh tương đương hoặc gần giống Tăng Chi Bộ Kinh
Trang 19này cũng được thành lập sớm nhất trong 4 bộ A-hàm Nếu phân loại theo tính chấtcủa từng phẩm thì toàn kinh có thể chia ra 3 bộ phận lớn :
Tu-đa-la : Gồm các phẩm nói về Uẩn, Xứ, Duyên khởi, Thực, Đế, Giới,Niệm, Trụ v.v
Kỳ-dạ : Gồm những lời vấn đáp được trình bày theo lối kệ tụng
Ký thuyết : Những lời của Phật và các đệ tử của Ngài tuyên thuyết
Kinh Tạp A-hàm là bộ kinh còn bảo tồn được phong cách của Phật giáoNguyên Thủy Trong đó, tuy có những phần do đời sau biên soạn, nhưng hầu hết làđược thành lập vào thời kỳ sớm nhất Những câu pháp trong kinh này phần nhiềuđơn giản Đối với pháp môn tu hành thực tiễn thì có các phẩm nói về Niệm, Trụ,Uẩn, Giới, do Đức Phật và các đệ tử trực tiếp đối thoại với nhau mà có sự khác nhau
về Tứ song, Bát bội, nương theo 8 chúng mà giảng nói "Chúng tương ưng", khiếncho các hàng tại gia, xuất gia, nam nữ lão ấu cho đến các đại đệ tử đều lãnh thọđược giáo pháp
Trang 20Kết luận chương 1
Bình đẳng giới là một khái niệm hàm chứa ý nghĩa xã hội to lớn Sự ra đờicủa khái niệm bình đẳng giới là kết quả của phong trào phụ nữ và chủ nghĩa nữquyền Lịch sử nhân loại ở các nền văn hóa khác nhau, trải qua nhiều hình thái kinh
tế xã hội và nhiều thời đại, đã cung cấp nhiều bằng chứng về sự bất bình đẳng đốivới phụ nữ, về thân phận khốn cùng của người phụ nữ Theo luật Bình đẳng giới
2007: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.Nhưng đó không
phải là sự cào bằng, phân chia máy móc, mà là sự thấu hiểu, đồng cảm, trân trọngcủa xã hội dành cho phụ nữ
Tư tưởng bình đẳng giới không phải chỉ mới xuất hiện trong xã hội hiện đại
mà từ hàng nghìn năm trước, nó đã được Đức Phật đề cập đến trong những giáo lýcủa mình Đạo Phật với bề dày lịch sử, ra đời trong một xã hội Ấn Độ đầy rẫynhững bất công, thiệt thòi, những luật lệ, hủ tục hà khắc đè nặng lên vai người phụ
nữ, nên giáo lí của nó thầm nhuần tư tưởng bình đẳng nói chung và tư tưởng bìnhđẳng giới nói riêng Đạo Phật gồm một số giáo lí cơ bản thể hiện qua Kinh TăngChi Bộ, Kinh Trường Bộ, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh A Hàm,… Trong những giáo lí
đó, mặc dù nội dung chính khác nhau, song dù trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều,đều mang những tư tưởng bình đẳng giữa con người với con người, giữa nam và nữ.Đây là những tư tưởng tiến bộ, mới mẻ và nhân văn giữa một xã hội đầy đau khổ,bất công thời bấy giờ
Trang 21CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT
2.1 Một số tư tưởng bình đẳng giới trong giáo lý đạo Phật
Thời Đức Phật còn tại thế, người phụ nữ trong xã hội chỉ được coi như lànhững món đồ tiêu khiển của đàn ông thuộc giới quyền quý Tình trạng bắt cóc,cưỡng ép, cũng như sự buôn bán phụ nữ thường xuyên xảy ra Trong đời sốngthường nhật, người phụ nữ phải chịu khá nhiều thiệt thòi: họ không được ra khỏinhà nếu không che mặt, họ không có quyền trong các sinh hoạt xã hội,không có mặttrong các lĩnh vực tôn giáo…Những ngày vô tận của họ chỉ là sự đợi chờ trongthầm lặng cuộc viếng thăm của người đàn ông Thậm chí theo tục lệ Sati, người phụ
