LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay thị trường thế giới đang mở ra những triển vọng lớn, cùng với chính sách mở cửa của Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng nông sản xuất khẩu phát triển.. Kinh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay thị trường thế giới đang mở ra những triển vọng lớn, cùng với chính
sách mở cửa của Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng nông sản xuất khẩu
phát triển Kinh nghiệm của các nước đi trước cộng với lợi thế của mình, Việt Nam
chọn xuất khẩu nông sản là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội Trong đó cao su được coi là một trong 23
nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Hiện nay trên thị trường thế giới cao su Việt Nam có vị trí rất quan trọng,
chiếm thị phần lớn cao su thế giới VIệt Nam sản xuất cao su tự nhiên thứ 3trên TG và đứng thứ 2 về năng suất.( Theo ANRPC, năm 2013, sản lượng cao su của Việt Nam ước đạt 1,043 triệu tấn, tăng 20,8%
so với năm trước đó Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, sản lượng cao su tự nhiên của Việt Nam vượt qua mốc 1 triệu tấn Nhờ vậy, Việt Nam đã leo từ vị trí thứ 5 lên vị trí thứ 3 trong danh sách các nước sản xuất cao su tự nhiên hàng đầu thế giới.) Điều này tạo rất nhiều thuận lợi cho việc đẩy mạnh xuất khẩu cao su của Việt Nam, tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần tăng ngân sách Nhà nước
Mục đích của việc nghiên cứu: hệ thống hoá các vấn đề chung về xuất khẩu
cao su của Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO Trình bày thực trạng và
đề suất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu cao su ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam trong những năm gần đây
Nội dung Thiết kế môn học Kinh tế ngoại thương được chia làm 3 phần
Phần I: Tổng quan về ngành cao su
1.1 Tổng quan ngành cao su thế giới
1.2 Vai trò của xuất khẩu cao su trong nền kinh tế quốc dân
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngoại thương của ngành
cao su
Phần II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu cao su ở nước ta
2.1 Tác động của việc gia nhập WTO
2.2 Thị trường
2.3 Kim ngạch xuất khẩu
2.4 Hiệu quả
2.5 Đánh giá ưu điểm, hạn chế, nêu nguyên nhân
Phần III: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và
hiệu quả xuất khẩu cao su Việt Nam trong thời gian tới
3.1 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu cũng như
chất lượng cao su
Trang 2CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CAO SU
1.1 Tổng quan về ngành cao su thế giới
1.1.1 Phân bố địa lý
Cây cao su ban đầu chỉ mọc tại khu vực rừng mưa Amazon Cây cao su ở Việt Nam:
Cây cao su được người Pháp đưa vào trồng ở Việt Nam cách đây hơn 100 năm để phục vụ cho nhu cầu chiến tranh và khai thác tài nguyên ở địa phương Suốt chặng đường dài song hành cùng lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, ngành cao su đã có những đóng góp to lớn trong những thắng lợi của dân tộc
Trong đó, ba nước sản xuất cao su thiên nhiên hàng đầu là Thái Lan, Indonesia và Malaysia chiếm 85,9% tổng lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu của các nước thành viên ANRPC
Nhóm các nước sản xuất cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới là Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
Việt Nam (chiếm 82% trong tổng sản lượng sản xuất của thế giới), nhóm các nước tiêu thụ cao
su thiên nhiên lớn nhất thế giới là Trung Quốc (33,5%), Mỹ (9,5%), Ấn Độ (8,7%), Nhật Bản
(6,6%) Riêng Trung Quốc bình quân 5 năm qua chiếm 32% tổng sản lượng tiêu thụ cao su
thiên nhiên và chiếm đến 25% tổng kim ngạch nhập khẩu cao su thiên nhiên toàn cầu Bốn
