1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cây tre le oxytenanthera

19 347 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cây Tre Le Oxytenanthera
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Thuận
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông Lâm
Thể loại Luận văn cao học
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 649,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cây tre le oxytenanthera

Trang 2

Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

I Sơ lược về cây tre le Oxyfenanthera

1 Vi tri phân loại

Ngành: Angiosperm

Lớp: Monocotylendoneae

Ho: Graminaceae (Poaceae)

Ho phu: Bambusoideae

Tên khoa học: Oxytenanthera poilanei A, Cam

Tên thông thường: Le poHanet, Tre A-lay (Phạm Hoàng Hộ, 1993)

Giống Oxytenanthera ở Việt Nam có 8 loài:

- O albociliata Munro (Le lông trắng, May lai)

- O dinhensis G Cam (Le, Le nii Dinh)

- O hayatae A Cam (Le Hayata)

- O hosseusii Pilger Je Hosseusii)

- O parvifolia Brandis (Le lá nhỏ)

- © poilanei A Cam (Le Poilane, Tre Alay)

O stockesii Munro (Le Stockes)

~ Ov tenuispiculata A Cam (Tre laha)

2 Phân bố

Loài Oxytenanthera phân bố ở nhiều nơi trên thế giới như: Lào, Ấn Độ,

Miến Điện, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam Trong d6, O poilanei phan bố ở

Việt Nam, Thái Lan và Campuchia (Ueda, 1960) Ở Việt Nam, Oxyienanthera pollanei phân bố nhiều ở Lao Bảo (Quảng Trị) (Phạm Hoàng Hộ, 1993)

Luận văn cao học Học viên: Nguyễn Thị Mỹ Thuận

Trang 3

3 Đặc điểm hình thái, sinh lý

Tre thân mộc, cao Š5-§m, đường kính thân 4 - 5 em, có thể to đến 8-9 em,

thân non có ngọn thòng đến đất (ánh 1.1A), lóng đài 30 cm, mắt mang nhiều

nhánh Lá có phiến tròn đài thon, lá đài đến 15-20 cm, rộng 1,5-2,2 cm, gân phụ 6-8 cặp, cuống 1-3 mm, bẹ không lông (ảnh 1.6) Hoa thường có 6 tiểu nhụy (ảnh 1.2), noãn sào có phụ bộ ở chót, phụ bộ nhọn đài, đĩnh quả (ảnh 1.3) Phát hoa mang chum tron, gié hoa day léng vàng, dài 17 mưn, hoa dưới đực, hoa trên lưỡng phái (Phạm Hoàng Hộ, 1993),

Tre Oxytenanthera poilanei sinh sẵn theo kiểu hợp trục Đầu mút của

thân ngầm có đốt, nhưng không có chổi ở những đốt đó Đầu thân ngầm đâm lên

khỏi mặt đất và sinh trưởng thành một thân khí sinh Trong năm sau, chổi ở

phan gốc của thân khí sinh này lại phát triển thành một thân ngầm ngắn và thân

ngầm này lại đâm lên khói mặt đất để thành một thân khí sinh thứ hai, như vậy

là hình thành một khóm thân khí sinh (Ueda, 1960)

Trong tự nhiên, sau khi nhô khói mặt đất từ 30 -110 ngày, cây măng sẽ

đạt tới kích thước và chiều cao đẩy đủ của nó và sẽ không còn lớn thêm về

chiều cao hay đường kính (Ueda, 1960) Đối với các loài tre mọc thành khóm ,

kiểu hợp trục như Oxytenanthera thì thời gian cần thiết để đạt đến mức sinh

trưởng hoàn bị là 80-110 ngày Măng thường mọc vào mùa hè, sau khi xuất hiện

vài trận mưa đầu mùa khi độ Ẩm đất tăng lên

Tre Oxytenanthera poilanei có khả năng trổ hoa nhiều lân trong đời

Theo ghi nhận của người dân địa phương, loài tre này thường trổ hoa vào tháng

12 trong năm Các thân khí sinh đã trổ hoa sẽ khô và chết sau đó (ảnh 1.1B)