nữ phải chịu sự thiêu sống nếu như người đàn ông của họ không may chếtsớm.Trong bối cảnh này, Thích Ca đã sáng lập nên một tôn giáo bình đẳng Ngàiphủ nhận giai cấp bất công, đem chế độ bình đẳng để đãi ngộ với mọihạng ngườitrong xã hội Ngài đã mở ra cho nữ giới con đường giải phóngkhông những ra khỏithân phận đen tối thấp hèn, lệ thuộc vào nam giới, màcòn ra khỏi ngục tù bản ngãnhỏ hẹp để vươn lên Giải thoát, Niết bàn Địa vịngười phụ nữ được Phật giáo khẳngđịnh ở một số tư tưởng sau:
2.1.1 Phẩm hạnh của người phụ nữ được đề cao
Đề cao phẩm hạnh của người phụ nữ trong xã hội ngày nay là chuyện khábình thường, nhưng nếu đem sự việc đó trở lui về quá khứ đến xã hội Ấn Độ cáchđây trên hai ngàn năm trăm năm quả là điều nan thuyết Thế mà đức Phật đã làmđiều khó làm; đã nói điều khó nói này trong thời điểm ấy Ngài đã giải phóng ngườiphụ nữ khỏi những tư tưởng áp bức cố hữu, đã nâng cao quy chế cho hàng phụ nữ
và dắt dẫn nữ giới thực hiện địa vị quan trọng của mình trong xã hội
Như chúng ta đã biết, nữ giới trong xã hội Ấn Độ bấy giờ được xem là khôngxứng đáng để hưởng bất luận điều gì cao hơn hàng tôi tớ của chồng, của cha, haycủa anh Họ không bao giờ được sắp ngang hàng với nam giới trong xã hội Điềunày dẫn đến một tư tưởng thật cổ hủ: “Sinh con gái là một điều bất hạnh - còn hơnvậy nữa - là một đại họa” Quan kiến hẹp hòi này không phải chỉ có ở người dânthường mà nó còn tồn tại trong cả hàng vua chúa
Trang 22Trái hẳn với trào lưu tư tưởng đó, Phật cho rằng nơi người nữ vốn tiềm ẩnnhiều đức tính tốt như thông minh, nhẫn nhục, ôn hòa, bao dung, độ lượng, Nênkhi thấy vua Pasenadi nước Kosala muộn phiền vì nghe tin báo hoàng hậu Mallikavừa hạ sinh công chúa, Phật liền khuyên:
“Này Nhân chủ, ở đời,
Người con trai như vậy,
Của người vợ hiền đức,
Thật xứng đáng là Đạo sư,
Giáo giới cho toàn quốc” [22, tr.6]
Đức Phật đã chỉ cho quần chúng thấy rằng: người phụ nữ là mẹ của đàn ông.Không ai xứng đáng cho ta kỉnh mộ tôn sùng bằng mẹ của mình Vì:
“Mẹ hiền còn sống gọi là mặt trời giữa trưa chói sáng
Mẹ hiền khuất bóng gọi là mặt trời đã lặn
Mẹ hiền còn sống gọi là mặt trăng sáng tỏ
Mẹ hiền khuất rồi gọi là đêm tối u ám” [11, tr.93]
Mẹ là mặt trời chói sáng, là mặt trăng dịu hiền.Với biện pháp so sánh độcđáo giữa người mẹ với hai hình ảnh độc nhất vô nhị phải chăng là cách tuyên dươngđức hạnh cao quý của người phụ nữ?
Như chúng ta biết, trong những lãnh vực hoạt động khác nhau thì con người
sẽ có những địa vị khác nhau Như thế trong xã hội, người đàn ông nắm giữ nhữngđịa vị then chốt thì trong gia đình, giềng mối lại do người phụ nữ nắm giữ
Bởi thế đức Phật thường dùng danh từ màtugàma có nghĩa là “hạnh làm mẹ”,hay “xã hội những bà mẹ” để tỏ ý kính trọng khi nói về những phụ nữ lớn tuổi vàdanh từ Pàramàsakhà để chỉ những phụ nữ đã kết hôn Và chúng ta sẽ bắt gặp rất