quốc gia xuất khẩu cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới hiện nay là Thái Lan (2,8 triệu tấn),
Indonesia (2,45 triệu tấn), Malaysia (1,31 triệu tấn) và Việt Nam (1,02 triệu tấn), chiếm khoảng
87% tổng sản lượng xuất khẩu cao su thiên nhiên toàn cầu
1.1.2 Cung- cầu
Cung cao su thế giới tiếp tục vượt cầu do cầu yếu Theo dự báo của Tổ chức nghiên cứu cao su Quốc tế
(IRSG), dự kiến sản lượng cao su toàn cầu năm 2013 đạt 11,77 triệu tấn và cầu đạt 11,59 triệu tấn Như vậy cung vượt cầu 179 nghìn tấn
Thái Lan, Indonesia và Malaysia, ba nước chiếm 70% nguồn cung cao su tự nhiên toàn cầu
1.1.3 Mua bán cao su
Trong chuỗi giá trị cao su gồm có nhiều nhân tố tham gia bao gồm nhà sản xuất
và kinh doanh cao su thô, nhà chế biến cao su , nhà trung gian bán điều và nhà
bán lẻ hoặc người tiêu dùng
1.1.4 Về xuất khẩu
Thái Lan đang là nước xuất khẩu cao su lớn nhất thế giới (năm 2013 đạt 3,74 triệu tấn) , tiếp theo là Indonexia ( năm 2013 đạt3,16 triệu tấn) và Việt Nam hiện tại đang giữ vị trí thứ 3
Trang 31.1.5 Về nhập khẩu
Những nước nhập khẩu cao su lớn trên thế giới chủ yếu là những nước có nền công nghiệp phát triển và
có mức xuất khẩu cao điển hình như TRung Quôc, Mỹ, Nhật…
Hiện nay , Trung Quốc là nước nhập khẩu cao su số 1 cho Việt Nam
1.1.6 Mùa vụ cao su
Cao su là cây công nghiệp dài ngày, thời gian chăm sóc cao su từ lúc bắt đầu trồng đến lúc bắt đầu thu hoạch mủ kéo dài từ 5 – 7 năm và thu hoạch liên tục trong nhiều năm Việc thu hoạch mủ cao su thường kéo dài liên tục 8 – 10 tháng trong năm chứ không theo mùa vụ như các loại cây trồng khác
1.2 Vai trò của xuất khẩu cao su trong nền kinh tế quốc dân
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống của nhân dân
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại ở nước ta
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giúp cân bằng môi trường sinh thái
- Thúc đẩy quá trình công nghiêp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tang thu nhập
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngoại thương của ngành cao su
1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội
a Điều kiện tự nhiên
Đất thích hợp để trồng cao su phải nằm trong vùng khí hậu phù hợp đối với cây cao su và đảm bảo các tiêu chí dưới đây:
- Nhiệt độ trung bình năm từ 25-30oC; không có sương muối về mùa đông; lượng mưa trung bình hàng năm trên 1.500 milimet (sau đây viết tắt là mm); ít có bão mạnh trên cấp 8;
- Độ cao dưới 700 mét (riêng miền núi phía bắc dưới 600 mét) so với mực nước biển
- Độ dốc dưới 30 độ;
- Tầng đất dày tối thiểu 0,7 mét
- Độ sâu mực nước ngầm lớn hơn 1,2 mét và không bị ngập úng khi có mưa;
- Thành phần cơ giới đất từ thịt nhẹ đến thịt nặng, thoát nước tốt;
- Mức độ kết von, đá lẫn trong tầng đất canh tác < 50% ;
- Hoá tính đất: hàm lượng mùn tầng đất mặt > 1,0 %, pHkcl: 4 - 6;
Trang 4- Vùng đất trồng cao su phải được thiết kế theo đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo điều kiện để thâm canh và chống xói mòn
b Kinh tế- xã hội
Nhìn chung thu nhập từ việc trồng , xuất khẩu cao su tương đối cao, có thể phát triển và mở rộng mô hình để làm giàu cho từng hộ gia đình nói riêng và cho quốc gia nói chung
Lấy ví dụ như những nơi trồng nhiều cao su của nước ta là : Bình Dương , Bình Phước, Gia Lai, Tây Nguyên, Tây Ninh… thì việc trồng và thu hoạch cao su rất cao Điển hình như ở Gia Lai nếu như trồng 51.000 héc-ta cao su cho mủ, mỗi năm HAGL có thể thu hoạch 127.500 tấn mủ khô xuất khẩu mang lại doanh số khoảng 382,5 triệu USD
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng cao su