Trong khi các thân ngầm ở dưới đất vẫn tiếp tục phát triển vào mùa sau

Trang 4

Anh 1.3: (A) Trái Tre le Ĩ poiane: là dĩnh quả với 4 dĩnh

(B) Hột Tre le Ĩ pòilanei sau khi đã bốc vỏ, với phụ bộ nhọn ở đầu

Luận văn cao học Học viên: Nguyễn Thị Mỹ Thuận

Trang 5

Anh 1.4: (A) Lát cắt ngang qua vị trí lóng thân tre le Ó poilanei in viro;

(B) Lóng thân ngoài tự nhiên cho thấy thân hoàn toàn đặc ruột

Ảnh 1.5: Lát cắt ngang qua vị trí đốt

than tre le Oxytenenthera poilanei in vitro

với nhiều bó libe mộc

i

~Chitaren’s o&y Afpeat 2003 »

\

Ảnh: 1.6: Lá tre le Oxytenenthera poilanei với 8 cặp gân phụ

Luan van cao hoc Hoc vién: Nguyén Thi My Thuan

Trang 6

4 Công dụng của họ tre trúc

Tre có thân tròn, thẳng, tính chịu lực cao nên có rất nhiều công dụng

trong đời sống, sản xuất và chiến đấu Cây tre từ ngọn đến gốc, rễ và lá đều

được sử dụng Trong đó, thân tre là bộ phận có nhiều công dụng nhất (Lê Văn

Chẩm và cs, 1994)

Thân tre được dùng phổ biến trong kiến trúc, xây dựng nhà cửa, làm nông

cụ, để dùng gia đình, Đồ dùng bằng tre trúc rất bên vì chịu được chua, kiểm

cho nên người tiêu đùng trong và ngoài nước rất ưa chuộng nhu tre Oxytenanthera pollanei được dùng làm sọt, thúng (Ueda, 1960) Đối với các loài thân rỗng, có tỷ trọng nhỏ, thuận tiện cho việc làm bè mắng, cầu phao

Tre có sợi tương đối dài, có loài chứa đến 45% cellulose, đạt đến tuổi thành thục sớm Vì thế tre là nguồn nguyên liệu có giá trị trong công nghiệp

giấy và sợi nhân tạo

Măng tre là loại thực phẩm có giá trị trên thị trường trong và ngoài nước Hiện nay, hai loại măng đang được ưa chuộng nhất là Dendrocalamus asper (Tre manh téng) va Phyllostachys edulis

Tre được sử dụng làm dược liệu dựa trên thành phần SiO; vô định hình (chiếm 7,6% ở lá và 2,4% ở rễ trên trọng lượng khé 6 Phyllostachys heterocycla Mitf) (Luz va cs, 2003) Lé tre, tre non có thể dùng làm thuốc trị cắm sốt, ho gà

Trang 7

Trồng tre thành rào luỹ có tác dụng bảo vệ rất tốt Tre có hệ thống thân ngầm dày đặc, mọc lan rộng, rễ bám chắc vào đất nên có tác dụng giữ đất, chống xói lỡ tốt (Ueda, 1960) Có thể trồng tre ở chân đê, chân đập, ven khe,

ven suối để giữ đất phòng chống xói mòn Vì thế tre cũng là một trong những

loài cây nên trồng ở đầu nguồn, ven khe suối, giữa lòng các suối cạn để hạn

chế xói mòn, điều tiết dòng chảy

Ơ các vùng đổi Trung du, tre còn được dùng làm hàng rào sống để bảo

vệ sản xuất, chia khu kinh doanh và khoanh khu vực chăn nuôi Qua thực tiễn ở

một số nơi, trồng tre bao đổi đã góp phần tích cực vào việc phát triển nông nghiệp vùng đổi núi (Takamatsu và cs, 1997) Ngoài ra, tre còn được trồng

quanh làng vừa đem lại lợi kinh tế, vừa có tác dụng chắn gió khu nhà ở

Qua mấy nghìn năm lịch sử cây tre gắn bó với cuộc chiến đấu, giữ làng giữ nước của dân tộc ta với truyền thống Thánh gióng đến cây tre Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp Ngày nay, bên cạnh vũ khí hiện đại, tên tre và khí giới bằng tre vẫn có tác dụng nhất định Trồng tre là biện pháp quan trọng để xây dựng làng chiến đấu Không những có tác dụng to lớn trong sản xuất chiến đấu và sinh hoạt thường ngày, tre còn có tác dụng trong đời sống

tinh thần của nhân dân ta Với dáng thân đẹp, dẻo dai, tre trúc thường được coi

là biểu tượng cho phẩm chất thẳng thắn, bất khuất của người quân tử Ngoài ra,

mộit số loài tre nhỏ, có đáng đẹp được sử dụng làm bonsai, cây cảnh có giá trị

Luận văn cao học Học viên: Nguyễn Thị Mỹ Thuận

Trang 8

H Sự sinh phôi thể hệ

Sự sinh phôi thể hệ (sinh phôi sinh đưỡng, sinh phôi soma) là một tiến trình hình thành phôi từ các tế bào thế hệ mà không đi vào các chu trình giới tính Các giai đoạn trong sinh phôi thể hệ tương tự như các giai đoạn trong sinh

phôi hợp tử

Báo cáo sớm nhất về sự sinh phôi thế hệ in vitro vAo nim 1957 6 cay

Qenanthe aquatica (Waris, 1957), tiếp theo là ở cà rốt (Steward và cs, 1958) Su sinh phôi thể hệ của các cây gỗ đạt được vào những năm 1960 vdi Citrus spp.,

Biota orientalis, Santalum album va Zamia integrifolia Tay nhién, mai cho dén những năm 1980 sự sinh phôi thể hệ ở các cây gỗ mới được báo cáo rộng hơn Thành công đầu tiên trên sự sinh phôi thể hệ các cây lá kim được báo cáo vào

năm 1985 ở cây Picea abies (Chalupa, 1985) va Larix deciduas (Nagmani va cs,

1985)

Vật liệu để tạo phôi thể hệ thuộc hai nhóm: phôi hợp tử (mô phôi) và mô

đã phân hoá (Bùi Trang Việt, 2003)

Phôi hợp tử chứa các tế bào phôi, có khả năng sinh phôi Các tế bào này

được gọi là PEDC (pre-embryogenic determined cells)

Mô đã phân hoá chứa các tế bào phân hóa hơn các tế bào phôi hợp tử nên

cần được cảm ứng để có khả năng sinh phôi Các tế bào này gọi là IEDC (induced embryogenic determined cells) Các tế bào phân hoá ở trạng thái yên lang chịu trách nhiệm thực hiện một chức năng cụ thể nào đó nên cần phải được

tái lập trình để dấn thân vào con đường sinh phôi với nhiều lần phân chia tế bào liên tiếp để được cảm ứng sinh phôi từ môi trườn g nuôi cấy

Trang 9

Trong giai đoạn đầu của quá trình sinh phôi thể hệ, các tế bào thể hệ dấn thân vào một con đường phái triển lũy tiến để trở thành các tế bào sinh phôi (embryogenic cells)

Con đường phát triển lũy tiến gồm 3 sự kiện lần lượt là khử phan hoa (de-

differentiation), cảm ting (induction) va qui dinh (determination)