Việt Nam đang chiếm thị phần lớn trên thị trường cao su trên thế
giới Mặc dù nước ta có điều kiện thời tiết thích hợp để cho cây cao su tồn trại và sinh trưởng tốt là 24,9- 27,4 độ C Nhưng tinhg hình trong nước lại gặp 1 số khó khan như bị thu hẹp lại diện tích, năng suất k ổn định, chưa áp dụng đc nhiều khoa học công nghệ vào việc trồng và thu hoạch cao su, nguồn nhân lực bị lung lay, k tập trug, hay đơn gian hơn là k biết cách thu hoạch hoặc thu hoạch sai quy tắc cũng dẫn đến làm giảm năng suất, chất lượng cuả cây Cũng giống như các loại cây trồng và mặt hàng khác, sản lương- chất lượng của cao su phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết, mặc dù cây cao su có thể chịu dc thời tiết khắc nghiệt hơn những cây khác nhưng dù có chăm sóc cẩn thận nhưng thời tiết k ủng
hộ hoặc hặp thiên tai lũ lụt , hạn hán… sẽ ảnh hưởng đến quá trình thu hoạch mủ cao su của cây cao su 1.4.3 Các biện pháp kĩ thuật
Ở nước ta quy mô sản xuất còn chưa lớn,trình độ kĩ thuật chưa cao, chưa ứng dụng được nhiều khoa học công nghệ tiến tiến Điều đó ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu cao su ở nước ta Cần tăng hiệu quả quy mô, tăng năng suất chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
1.4.4 Ảnh hưởng của thuế quan
Giả sử Chính phủ đánh thuế cao vào hàng nhập khẩu cao su thì các doanh
nghiệp sẽ hạn chế nhập khẩu cao su Khi đó các thương lái hoặc nước ngoài sẽ lùng sục và thu
mua toàn bộ cao su còn tồn đọng trong dân chúng Giúp bảo vệ nền sản xuất
trong nước
Nhưng trong nhiều trường hợp sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong
nước, sẽ không đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu, như vậy hiệu quả hoạt động
ngoại thương sẽ giảm sút Ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín cũng như khả năng
cạnh tranh với nước ngoài
Vì vậy, cần phải có những biện pháp cụ thể, xử lý một cách linh hoạt đáp ứng
nhu cầu về nguyên liệu đảm bảo hoạt động sản xuất và xuất khẩu ra nước ngoài
Tăng hay giảm thuế quan còn tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể
Trang 51.4.5 Các rào cản
(chưa làm )
Nhưng sau 2 năm gia nhập WTO, hoạt động ngoại thương nói chung, đặc biệt
hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam nói riêng có nhiều thuận lợi để
phát triển Các nhà xuất khẩu Việt Nam có điều kiện tiếp cận thị trường thế giới dễ
dàng hơn, những hạn chế và rào cản thuế đối với hàng hoá Việt Nam được cắt
giảm Chúng ta có thị trường xuất khẩu rộng lớn đã và sẽ được cắt giảm cùng các
biện pháp phi quan thuế cũng sẽ được loại bỏ theo Nghị định thư gia nhập của các
thành viên này mà không bị phân biệt đối xử; tăng cơ hội thâm nhập thị trường
nước ngoài cho các sản phẩm của nước ta Điều đó đã tạo nhiều cơ hội thuận lợi
cho hoạt động xuất khẩu điều ở nước ta mau chóng khẳng định thương hiệu trên thị
trường thế giới
PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU ĐIỀU Ở NƯỚC TA
2.1 Tác động của việc gia nhập WTO
2.1.1 Tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam trước khi gia nhập WTO
Trong những năm gần đây, cây cao su đang trở thành một cây trồng thế mạnh và thu hút được nhiều
người trồng bởi giá trị kinh tế to lớn Nông dân ở các tỉnh trồng nhiều cao su như Bình Phước, Bình
Dương, Tây Ninh, Quảng Trị, Đăk Lăk,… cũng giàu lên nhờ cây cao su Sản lượng cao su thiên nhiên của
Việt Nam trong mấy năm qua tăng khá mạnh, từ chỉ có 220 ngàn tấn năm 1996 lên 550 ngàn tấn năm
2007 Vị thế của ngành cao su Việt Nam trên thế giới ngày càng được khẳng định Chúng ta đang đứng ở
vị trí thứ ba trên thế giới về xuất khẩu mặt hàng này