Khử phân hoá: xáo trộn bay ngừng biểu hiện thông tin phát triển đang

xây ra trong tế bào Đây là điều kiện tiên quyết cho phép tế bào trổ nên có khả

năng sinh phôi,

Cam ứng: khả năng đáp ứng của các tế bào đã được khứ phân hóa với

các điều kiện cảm ứng

Qui định: Quá trình dẫn tới sự thành lập các tế bào sinh phôi với các đặc

tính hình thái xác định

Đặc tính hình thái của tế bào sinh phôi: kích thước nhỏ, đẳng kính, vách

mỏng, tế bào chất đậm đặc, nhân (o và hạch nhân rất rõ

HH Các thành tựu đạt được về nhân giống in vitro va su sinh phôi thể hệ ở họ tre trúc

Lần đầu tiên Alexander và Rao tiến hành nghiên cứu nuôi cấy phôi tre

và cho nảy mâm thành cây trong ống nghiệm vào năm 1968, Tiếp theo Tseng

và cs, 1975 nghiên cứu cô lập tế bào trần từ lá tre Đến năm 1982, Mehta va cs

đã tạo được cây con Bambusa arundinacea qua sinh phôi thể hệ Sau đó các

nghiên cứu tiếp tục được tiến hành ở 15 loài từ 7 giống tre được Dekkers tóm tắt

sau đây (bảng 1.1):

Trang 10

phôi thể hệ in vitro 6 ho tre tric trén thé gidi (Theo Dekkers, 1989)

cấy

Bambusa Phôi | N6+2,4-D (7) Seo Mehta va csv, 1982 arundinacea |Seo* | N6+2,4-D(7)+BAP(1) | Phôi thể hệ Mehta va csv, 1982

Dot MS+CW(10%)+ Nhân chổi Nadgir và csv, 1984 thân | BAP(0,5) + Kn(0,2)

Bambusa Hoa | MS+2,4-D (3)+Kn(2) | Seo/phôi Yeh & Chang, 1986b

beecheyana | Phôi* | MS Nảymầm phôi | Yeh & Chang, 1986b var Ré* MS+2,4-D (3)+Kn(2) Seo / cay bach | Yeh & Chang, 1986b

Bambusa Mang | MS+BAP(1)+AC (3g/1) | Chồi Banik, 1987

glaucesescens | Chéi* | MS+BAP(5)+AC Tạo rễ Banik, 1987

(3g/)+NAA (1)

; Dinh | MS+2,4-D (3) Seo/dịch treo | Huang, 1988

Đỉnh | MS +NAA + BAP Seo/chéi/ré Huang, 1988

chi

B oldhamii Đỉnh MS+2,4-D (3) Sẹo Huang, 1988

choi | MS+NAA+BAP Seo/chéi/ré Huang, 1988 Hoa | MS+2,4-D (3)+Kn(2) Seo/phôi Yeh & Chang, 1986a Phéi* | MS+Kn(2) Naymam phéi | Yeh & Chang, 1986a Ré* MS+2,4-D (3)+Kn(2) Cay bach tang | Yeh & Chang, 1986a

B ventricosa | DSt | MS+BAP(5)+NAA Chéi Dekkers, 1989

than = (0,1-10) + AC (0,3%)

B vulgaris Dot MS+CW(10%)+BAP Nhân chéi Nadgir va csv, 1984

than : (0,5)+Kn (0,2)

(oH KH.TUNHIEN

Luan van cao hoc THƯ VIỆN

"44 TES

——

Học viên: Nguyễn Thị Mỹ Thuận

Trang 11

Dendrocalam | Seo* | MS+BAP(1)+2,4-D(1) | Chổi, cây con | Zamora và csv, 1989

us latiflorus | Đỉnh | MS+NAA +BAP Seo/chéi/ré Huang, 1988

chổi

Phéi | B5+2,4-D( 2 và 6) Seo/phôi Rao và csv, 1985

D stristus Phôi* | B5+IBA(1)+NÑAA(0,2) |Nảymầm phôi | Rao va csv, 1985

Phôi | MS +2,4-D (1 và 10) + | Seo/phôi Dekkers, 1989

CW(10%) Đốt MS+CW(10%)+BAP Nhân chổi Nadgir và csv, 1984 thân | (0,5)+Kn (0,2)

Chéi* | MS+IBA(1; 4ngày) Cam tngtaoré | Nadgir va csv, 1984

Chéi* | MS(1/2)+AC (0,25%) | Tạo rễ Nadgir va csv, 1984 Cay MS+CW(5%)+BAP Nhân chdi Nadgir va csv, 1984 con (0,2)

Chổi* | MS+IBA(0,1; 2ngày) Cảm ứngtạorễ | Nadgir và csv, 1984

Chồi* | MS(1/2)+AC (0,25%) Tạo rễ Nadgir va csv, 1984

Đốt MS + NAA(1) + BA(1) | Tăng trưởng | Chaturvedi và thân + 2,4-D (0,5) | chổi và tạo rễ | Sharma, 1988

+Phloroglucinol

Phyllostachy Đỉnh MS+2,4-D (3) Seo / dich treo | Huang, 1988

Dinh | MS+NAA+BAP Seo/chéi/ré | Huang, 1988

P viridis La MS + 2,4-D (2) Seo / phôi /| Hassan va Debergh,

Sasa Dinh | MS+2,4-D (3) Seo / dich treo | Huang, 1988

Đỉnh MS+NAA+BAP Seo /chồi /rễ | Huang, 1988 chổi

Sinocalamus Phôi | MS+2,4-D (2) Seo/phôi Yeh và Chang, 1987

Schizostachyum | Long | MS+2,4-D (10) Seo Dekkers, 1989

brachycladum than

Luận văn cao học Học viên: Nguyễn Thị Mỹ Thuận

Trang 12

Thyrsostachy | Long | MS (1/2)+2,4-D (5) Seo Dekkers, 1989

$ slamensis than

Chú thích: *: tái sinh qua nuôi cấy; Q: nồng độ mgi

2 aA

Gần đây, việc nhân giống ín vữro và sinh phôi thể hệ ở họ Tre trúc cũng

được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu:

- Nam 1998, Lin và cs đã thành công trong việc vi nhân giống tre Bambusa edulis từ mẫu đốt thân của cây ngoài tự nhiên và sự ra hoa của các cây con tái sinh trên môi trường MS bể sung 0,1 mg/l TDZ va 0,5 mg/l 2,4-

D, tuy nhiên có sự xuất hiện các cây bạch tạng (chiếm 30% tổng số các

cây tái sinh)

- Năm 1999, Saxena và cs đã thành công trong việc nhân giống diện rộng tre Dendrocalamus stristus qua sinh phéi thé hé Arya vA cs, 1999 vi

nhân giống Dendrocalamus asper bằng cách nhân chỗi từ hạt

- Năm 2001, Sood và cs đã nhân giống in vữro thành công ở tre

Đendrocalamus hamiltonii Mức độ nhân chỗi trên môi trường MS lông tinh vdi 2,5 mg/l BA sau 4 tuần là 1:5 Tuy nhiên, khả năng tạo rễ chỉ đạt

được đối với các cụm có từ 3-4 chổi với tỷ lệ rất thấp (25-30%) Mức độ sống khi ra đất là 80-85%

- Năm 2002, Godbole và cs đã tái sinh cây qua phôi thể hệ có nguồn gốc đốt thân Ởở Dendrocalamaus hamiltonii Nees et Arn Ex Munro trên môi trường MS bổ sung BA Img/l và 2.4-D Img/1 cho việc tạo sẹo Sau đó

giám 2,4-D và gia tăng nâng độ BA để cẩm ứng sinh phôi, Cuối cùng chuyển các phôi này sang môi trường giàu đường và không có chất điều

Luan van cao hoc Hoc vién: Nguyén Thi My Thuan

Ngày đăng: 29/01/2013, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w