(Bảng 1) Các vùng trồng cao su chủ yếu là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và miền
Bắc Các vùng này chiếm tỷ lệ lần lượt là 65,2%, 23%, 8% và 3,8% trong tổng diện tích cao su của cả
nước
Bảng 1 Diện tích và sản
lượng cao su Việt nam
qua 3 năm Diễn giải
0 6 / 0 5
0 7 / 0 6
BQ
Trang 6- Phía Bắc ha 18.240 19.650 20.880 107,73 106,26 106,99
Nguồn:T ổng cục Thống kê, 2007
Sản lượng cao su tự nhiên của Việt Nam cũng tăng tương ứng từ 468.600 tấn năm 2005 lên 548.500 tấn
năm 2006, bình quân tăng 13,3%/năm Những năm gần đây, nhu cầu cao su thiên nhiên trên thế giới
ngày càng tăng, đã thúc đẩy giá mủ cao su lên cao Trong khi các đơn vị cao su quốc doanh hầu như
không còn đất để mở rộng diện tích trồng mới thì người dân ở nhiều địa phương trong nước đã đổ xô
trồng cao su với mức tăng bình quân 3%/năm và được dự báo sẽ tăng cao hơn trong những năm tới
Riêng tại khu vực Đông Nam bộ bình quân mỗi năm diện tích cao su tiểu điền tăng từ 13.000 đến
20.000ha
(Báo cao su Việt Nam, 2008)
b) Xuất khẩu cao su
Xuất khẩu cao su Việt Nam hiện đang đứng thứ 3 thế giới, sau Thái Lan, Indonesia Kim ngạch xuất khẩu
cao su của Việt Nam trong giai đoạn 2003- 2007 tăng trưởng rất cao, bình quân gần 50%/năm Nguyên
nhân tăng trưởng mạnh chủ yếu do giá cao su tăng nhanh và giữ ở mức cao trong mấy năm gần đây
Lượng xuất khẩu tăng không nhiều, bình quân khoảng 10%/năm Trung Quốc là bạn hàng lớn nhất của
Việt Nam đối với sản phẩm cao su Cao su xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm tới trên 60% tổng kim ngạch
xuất khẩu
Chủng loại cao su xuất khẩu nhiều nhất trong năm (2005- 2006) là cao su khối SVR3L1
( Nguồn: Trung tâm Thông tin thương mại, Bộ Thương mại số liệu từ Bộ Thương mại)
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động xuất khẩu cao su sau
khi gia nhập WTO
THUẬN LỢI
Ngày 11/01/2007 Việt Nam là thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế
giới
Gia nhập WTO là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
và có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam Đây là thời cơ lớn
cho nước ta trong hoạt động ngoại thương, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hoá đã có bước phát triển mạnh mẽ Bởi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là
trọng điểm của hoạt động ngoại thương ở các nước nói chung và Việt Nam nói
riêng Sự phát triển của ngoại thương đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội
nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới; góp phần tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế
nhờ sử dụng hiệu quả lợi thế so sánh trong trao đổi quốc tế; là động lực thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế; nâng cao trình độ công nghệ và chuyển dịch cơ cấu ngành
nghề trong nước; tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao
Trang 7động Thực trạng hoạt động xuất khẩu điều ở Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO để
thấy được những cơ hội và thách thức đối với ngành cao su Việt Nam nói chung và
xuất khẩu hàng hoá nói riêng
Ngành cao su sau 2 năm gia nhập WTO
(ĐCSVN)- Cao su Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 45 thị trường, có mặt tại Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, và mở rộng sang Đông Âu, Trung Đông, Nam Mỹ và châu Phi Sau khi gia nhập WTO, đầu tư nước ngoài vào ngành cao su ngày càng tăng, thành công nhiều hay ít phụ thuộc phần lớn vào việc triển khai linh hoạt các cam kết
Diện tích cao su ở Việt Nam ngày càng tang Thay đổi phần sau đến năm 2007 tăng lên 549.600 ha Sản lượng cao su tự nhiên của Việt Nam cũng tang 601.700 tấn năm 2007 Tuy nhiên, cao su tiểu điền đều là mới trồng năng suất thấp (1,4 tấn/ha (Hưng Nguyên, 2008)), tuy diện tích cao su tiểu điền chiếm cao nhưng sản lượng không nhiều (chỉ khoảng gần 20% sản lượng cao su cả nước) Do đó trong tương lai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần chú ý đến nhóm hộ này (Báo cao su Việt Nam, 2008)
Do giá cao su tăng, nhiều địa phương đã chuyển mục đích sang trồng cây cao su Ví dụ: Tháng 8/2008, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cùng với UBND tỉnh Sơn La đã tổ chức lễ ra mắt Công ty cổ phần Cao su Sơn La và triển khai trồng cây cao su trên địa bàn tỉnh Sơn La Đây là lần đầu tiên Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam đưa giống cây cao su lên trồng tại các tỉnh khu vực Tây Bắc nhằm khai thác tiềm năng lợi thế của các tỉnh miền núi, góp phần bố trí lại dân cư, cơ cấu sản xuất phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp của các tỉnh này Dự kiến từ nay đến năm 2020, Sơn La sẽ triển khai trồng tập trung từ 10.000 đến 30.000 ha cây cao su trên địa bàn (Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, 2008)
Cũng trong kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất cao su, Công ty Cổ phần phát triển cao su Tân Biên-Kampong Thom đã ký hợp đồng thuê 8.100 ha đất với Chính phủ Campuchia trong thời hạn 70 năm để trồng cây cao su và xây dựng một nhà máy chế biến mủ tại địa bàn tỉnh Kampong Thom Hoạt động trên nằm trong chương trình hợp tác phát triển vườn cây cao su theo chủ trương của Chính phủ Việt Nam và Campuchia đến năm 2010 Theo kế hoạch, đến năm 2010, Công ty sẽ trồng mới xong 7.900ha cao su, đến năm 2023 qua 3 giai đoạn xây dựng sẽ hoàn thành một nhà máy chế biến có công suất 26.000 tấn
mủ thành phẩm/năm (Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, 2008)
Tính đến năm 2013 Xuất khẩu cao su Việt Nam hiện đang đứng thứ 3 thế giới, sau Thái Lan, và
Malaysia.Năm 2007 (năm đầu tiên ra nhập WTO ) là năm thứ 2 liên tục ngành cao su đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 1 tỷ đôla, được xếp thứ chín trong mười mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam và là nông sản xuất khẩu lớn thứ ba sau cà phê và gạo, chiếm khoảng 3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2007, Việt Nam đã xuất hơn 700 ngàn tấn cao su các loại, với giá trị kim nghạch xuất khẩu khoảng 1,4 tỷ đôla, cao hơn so với năm 2006 là 1,6% về lượng và 8,8% về giá trị
(số liệu lấy từ bộ thương mại )
Trang 8Sau hai năm gia nhập WTO, hội thảo đánh giá ngành cao su đã có bước chuyển mạnh về nhiều mặt từ sản xuất đến xuất khẩu, từ giải quyết việc làm đến vấn đề bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên, ngành cũng gặp phải những tồn tại phát sinh, cần điều chỉnh phát triển trong bối cảnh kinh tế thế giới đang suy thoái, ẩn chứa nhiều rủi ro
Tại hội thảo, Tiến sĩ Trần Thị Thúy Hoa - Tổng thư ký Hiệp hội cao su Việt Nam cho biết, khoảng 85% sản lượng cao su Việt Nam hiện dành cho xuất khẩu Sau hai năm gia nhập WTO, các doanh nghiệp xuất khẩu cao su nguyên liệu được lợi hơn khi thuế nhập khẩu vào các nước giảm Họ được bình đẳng với các nhà xuất khẩu khác trên cùng thị trường, nhưng yêu cầu về chất lượng tỏ ra nghiêm ngặt hơn và phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế
Theo GS.TS Nguyễn Việt Bắc- Viện Hoá học Vật liệu, trong những năm qua, việc canh tác cao su tự nhiên (NR) Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc Tuy vậy, tỷ lệ gia công, chế biến trong nước còn ít ỏi
và có cơ cấu sản phẩm chưa tối ưu Lượng cao xu thô xuất khẩu qúa lớn đã hạn chế đáng kể hiệu quả kinh tế của vật liệu chiến lược này
Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2008, VN đã xuất khẩu được 510.000 tấn NR, đạt giá trị 1,4 tỷ USD, dự tính
cả năm sẽ đạt 1,65 tỷ USD Hiện nay VN là quốc gia đứng thứ 4 trên thế giới sau Thái Lan, Indonesia và Malaysia Công nghiệp chế biến cao su của VN hiện nay mới tập trung chủ yếu vào gia công cao su khô nên cơ cấu mặt hàng và khối lượng sản phẩm của ta ít ỏi hơn nhiều so với Thái Lan và Malaysia
Đánh giá khá về những tác động của việc gia nhập WTO đối với ngành cao su, ông Trịnh Minh Anh, các doanh nghiệp cao su Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế và phí tại các thị trường WTO, trong đó có Trung Quốc và Đài Loan là những thị trường chính, nên sản phẩm của ta tránh được việc ép giá Việc hội nhập với khu vực cũng giúp ngành cao su Việt Nam nâng cao chất lượng nhân lực, nghiên cứu khoa học
và giống Việc tăng cường hợp tác với ba nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới là Thái-lan, Indonesia và Malaysia cho phép Việt Nam chủ động được về giá và thị trường xuất khẩu
Trong báo cáo đưa ra tại hội thảo, PGS.TS Vũ Năng Dũng - Viện trưởng Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp cũng chỉ ra những tồn tại cần khắc phục đối với ngành cao su Việt Nam Đó là kỹ thuật khai thác còn thấp hơn so với quốc doanh Thiết bị và công nghệ sơ chế mủ cao su cần tiếp tục hiện đại hóa, cơ cấu sản phẩm cần được điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu thị trường thế giới và trong nước, chú trọng vấn đề xử lý môi trường trong chế biến mủ
KHÓ KHĂN
Bên cạnh những tác động thuận lợi khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng gặp
phải những thách thức như: Gia nhập WTO đòi hỏi tự do hoá thương mại và áp
dụng các nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia, điều này tất yếu dẫn đến tình
trạng cạnh tranh ngày càng quyết liệt ngay trên thị trường nội địa Đặc biệt các
doanh nghiệp Việt Nam vốn đã quen với việc sản xuất những hàng hoá và dịch vụ
phục vụ thị trường nội địa trong điều kiện có bảo hộ bằng thuế quan hoặc các hàng
rào phi thuế quan thì nay phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, đây là
một thách thức vô cùng lớn, nếu không có lợi thế tất yếu sẽ bị loại bỏ, trước hết là
các doanh nghiệp thương mại Như vậy sẽ gia tăng sức ép cạnh tranh quốc tế khắc
Trang 9nghiệt ngay trong thị trường nội địa Các cơ sở xuất khẩu của Việt Nam chưa có
biện pháp ứng phó hiệu quả với các rào cản thương mại và những biến động khó
lường của thị trường thế giới, bởi các rào cản thương mại quốc tế được các nước
nhập khẩu dựng lên ngày càng tinh vi, phức tạp và tỷ giá hối đoái biến động trên
thị trường thế giới theo hướng bất lợi cho hoạt động xuất khẩu Mức thuế quan của
Việt Nam còn tương đối cao so với các nước trong khu vực cũng như thế giới
Theo nguyên tắc của WTO là chỉ sử dụng thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước,
do vậy Việt Nam phải xây dựng lộ trình cắt giảm các hàng rào phi thuế quan một
cách hợp lý, đây cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
2.2 Thị trường
2.2.1 Thị trường trong nước- cơ chế quản lý và chính sách ngoại thương
đối với ngành cao su
a/ Thị trường
Thị trường cao su trong nước hiện tại vẫn khá ổn định, nhưng đang có tình trạng “ dư cung” hay cung lớn hơn cầu Tuy nhiên, tỷ lệ này sẽ được cải thiện kể từ năm 2013 trở đi một khi CTCP Cao su Đà Nẵng
và CTCP Công nghiệp Cao su Miền Nam đưa vào khai thác 2 nhà máy lốp radian toàn thép
Một số yếu tố thuận lợi cho xuất khẩu cao su Việt Nam năm 2013 là Trung Quốc sẽ giảm thuế nhập khẩu cao su năm nay và đồng rupee Ấn Độ tiếp tục giảm mạnh Tuy nhiên, xu hướng giá vẫn giảm trong dài hạn và tăng trưởng ngành trong thời gian tới chỉ chủ yếu phụ thuộc vào tăng trưởng sản lượng
a.1 Giá cao su xuất khẩu qua các năm gần đây:
NĂM 2007
năm 2007, đạt khoảng 720 ngàn tấn với trị giá 1,4 tỉ USD, tăng 1,7% về lượng và tăng 8,9% về trị giá so với năm 2006 So với kế hoạch năm, xuất khẩu cao su chỉ đạt khoảng 85% về lượng và 95% về kim ngạch NĂM 2008
Trong 8 tháng đầu năm 2008, cao su xuất khẩu của Việt Nam được lợi về giá, tăng liên tục và đạt mức kỷ lục hơn 3.000 USD/tấn vào tháng 8/08 Tuy nhiên, bắt đầu từ quý III/08 do ảnh hưởng của suy thoái kinh
tế toàn cầu nên giá cao su thiên nhiên trong xu hướng giảm mạnh khiến cho nhu cầu sử dụng cao su thiên nhiên giảm dẫn đến giá cao su giảm mạnh
Giá cao su thiên nhiên tăng cao trong 8 tháng đầu năm 2008 chủ yếu là do giá dầu thô tăng quá nhanh làm tăng giá cao su tổng hợp, khiến nhiều doanh nghiệp phải chuyển sang sử dụng cao su thiên nhiên Mặt khác, giá cao su tăng còn do hoạt động đầu cơ Trong những tháng này giá cao su xuất khẩu của Việt Nam tăng liên tục, đạt mức kỷ lục hơn 3.000 đô la Mỹ/tấn vào tháng 8-2008 Nhưng tính đến cuối tháng 12-2008, giá cao su chỉ còn ở mức 1.315 đô la/tấn, giảm hơn 50% so với thời điểm tháng 8-2008
NĂM 2009
Trang 10Từ đầu năm 2009, ngành cao su toàn cầu gặp khó khan lớn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường tiêu thụ ô tô thu hẹp, nhiều ngành nghề đình trệ kéo theo nhu cầu săm lốp và nguyên liệu cao su giảm rất nhanh, giá xuống thấp chỉ còn khoảng 55-60% so với cùng kì năm trước Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, kim ngạch xuất khẩu cao su thiên nhiên năm 2009 đạt 731,39 ngàn tấn, đạt trị giá 1,226 tỷ USD với đơn giá bình quân là 1.677 USD/tấn, tăng 11,1% về lượng nhưng giảm 23,5% về trị giá và giảm 31,1% về giá so với năm 2008
Cụ thể
Trong đó, giá cao su vào tháng 1 - 2009 chỉ đạt bình quân khoảng 1.278 USD/tấn, sau đó ổn định ở mức 1.419 - 1.485 USD/tấn trong quý 1 và quý 2 Từ tháng 6 đến tháng 12, giá cao su xuất khẩu tăng liên tục, đến tháng 12 đạt 2.190 USD/tấn, tăng 71,4 % so với tháng 1 Lượng cao su và trị giá xuất khẩu đã tăng liên tục trong quý 3 và 4, đặc biệt trong 2 tháng cuối năm, lượng và kim ngạch xuất khẩu đã tăng đáng kể
so cùng kỳ năm trước
NĂM 2010
Năm 2010 cao su tăng trưởng đột biến, cả nước xuất khẩu 760.000 tấn cao su và lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vượt mốc 2 tỉ USD, đạt 2,3 tỉ USD)
NĂM 2011
Năm 2011 xuất khẩu 816,5 nghìn tấn, nhưng giá trị xuất khẩu lại tăng vọt lên đến 3,2 tỷ USD, tăng 4,4%
về lượng và tăng 35,4% về trị giá so với năm 2010, đạt 102,1% kế hoạch năm đề ra
Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết, sang đầu tháng 1/2011, giá cao su tiếp tục tăng hơn do nhu cầu vẫn tăng liên tục trong khi nguồn cung vào thời vụ thấp điểm Nhờ thời tiết thuận lợi, cao su thiên nhiên của Việt Nam đã xuất được trong tháng 1 là 75.600 tấn, đạt 332,95 triệu đô-la, với giá bình quân là 4.403 USD/tấn, tăng 46% về lượng và tăng đến 145% về trị giá so với cùng kỳ năm trước
Riêng chủng loại SVR 3L vượt ngưỡng dự đoán 5000 USD/tấn, đạt bình quân 5.147 USD/tấn Sang tháng
2, giá cao su xuất khẩu tiếp tục tăng, đến 15/2 đạt bình quân 4.590 USD/tấn và SVR 3L đạt 5.592
USD/tấn
NĂM 2012
Giá cao su xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2012 đạt bình quân 2.838 USD/tấn, đã giảm 28% so với giá bình quân năm 2011, giảm 7% so giá bình quân năm 2010 nhưng cao hơn 69% so với giá năm 2009 và cao hơn 16,5% so với giá năm 2008
Cụ thể
Hiệp hội Cao su Việt Nam tổng hợp từ nguồn Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê