GIÁO TRÌNH KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁCLÊNIN DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ (Tái bản cổ cập nhật, chỉnh sửa năm 2021) NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬA GIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO CAO CẮP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TS Hoàng Phúc Lâm TS Lê Văn Lợi TS Dương Trung Ý TS Nguyễn Viểt Thảo TS Mai Đức Ngọc Trưởng ban ủy viên ủy viên ủy viên ủy viên ủy viên ũy viên Thường trực ủy viên thư ký CHỦ BIÊN PGS, TS Ngô Tuấn Nghĩa TẬP THÊ TÁC GIẢ 1. TS Phạm Anh 2. PGS, TS Nguyễn Quốc Dũng 3. TS Tạ Thị Đoàn 4. PGS, TS Nguyễn Thị Như Hà 5. PGS, TS An Như Hải 6. TS Trần Hoàng Hiểu 7. PGS, TS Hoàng Thị Bích Loan 8. PGS, TS Ngô Tuấn Nghĩa 9. TS Trần Hoa Phượng 10. PGS, TS Nguyễn Minh Quang 11. PGS, TS Nguyễn Khắc Thanh 12. PGS, TS Đoàn Xuân Thủy 13. TS Lê Bá Tâm 14. TS Lê Xuân Tạo 15. TS Vỗ Thị Kim Thu 16. TS Hồ Thanh Thủy LỜI GIỚI THIỆU Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sàch, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quàn lý. Chương trình Cao cấp lý luận chính trị là chương trình trọng điểm trong toàn bộ công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chỉ Minh. Mục tiêu của chương trình là: Trang bị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của hệ thống chính trị kiến thức nền tảng về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng làm cơ sở cho việc củng cố nền tảng tư tường, nâng cao tầm nhìn và năng lực tư duy chiến lược, năng lực chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đổi mới, bổ sung, cập nhật nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là việc làm thường xuyên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển, phù hợp với bối cảnh của đất nước và thế giới. Chương trình Cao cấp lý luận chính tri được kết cấu gồm 19 môn học và các chuyên đề ngoại khóa, được tổ chức biên soạn công phu, nghiêm túc, trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ các nhà khoa học đang trực tiếp giảng dạy trong toàn Học viện; đồng thời, có sự tham gia góp ý, thẩm định kỹ lưỡng của nhiều nhà khoa học trong và ngoài Học viện. Bộ giáo trình Cao cấp lý luận chính trị xuất bản lần này kế thừa các giáo trình cao cấp lý luận chính trị trước đây; đồng thời chỉnh sửa, cập nhật các nội dung mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tình hình thực tiễn mới của thế giới, khu vực và đất nước. Phương châm chung của toàn bộ giáo trình là cơ bản, hệ thống, cập nhật, hiện đại và thực tiễn. Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nói chung. BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬA GIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA Hồ CHÍ MINH
Trang 2BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬA GIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO
Trang 3TS Lê Văn Lợi
- ũy viên Thường trực
- ủy viên thư ký
Trang 4CHỦ BIÊNPGS, TS Ngô Tuấn Nghĩa
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc BanChấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàndiện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc giađào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoahọc lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứukhoa học lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng,chính sàch, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnhđạo, quàn lý
Chương trình Cao cấp lý luận chính trị là chương trình trọng điểmtrong toàn bộ công tác đào tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chỉ Minh Mục tiêu của chương trình là: Trang bị cho đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của hệ thống chính trị kiến thức nền tảng
về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng làm cơ sở cho việccủng cố nền tảng tư tường, nâng cao tầm nhìn và năng lực tư duy chiếnlược, năng lực chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, kỹ năng lãnh đạo,quản lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản
lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh toàndiện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế
Đổi mới, bổ sung, cập nhật nội dung các chương trình đào tạo, bồidưỡng cán bộ là việc làm thường xuyên của Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng,Nhà nước trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển, phù hợp với bối cảnhcủa đất nước và thế giới
Chương trình Cao cấp lý luận chính tri được kết cấu gồm 19 mônhọc và các chuyên đề ngoại khóa, được tổ chức biên soạn công phu,
Trang 6nghiêm túc, trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ các nhà khoa học đang trựctiếp giảng dạy trong toàn Học viện; đồng thời, có sự tham gia góp ý, thẩmđịnh kỹ lưỡng của nhiều nhà khoa học trong và ngoài Học viện.
Bộ giáo trình Cao cấp lý luận chính trị xuất bản lần này kế thừa cácgiáo trình cao cấp lý luận chính trị trước đây; đồng thời chỉnh sửa, cậpnhật các nội dung mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXIII của Đảng, tình hình thực tiễn mới của thế giới, khu vực và đất nước.Phương châm chung của toàn bộ giáo trình là cơ bản, hệ thống, cập nhật,hiện đại và thực tiễn
Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được nhiều ý kiến đóng gópquý báu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nói chung
BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬAGIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO
CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo biên soạn, chỉnh sửa giáo trìnhCao cấp lý luận chính trị, tập thể các nhà khoa học, giảng viên của ViệnKinh tế chính trị học và các khoa Kinh tế chính trị ở các Học viện chính
trị khu vực đã tổ chức biên soạn, chỉnh sửa Giáo trình Kinh tế chỉnh trị
Mảc-Lênin (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị) trên cơ sở tích
hợp một cách biện chứng những ưu điểm của hệ thống các giáo trình Kinh
tế chính trị Mác-Lênin đã từng được biên soạn ở Học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh trong suốt thời gian qua
Đây là công trình được tổ chức biên soạn đặc biệt công phu, với sựchủ trì của Viện Kinh tế chính trị học, thực hiện nhiều vòng thảo luậnrộng rãi với sự góp ý kiến của đội ngũ các giảng viên, các nhà khoa họcđang trực tiếp giảng dạy môn học Kinh tế chính trị Mác-Lênin trong toàn
hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tập thể biên soạn giáo trình đã quán triệt phương pháp luận củaV.LLênin về yêu cầu nội dung của một cuốn giáo trình kinh te chính trị,
rằng: tất cả nhiệm vụ của một cuốn giáo khoa chỉnh trị kỉnh tể học là
nhằm mang lại cho người nghiên cứu môn khoa học này những khái niệm
cơ bản về các chế độ kỉnh tế - xã hội khác nhau và về những đặc điểm căn bản của mỗi chế độ đó; tất cả nhỉệm vụ của nó là phải làm thế nào cho người đã lĩnh hôi quyển giảo khoa sơ cấp Ị có được một kim chỉ nam chắc chẳn để tiếp tục nghiên cửu môn này, và thấy cỏ hứng thú trong việc nghiên cứu ẩy khỉ đã hỉểu rằng những vấn đề quan trọng nhất của đời sống xã hội hiện đại là gắn liền một cách trực tiếp nhất với những vẩn đề của khoa học kinh tế.
Trang 8Trên tinh thần đó, Giáo trình Kinh tể chính trị Mác-Lênin (Dùng cho
hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị) biên soạn lần này được thiết kế gồm
6 bài; các bài có mối liên hệ mật thiết với nhau về nội dung và lôgíc, đêubám vào hai chủ đề chính cốt lõi là phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa và những vấn đề kinh tế chính trị của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam; nội dung các bài trong giáo trình được cập nhật theotinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
Mặc dù đã được nghiên cứu công phu, với tất cả sự nghiêm cẩn vềmặt khoa học, song chắc chắn cuốn giáo trình này không tránh khỏinhững thiếu sót cả về mặt nội dung và kỹ thuật Tập thể tác giả rất mongnhận được sự góp ý chân thành từ phía các đồng chí học viên cũng nhưcác nhà khoa học để giáo trình ngày càng hoàn chỉnh hơn
TẬP THÊ TÁC GIẢ
Trang 9Bài 1
KHÁI QUÁT
VỀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
A MỤC TIÊU
về kiến thức: Giúp học viên nhận thức một cách sâu sắc về sự hình
thành, phát triển, nội dung cốt lõi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu củakinh tế chính trị Mác-Lênin Trên cơ sở đó, học viên hiểu được mối liên hệgiữa kinh tế chính trị Mác-Lênin với dòng chảy tư tưởng kinh tế của nhânloại
về kỹ năng: Giúp học viên xây dựng kỹ năng phân tích, tổng kết thực
tiễn, tiếp thu sáng tạo lý luận kinh tế chính trị và vận dụng tri thức kinh tếchính trị để giải quyết các quan hệ kinh tế trong quản trị quốc gia
về tư tưởng: Thông qua nhận thức sâu sắc về đoi tượng nghiên cứu
của môn học, học viên khẳng định được vị trí của khoa học kinh tế chínhtrị Mác-Lênin trong nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũngnhư ý nghĩa của môn học đối với việc nâng cao khả năng tư duy, tầm nhìnchiến lược trong hoạt động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý đang thamgia quản trị quốc gia
B NỘI DUNG
1 KINH TỂ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN TRONG NỀN TẢNG TƯTƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1.1 Sự hình thành và phát triển của kinh tế chính trị Mác- Lênin
Kinh tế chính trị là một môn khoa học kinh tế Tính tới nay, khoa họckinh tế chính trị đã có lịch sử hình thành và phát triển qua nhiều thê kỷ
Trang 10về tên gọi, thuật ngữ kinh tế chính trị lần đầu tiên được nhà kinh tếngười Pháp có tên là A.Montchretien (1575-1621) nêu ra năm 1615 Tiếptheo đó, những luận điểm mang tính khởi đầu của kinh tế chính trị xuấthiện trong lý thuyết của các nhà kinh tế thuộc chủ nghĩa trọng thương hồithế kỷ XVI Kinh tể chính trị chính thức trở thành một môn khoa học vớinhững nội hàm, khái niệm có tính hệ thống trong thế kỷ XVII-XVIIĨ Đâycũng chính là khoảng thời gian đánh dấu sự phát triển của trường phái ĩýthuyết kinh tế tư sản cổ điển Anh với các đại diện tiêu biểu như: W.Petty(1623- 1687), A.Smith (1723-1790), D.Ricardo (1772-1823).
về mặt lịch sử, khoa học kinh tế chính trị được phát triển trên cơ sởtiến trinh phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Theo đó,
có nhiều trường phái kinh tế chính trị khác nhau: từ kinh tế chính trị tư sản
cổ điển, hậu cổ điển, tiểu tư sản, chủ nghĩa xã hội không tưởng tới sự phânnhánh thành kinh tế chính trị mácxít và kinh tế chính trị phi mácxít
Kinh tế chính trị Mác-Lênin được hình thành và phát triển bởi
C Mác và Ph.Ăngghen từ giữa thế kỷ XIX trong bối cảnh chủ nghĩa tưbản đã rất phát triển Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa đã thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội mở rộng nhanh chóng Đúngnhư C.Mác đã từng nhấn mạnh: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trịgiai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiềuhơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộplại”I Tuy nhiên, quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, mặc dù vậy,luôn làm nảy sinh trong lòng nó rất nhiều thách thức như khủng hoảng,thất nghiệp, bất bình đẳng Các trường phái kinh tế chính trị đương thời
đã luận giải nguyên nhân cũng như các giải pháp khắc phục những tháchthức trên, nhưng hoặc thiếu khoa học, hoặc không triệt để Với sự xuấthiện của lý luận kinh tế chính trị của C.Mác, nguyên nhân, bản chất kinh técủa các mâu thuẫn trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng những quyluật chi phối nền sản xuất ấy đã thực sự được làm sáng tỏ
I C.Mác và Ph.Ătigghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.4, tr.6O3.
Trang 11về mặt nội dung, trước C.Mác, khoa học kinh tế chính trị đã có quátrinh phảt triển lâu dài qua nhiều giai đoạn Giai đoạn đầu được đánh dấubởi các luận điểm của chủ nghĩa trọng thương Mặc dù tư tưởng của chủnghĩa họng thương còn thiếu tính khoa học, nhưng về cơ bản, những tưtưởng đó đã thể hiện bước tiến bộ trorig nghiên cứu kinh tế so với thờitrung cổ Chủ nghĩa trọng thương đã hướng việc nghiên cứu vào mục đíchnhằm giải quyết các nhiệm vụ củạ thực tiễn phát triển kinh tế quốc gia;thông qua đó, đã nêu được những khái niệm mang tính lý luận như hànghóa, tiền, tư bản, lợi nhuận làm cơ sở cho những nghiên cứu kinh te saunày.
Từ khoảng giữa thế kỷ XVIII, với sự nổi lên của chủ nghĩa trọngnông, nhà kinh tế Francois Quesnay (Pháp) đã lần đầu tiên chuyển lĩnhvực nghiên cứu của kinh tế chính trị từ lưu thông sang lĩnh vực sản xuấtvật chất Bước chuyên biến này đã đánh dấu giai đoạn mới trong sự pháttriển của kinh tế chính trị, tạo cơ sở cho việc nhận thức tính quy luật cũngnhư nội hàm thực tiễn của các phạm trù kinh tế Đồng thời, cách tiếp cận
từ sản xuất của F.Quesnay đã đặt những nền tảng đầu tiên cho sự phân tíchquá trình tái sản xuất xã hội
Cũng từ giữa thế kỷ XVII ưở đi, ở nước Anh có sự phát triển rực rỡcủa lý luận kinh tế chính tri, làm hình thành một trường phái kinh tế màsức ảnh hưởng của nó còn tới tận ngày nay - kinh tế chính trị tư sản cổđiển Anh Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh tập trung nghiên cứu nhữngquan hệ cơ bản của nền kinh tế hàng hóa, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa,bước đầu tìm được những quy luật chi phối đời sống kinh tê của xã hội tưbản Thông qua việc nêu ra và giải quyết vấn đề “cái gì quyết định giá trịtrao đổi?”, W.Petty đã tìm ra một số quy luật của nền kinh tế thị trường,bao gồm quy luật giá trị, cạnh tranh, cung - cầu
Ke thừa những kết quả nghiên cứu của W.Petty, nhà kinh té họcA.Smith với lý thuyết “Bàn tay vô hình” nổi tiếng đã đưa kinh tế chính trịphát triển lên trình độ hoàn chỉnh hơn Kinh tế chính trị của A Smith đãđem lại hệ thống tri thức khá tường minh về hoạt động của các quy luật
Trang 12kinh tế trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; chỉ ra nhiệm vụ củakhoa học kinh tế là xác định các nhân tố ảnh hưởng tới sự tăng - giảm củacủa cải Đồng thời, về mặt lý thuyết, A Smith đã có đóng góp quan trọngtrong việc phân biệt phạm trù giá trị sử dụng, giá trị trao đổi của hàng hóa,trong đó giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi.
Tiếp theo A.Smith, D.Ricardo đưa kinh tế chính trị tiến tới trình độđầy đủ, khoa học hơn D.Ricardo đã xây dựng lý luận giá trị cơ bản hoànchỉnh (sau này C.Mác kế thừa trực tiếp và chỉ bổ sung phát kiến về tính haimặt của lao động sản xuất hàng hóa)
Mặc dù còn hạn chế do bối cảnh lịch sử, trinh độ nhận thức, sự chiphối của lợi ích giai cấp tư sản, song kinh tế chính trị trước Mác đã cóđóng góp đặc biệt quan trọng, xét về phương diện tạo lập cơ sở lý luận nềntảng ban đầu cho nghiên cứu những phạm trù và quy luật của nền kinh tếthị trường
Trên cơ sở những thành tựu đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa
một cách chọn lọc và xây dựng lý luận kinh tế chính trị của mình C.Mác
đã tập trung nghiên cứu cơ sở hình thành, phát triển; bản chất của nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa; những quan hệ kinh tê và các quy luật chi phối quátrình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng của cải vật chất trong nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa
Nhờ phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa: laođộng cụ thể và lao động trừu tượng, C.Mác đã chỉ ra rằng, giá trị hàng hóa
là cơ sở chung nhất cho việc trao đổi giữa các hàng hóa có giá trị sử dụngkhác nhau Trên cơ sở phân tích làm sáng tỏ các hình thái giá trị của hànghóa, C.Mác đã chỉ rõ tính tất yếu của sự hình thành, nguồn gốc, bản chất,chức năng cùa tiền với tư cách là hàng hóa đặc biệt Cùng với đó, C.Máccòn chỉ ra quy luật lưu thông tiền tệ trong nền sản xuất hàng hóa Những lýluận đó của C.Mác đồng thời cũng là cơ sở khoa học cho nghiên cứu kinh
tế thị trường nói chung
Trang 13Từ những phạm trù cơ bản của lý luận giả trị, C.Mác tiến hànhnghiên cứu về nền kinh tế hàng hóa phát triển cao - nền sản xuất tư bảnchủ nghĩa Thông qua công thức chung của tư bản (T-H-T’), C.Mác đãluận giải một cách khoa học các điều kiện cần thiết để nền sản xuất hànghóa tư bản chủ nghĩa ra đời Lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác đãtrở thành chìa khóa giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản, tạo
cơ sở khoa học cho nhận thức bản chất và nguồn gốc của giá trị thặng dư
tư bản chủ nghĩa
Trên cơ sở nhận thức khoa học về bản chất giá trị thặng dư tư bảnchủ nghĩa, C.Mác đã làm rõ bản chất, các hình thái của tiền công ừong chủnghĩa tư bản cũng như cơ sở khoa học giải thích cho sự khác nhau trongmức tiền công giữa các quốc gia trong các điều kiên phát triển khác nhau.Thông qua nghiên cứu quá trình tích lũy và tái sản xuất giản đơn tư bản cábiệt, C.Mác đã luận giải rõ sự chuyển hóa của giá trị thặng dư thành tưbản, các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích lũy, quy luật phổ biến của tíchlũy tư bản, tích lũy nguyên thủy tư bản và vai trò của nó đối với sự ra đờicủa chủ nghĩa tư bản
Với lý luận tuần hoàn, chu chuyên của tư bản, trong đó có tuần hoàncủa tư bản tiền tệ, tuần hoàn của tư bản sản xuất, tuần hoàn
Trang 14của tư bản hàng hóa, C.Mác đã chỉ ra sự thống nhất giữa ba hình thái củaquá trình tuần hoàn cùng những điều kiện để tư bản có thể vận động liêntục, kết cấu thời gian và chi phí lưu thông, nhờ đó đã tạo cơ sở khoa họccho nhận thức mặt chất của sự vận động tư bản cá biệt và cơ sở hình thànhhiệu quả kinh doanh C.Mác luận giải về chu chuyển tư bản vói tư cách làmặt lượng của sự vận động của tư bản cá biệt, các phương thức đo lường
sự vận động của tư bản, bản chất và phương thức chu chuyển của tư bản
cố định và tư bản lưu động, các nhân tố ảnh hưởng tới chu chuyển tư bản
và ảnh hưởng của chu chuyển tư bản đối với đại lượng của tư bản ứngtrước Những trình bày và phân tích về chu chuyển tư bản đã tạo cơ sởkhoa học cho nhận thức sự vận động về lượng của tư bản cá biệt với tưcách là quan hệ sản xuất đặc trưng, đặt nền móng cho nghiên cứu về cáchthức nâng cao hiệu quả kinh doanh
Từ nghiên cứu sự vận động và tái sản xuất của tư bản xã hội, C.Mác
đã đúc rút những điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong tái sảnxuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, tạo ra cơ sở khoa học cho nhận thức
về tính cân đối trong phát triển kinh tế và các quy luật của tái sản xuất mởrộng trên phạm vi toàn xã hội frong nền kinh tể thị trường
Thông qua trình bày và phân tích về những hình thái cụ thể phát sinh
từ quá trình vận động của tư bản với tư cách là một chỉnh thể, C.Mác đãchỉ ra quy luật trực tiếp chi phối các hoạt động kinh doanh trong nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa là quy luật lợi nhuận trung bình Từ đó, C.Mác luậngiải về giá cả sản xuất với tư cách là hình thái chuyển hóa của giá trị trongnền kinh tế thị trường Trên cơ sở làm rõ các quy luật điều tiết các hoạtđộng kinh doanh, trước hết là đối với tư bản công nghiệp, như: quy luật lợinhuận bình quân, quy luật giá cả sản xuất, quy luật cạnh tranh, quy luậtcưng - cầu, C.Mác đã phân tích về bản chất, nguồn gốc của tư bản kinh
Trang 15doanh hàng hóa và lợi nhuận thương nghiệp; tư bản kinh doanh tiền tệ vàlợi tức; tư bản kinh doanh trên lĩnh vực nông nghiệp và địa tô.
Với những đóng góp đồ sộ, hoàn chỉnh về mặt lý luận đó, C.Mác đãxây dựng thành công khoa học kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa thời kỳ tự do cạnh tranh Tinh thần kinh điển về kinh tế
chính trị của C.Mác thể hiện tập trung nhất trong bộ Tư bản Hệ thống lý
luận của C.Mác đã tạo ra những căn cứ khoa học cơ bản cho sự phát triểncủa kinh tế chính trị học mácxít sau này
Sau C.Mác và Ph.Ăngghen, có nhiều nghiên cứu, bổ sung, phát triểnnhững tư tưởng lý luận của C.Mác Những đóng góp đó được gọi chungtrong hệ nhánh kinh tế chính trị mácxít để phân biệt với các trường pháikinh tế chính trị khác Trong số đó có sự đóng góp, bổ sung, phát triểnxuất sắc của V.LLênin giai đoạn những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn những biểu hiện mới xuất hiện cuà chủnghĩa tư bản, V.I.Lênin đã xây dựng lý luận khoa học về chủ nghĩa tư bảnđộc quyền, mà về mặt chính trị của nó, mang bản chất của chủ nghĩa đếquốc Theo V.LLênin, chủ nghĩa để quốc là sự phát triển tiếp tục tất yếucủa của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh V.I.Lênin khái quát những đặcđiểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền gồm: 1) Tập trung sảnxuất và tư bản đạt tới mức độ phát triển cao tạo ra những tổ chức độcquyền có vai trò quyết định trong nền kinh tế; 2) Dung hợp tư bản ngânhàng với tư bản công nghiệp hình thành tư bản tài chính mà đứng đầu làđầu sỏ tài chính; 3) Xuất khẩu tư bản trở thành yếu tố đóng vai trò quantrọng đặc biệt; 4) Sự hình thành những liên minh độc quyền quốc tể của tưbản; 5) Các cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất phân chia lãnh thổ thếgiới Đồng thời, V.I.Lênin chỉ ra rằng, bản chất kinh tế của chủ nghĩa đếquốc là chủ nghĩa tư bản ăn bám, thối nát Sự phát triển của xã hội hóa sảnxuất trong chủ nghĩa đế quốc làm cho những quan hệ kinh tế tư nhân vànhững quan hệ tư hữu, với tư cách là một cái vỏ, không còn phù hợp vóinội dung của nó nữa; cái vỏ đó, dù cho người ta có dùng cách giả tạo để
Trang 16làm cho nó chậm bị tiêu diệt, thì nó cũng không tránh khỏi thối nát; cái vỏ
đó có thể ở trạng thái thối nát tương đối lâu (trong trường hợp xấu, nghĩa
là nếu cái nhọt cơ hội chủ nghĩa phải lâu ngày mới chữa được), nhưng nó
sẽ không tránh khỏi bị tiêu diệt
Ở một khía cạnh quan trọng khác, thông qua tổng kết thực tiễn nướcNga sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đã xây dựng lý luận khoa họccho kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và về chủnghĩa xã hội với tư cách là giai đoạn thấp của phương thức sản xuất cộngsản chủ nghĩa
Từ sự phát triển quan điểm của C.Mác về sự hình thành và phát triểncủa chủ nghĩa cộng sản, V.I.Lênin không những luận giải rõ hơn tính tấtyếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản giai đoạn thấp -chủ nghĩa xã hội, mà còn chỉ ra đặc điểm nổi bật nhất của thời kỳ này.V.I.Lênin khẳng định: “Ve lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữachủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định.Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của
cả hai kểt cấu kinh tế - xã hội ấy Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lạikhông phải là một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết
và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa chủnghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và chủ nghĩa cộngsản đã phát sinh nhung vẫn còn rất non yếu”II
Đồng thời, V.I.Lênin cũng chỉ rõ, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là thời kỳ vô cùng khó khăn, phức tạp và có thể rất lâu dài
Ông viết: “Mục đích của giai cấp vô sản là thiết lập chủ nghĩa xã hội, xóa
bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biển tất cả những thành viên trong
xã hội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của mọi tình hạng người bóclột người Mục đích đó, người ta không thể đạt ngay tức khắc được; muốnthế, cần phải có một thòi kỳ quá độ khá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa xã hội, vì cải tổ sản xuất là việc khó khăn, vì cần phải có thời gian
II V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.39, tr.3O9-310.
Trang 17mới thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của cuộcsông, và vì phải trải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thểthắng được sức mạnh to lớn của thói quen quản lý theo kiểu tiểu tư sản và
tư sản”1
Bên cạnh đó, với nhãn quan lịch sử thế giới, V.I.Lênin cho rằng sựphát triển của từng dân tộc trong khi tuân thủ tính quy luật chung, khôngloại trừ một số giai đoạn phát triển mang những đặc thù, những kiểu pháttriển đặc thù Đối vói một nước kém phát triển mà thực hiện quá độ lênchủ nghĩa xã hội thì việc thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần trong thời
kỳ quá độ đó là tất yếu khách quan Theo V.I.Lênin: “Vậy thì danh từ quá
độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tể, có phải nó có nghĩa là trong chế
độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủnghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận làcó”III IV
Với ý nghĩa như vậy, để tận dụng cơ hội phát triển, phải vận dụngsáng tạo tính quy luật chung vào hoàn cảnh đặc thù của từng dân tộc trongquá trình đi lên chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin chỉ rõ: “Nhiệm vụ của nhữngngười cộng sản là phải biết áp dụng những nguyên tắc phổ biến và cơ bản
của chủ nghĩa cộng sản vào đặc điểm của những mối quan hệ giữa các giai cấp và các đảng, vào đặc điểm của sự phát triển khách quan hướng tới chủ
nghĩa cộng sản, những đặc điểm riêng của mỗi nước, mà chúng ta phải biếtnghiên cứu, phát hiện và dự đoán”1
Ngoài ra, kể thừa chủ nghĩa Mác và trên cơ sở kết quả nghiên cứu vềchủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin đãphát hiện ra và luận giải rố về quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa
tư bản trong thời kỳ thống trị của tư bản tài chính, từ đó đã phát triển sángtạo lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác và khẳng địnhrằng, cách mạng vô sản có thể thắng lợi đầu tiên ở một nướcV Từ đó,V.I.Lênin khẳng định, các dân tộc lạc hậu có thể đi lên chủ nghĩa xã hội
III V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.38, tr.464.
IV V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.43, tr.248.
V 1,3 V.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.41, tr.93, 295.
Trang 18mà không phải chờ tới khi chủ nghĩa tư bản phát triển, đồng thời cũng chỉ
ra những điều kiện để có thể thực hiện bước quá độ đó Theo V.I.Lênin:
“Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu cóthể tiến tới chế độ xôviết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiếntới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa”VI
Tuy nhiên, đó chỉ là điều kiện bên ngoài Để bảo đảm cho chủ nghĩa
xã hội thắng lợi tại các dân tộc chưa qua phát triển tư bản chủ nghĩa, cácđiều kiện bên trong mởi có tính quyết định “Nếu như để xây dựng chủnghĩa xã hội cần phải đạt tới một trình độ văn hóa nhất định (tuy nhiên,chưa ai có thể nói chắc được “trinh độ văn hóa” nhất định đó là thế nào, vìtrong mỗi nứớc ở Tây Âu, trình độ đó có khác nhau), thì tại sao chúng talại không thể bắt đầu trước hết từ việc giành lấy những điều kiện tiênquyết cho trình độ nhất định đó bằng con đường cách mạng để về sau, nhờ
có một chính quyền công nông, nhờ có chế độ xôviết, mà tiến lên và đuổikịp những dân tộc khác?”VII
Đồng thời, V.LLênin cũng chỉ rõ: “Điều kiện chủ yếu bảo đảm việcchuyển sang con đường phát triển phi tư bản chủ nghĩa là việc tăng cườngcông tác của đẳng nhân dân cách mạng và của chỉnh phủ nhân dân cáchmạng để nhờ kết quả của công tác ấy và của sự tăng cường ảnh hưởng củađảng và chính quyền mà các hợp tác xã sẽ lớn mạnh lên, các hình thức mới
về kinh doanh và văn hóa dân tộc sẽ được áp dụng, đế tầng lóp nông dâna-rát đoàn kết lại xung quanh đảng và chính phủ vì sự phát triển về kinh tế
và văn hóa của đất nước Chính chỉ từ những đảo nhỏ của cơ cấu kinh tếmới được thành lập dưới ảnh hưởng của đảng và chính phủ mà hình thànhlên hệ thống kinh tế mới phi tư bản chủ nghĩa của nước Mông-cổ a-rát”1
Đổ xây dụng thành công chủ nghĩa xã hội cân phải tạo ra những cơ
sở chủ yếu của chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ Những cơ sở chủyếu của chủ nghĩa xã hội với tư cách là chế độ kinh tế - xã hội cao hơn chủ
VI 2 Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, t.30, tr.173.
VII V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.45, tr.433.
Trang 19nghĩa tư bản được thể hiện cả trên phương diện lực lượng sản xuất cũngnhư quan hệ sản xuất.
Thứ nhất, về lực lượng sản xuất, chủ nghĩa xã hội cần có cơ sở vật
chất - kỹ thuật và người lao động với trình độ có khả năng tạo ra năng suấtlao động cao hơn so với chủ nghĩa tư bản Do đó, nhiệm vụ về phát triểnlực lượng sản xuất lên tầm cao mới là vô cùng quan trọng V.I.Lênin chỉrõ: “Không có kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩa được xây dựng trên nhữngphát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có một tổ chức nhà nước
có kế hoạch khiến cho hàng chục triệu người phải tuân theo hết sứcnghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất và phânphối sản phẩm, thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”VIII IX Muốnvậy, V.I.Lênin khẳng định: “Người cộng sản không được sợ “học” cácchuyên gia tư sản, kể cả những thương gia, những nhà tư bản nhỏ tham giahọp tác xã và các nhà tư bản khác Hãy làm tốt hơn các chuyên gia tư sảnlàm việc bên cạnh mình; hãy biết dùng cách này hay cách khác mà đẩymạnh nông nghiệp, công nghiệp lên, mà phát triển sự trao đổi giữa nôngnghiệp và công nghiệp Chớ nên suy tính về “học phí”, chớ có sợ phải trảđắt, miễn là thu được kết quả tốt”1
Thứ haỉ, về quan hệ sản xuất Trong điều kiện nền kinh tế quá độ là
nền kinh tế nhiều thành phần, V.LLênin khẳng định: “Không thể quá độtrực tiếp lên chủ nghĩa xã hội mà phải qua con đường gián tiếp, không thể
“quá vội vàng, thẳng tuột, không được chuẩn bị”X Xây dựng quan hệ sảnxuất mới thông qua con đường gián tiếp là chủ nghĩa tư bản nhà nước.V.LLênin chỉ rõ: “Để chuẩn bị việc chuyển sang chủ nghĩa cộng sản, thìcần thiết phải có một loạt những bước quá độ như chủ nghĩa tư bản nhànước và chủ nghĩa xã hội”XI
Bước quá độ thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước được thể hiệntrong chính sách kinh tể mới mà việc trao đổi hàng hóa được coi là “đòn
VIII V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, t.44, tr.288-289.
IX V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quổc gia Sự thật, H.2005, t.43, tr.253.
X’ 4 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.43, tr.295, 445, 400.
XI V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, t.44, tr.189.
Trang 20xeo chủ yếu”XII, trong đó, cần thiết phải có sự nhượng bộ tạm thời và cục
bộ đối với chủ nghĩa tư bản nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất,từng bước xã hội hóa sản xuất trong thực tế V.I.Lênin cũng chỉ ra một sốhình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước như: tô nhượng, hợp tác xã, đại lý,cho thuê xí nghiệp, khu mỏ, rùng núi
Trong xây dựng quan hệ sản xuất mới, V.I.Lênin đặc biệt chú trọngcông tác quản lý Ông viết: “Từ chủ nghĩa tư bản tiểu tư sản đi đển chủnghĩa tư bản nhà nước với quy mô lớn cũng như đi đến chủ nghĩa xã hội,
đều trải qua cùng một con đường, thông qua cùng một cái trạm trung gian,
đó là “sự kiểm kê và kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phốisản phẩm” Ai không hiểu được điểm ấy thì người đó sẽ mắc phải sai lầmkhông thể tha thứ được trên vấn đề kinh tế, hoặc là không biết tình hìnhthực tế, không nhìn thấy sự vật hiện có, không biết nhìn thẳng vào sự thật,hoặc là chỉ tự hạn chế ở chỗ đem “chủ nghĩa tư bản” đối lập một cách trừutượng với “chủ nghĩa xã hội”, chứ không nghiên cứu những hình thức cụthể và các giai đoạn của sự quá độ ấy trong lúc này ở nước ta”1 Đê bảođảm thành công của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.LLênin đặcbiệt coi trọng việc cải tổ bộ máy nhà nướcXIII XIV
Những cống hiến của V.I.Lênin cho sự phát triển của kinh tế chínhtrị của C.Mác là hết sức vĩ đại Với vai trò đó, ở Việt Nam, kỉnh tế chínhtrị được hiểu là kinh tế chính trị Mác-Lênin
Sau V.LLênin, kể từ thập niên 30 đến cuối thập niên 80 của thế kỷ
XX, kinh tế chính trị mácxít chủ yếu được luận giải, bổ sung bởi các nhà
lý luận của Liên Xô Những nội dung chủ yêu của thời kỳ hày bao gồm:kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; kinh tế chínhtrị về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong đó,trọng tâm là các khía cạnh như: sản xuất trong chủ nghĩa xã hội; vấn đềnâng cao hiệu quả của sản xuất xã hội thông qua tính kế hoạch; vai trò củanhà nước và các công cụ quản lý kinh tế; vấn đề kế hoạch hóa, hạch toánXII 5 Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.43, tr.270-274 XIII V.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.43, tr.254.
XIV Xem V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.45, tr.442.
Trang 21kinh tế, cơ chê kinh tế, tài chính, tín dụng; về chủ nghĩa tư bản hiện đại và
sự biến đổi của chủ nghĩa tư bản hiện đại
Ở Việt Nam, trong thời kỳ trước đổi mới, kinh tế chính trị chủ yếu kếthừa những kết quả nghiên cứu của các học giả kinh tế chính trị Xôviết về
cơ bản, nội dung của kinh tế chính trị gồm hai phần: phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong đó, mục tiêu nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản hướng mạnh vàolàm rõ bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, luận giảicho việc nhanh chóng xóa bỏ các quan hệ hảng hóa tiền tệ, xóa bỏ sở hữu
tư nhân, xóa bỏ các quan hệ thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Trong nghiên cứu về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với mongmuốn nhanh chóng kết thúc thời kỳ quá độ, các công trình nghiên cứucũng như các bài giảng kinh tế chính trị đã thiếu chú ý đúng mức tới cácyếu tố khách quan và đặc thù của bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam Vì vậy, kinh té chính trị thời kỳ này, mặc dù có giá trị rất to lớn vềmặt lịch sử, song chưa tạo lập được cơ sở khoa học lý luận kinh tế chínhtrị vững chắc cho việc bỏ qua chể độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
Bước sang thời kỳ đổi mới, kể từ năm 1986 tới nay, tư duy đổi mới
đã thể hiện rõ nét trong sự phát triển của kinh tế chính trị ở Việt Nam Mặc
dù nội dung vẫn gồm hai phần: về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
và về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, song trong từng nộidung đã có sự đổi mới và phát triển không ngừng
Nội dung của kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa, một mặt vẫn tiếp tục tập trung tổng kết làm rõ hơn bản chất vànhững biểu hiện mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mặt khác trên
cơ sở đó góp phần luận chúng rõ hơn cho con đường đi lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam Nhờ đó, vẫn tiếp tục bảo vệ, củng cố và phát triển nhữngquan điểm tư tưởng nền tảng về kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Mác-Lênin Bên cạnh đó, kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa còn hướng vào làm rõ những thành tựu văn minh mà nhân loại đã
Trang 22đạt được trong chủ nghĩa tư bản để có thể kế thừa, vận dụng vào quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là tính quy luật, điều kiệnhình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường.
Trong nội dung của kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, đã từng bước khắc phục sự chủ quan duy ý chí và sự
kế thừa máy móc trong nghiên cứu Do đó, bên cạnh việc tiếp tục đào sâunghiên cứu về những tính quy luật chung của con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội, trong nghiên cứu về kinh tế chính trị ở nước ta, kinh tế chính trịMác-Lênin đã chú trọng nhiều hơn tới đặc thù bối cảnh lịch sử cụ thể củadân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa Nhờ sự đổi mới tư duy lý luận đó, kinh tế chính trị Mác-Lênin đãtừng bước xác định và luận giải rõ hơn những vấn đề kinh tế chính trị cốtlõi như về lộ trình, bước đi, thực chất con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chê độ tư bản chủ nghĩa, cụ thể hóa các vấn đề về sở hữu, thànhphần kinh te, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các công cụ màNhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể và cần phải sử dụng để điềutiết phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, đã bước đầu tạo lập và phát triển cơ
sở khoa học về kinh tế chính trị học cho việc hoạch định các chủ trương,đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổimới
1.2 Vị trí, vai trò của kỉnh tế chính trị Mác-Lênin trong nền tăng tư tưởng của Đăng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rènluyện trong đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam Kể từ khi thànhlập đến nay, “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minhlàm nền tảng tư tưởng”XV Tổng kết 35 năm đổi mới, xác định tầm nhìn vàđịnh hướng phát triển của đất nước
Trang 23trong bối cảnh mới, Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Kiênđịnh và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh”1
Theo V.I.Lênin, kinh tế chính trị là yếu tố cốt lõi trong chủ nghĩaMác: “Lý luận của Mác được chứng minh và được vận dụng sâu sắc nhất,toàn diện nhất và tỉ mỉ nhất trong học thuyết kinh tế của ông”XVI XVII, “nộidung chủ yếu của chủ nghĩa Mác, tức là học thuyết kinh tể của Mác”XVIII,
“Nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và suy tàn của những quan hệ sảnxuất của một xã hội nhất định trong lịch sử, đó là nội dung của học thuyếtkinh tế của Mác”XIX, “Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của họcthuyết kinh tế của Mác”5 Chính nhờ sự xuất hiện của học thuyết giá trịthặng dư của C.Mác mà chủ nghĩa xã hội không tưởng đã trở thành khoahọc V.I.Lênin luôn nhấn mạnh: “Mác hoàn toàn dựa vào và chỉ dựa vàonhững quy luật kinh tế của sự vận động của xã hội hiện đại mà kết luậnrằng xã hội tư bản chủ nghĩa nhất định sẽ phải chuyển biến thành xã hội xãhội chủ nghĩa Việc xã hội hóa lao động - ngày càng tiến nhanh thêm dướimuôn vàn hình thức, và trong nửa thế kỷ vừa qua, kể từ khi Mác mất, - đãbiểu hiện đặc biệt rõ ràng ở sự phát triển của đại công nghiệp, của nhữngcác-ten, xanh-đi-ca, tơ-rớt tư bản chủ nghĩa và cả ở sự phát triển ghê gớmcủa quy mô và thế lực tư bản tài chính, đấy là cơ sở vật chất chủ yếu cho
sự ra đời không thể tránh khỏi của chủ nghĩa xã hội”6; “Chỉ có học thuyếtkinh tế của Mác là đã giải thích được địa vị thực sự của giai cấp vô sảntrong toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa”7 Theo quan điểm của V.I.Lênin:
“trong xã hội hiện nay, kinh tế chính trị học cũng là một khoa học
XVI 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc ỉần thứ XỈĨỈ,
Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr.109.
XVII 3,4, 6 v.LLênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, t.26, tr.71, 60,
XVIII72, 86.
XIX 5í 7 V.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.23, tr.55, 58.
Trang 24có tỉnh đảng, giống như nhận thức luận vậy”XX.
Với ý nghĩa đó, ở Việt Nam, kể từ khi được Chủ tịch Hồ Chí Minhthành lập, Đàng Cộng sản Việt Nam đã hết sức coi trọng chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và kinh tế chính trị Mác-Lênin nói riêng
Cùng với triết học Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tếchính trị Mác-Lênin đã là nền tảng lý luận cho các vấn đề kinh tế trongsuốt tiến trình cách mạng, trong việc nghiên cứu những vấn đề kinh té cơbản của quốc tế và trong nước, phục vụ việc hoạch định đường lối, chínhsách kinh tế của Đảng Kinh tế chính trị Mác-Lênin đã góp phần là cơ sở
lý luận quan trọng đặc biệt của những thắng lợi to lớn trong từng giai đoạnlịch sử cách mạng của đất nước
Những thắng lợi to lớn về kinh tế của dân tộc Việt Nam từ khi cóĐảng lãnh đạo đến nay là kết quả cụ thể của sự vận dụng sáng tạo nhữngtri thức cốt lõi của kinh tế chính trị Mác-Lênin vào từng bối cảnh lịch sử
cụ thể Kinh tế chính trị Mác-Lênin đã gổp phần làm sáng tỏ bản chất củacác vấn đề kinh tế cơ bản, tìm ra phương pháp phù hợp với yêu cầu củacách mạng Những thăng lợi to lớn trong công cuộc giành và giữ chínhquyền, đổi mới tư duy phát triển đất nước trong bối cảnh mới của thời đại
và đất nước đều có sự đóng góp vô cùng quan trọng của khoa học kinh tếchính trị Mác-Lênin ở Việt Nam
2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu CỦA KINH TẾ CHÍNHTRỊ MÁC-LÊNIN
2.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác-Lênin
Trong tiến trình hình thành và phát triển, tùỵ theo bối cảnh lịch sử,nhãn quan chính trị, lợi ích và mục đích nghiên cứu cụ thể, đã có nhữngquan niệm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị
Các nhà kinh tế trọng thương chủ nghĩa coi lĩnh vực lưu thông là đốitượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Trong khi đó, kinh tế chính trị
XX V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005,1.18, tr.425.
1,2 Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H 2002, t.20, tr
207,207-209.
Trang 25trọng nông chủ nghĩa lại lấy sản xuất nông nghiệp là đối tượng nghiêncứu Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh xuất phát từ sản xuất nói chung.Đến lượt mình, kinh tế tư sản hậu cổ điển lại xem nguyên nhân của nhữngbất ổn của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa từ lĩnh vực nhân khẩu,phân phối, tiêu dùng; các nhà kinh tế chính trị tiểu tư sản coi phúc lọi vậtchất của con người là đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở tổng kết những kết quả nghiên cứu của các trường pháikinh tế chính tĩị học trước đó, vận dụng quan niệm duy vật về lịch sử,C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định đổi tượng nghiên cứu của kinh tế chínhtrị học như sau:
Theo Ph.Ăngghen, kinh tế chính trị theo nghĩa rộng là khoa học vềnhững quy luật chi phối sự sản xuất và trao đổi tư liệu sinh hoạt vật chấttrong xã hội loài người Những điều kiện trong đó người ta sản xuất sảnphẩm và trao đổi chứng, đều thay đổi tùy từng nước và trong mỗi nước lạithay đổi tùy từng thế hệ1
Bởi vậy, xét về biểu hiện, không thể có cùng một môn kinh tê chính
tộ duy nhất cho tất cả mọi nước và tất cả mọi thời đại lịch sử được Kinh tếchính trị là môn khoa học có tính chất lịch sử Nó nghiên cứu tư liệu cótính chất lịch sử, nghĩa là một tư liệu luôn luôn thay đổi, nó nghiên cứu
trước hết là những quy luật đặc thù của từng giai đoạn phát triển của sản
xuất và trao đổi Chỉ sau khi nghiên cứu như thế rồi, nó mới có thể xác
định một vài quy luật hoàn toàn có tính chất chung, thích dụng nói chungcho sản xuất và trao đổi2
Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ, phương thức phân phối sản phẩm cũng phụthuộc vào phương thức sản xuất và trao đổi của một xã hội nhất định tronglịch sử, vào những tiền đề lịch sử của xã hội đó Tuy vậy, phân phối khôngchỉ đơn thuần là một kết quả thụ động của sản xuất và hao đổi, nó cũng tácđộng trở lại sản xuất và trao đổi, đòi hỏi một sự phân phối tương ứngthông qua một cuộc đấu tranh lâu dài Sự phát triển của sản xuất và traođổi làm nảy sinh mâu thuẫn trong phân phối, việc giải quyết những mâu
Trang 26thuẫn đó sẽ đẩy phương thức sản xuất hiện tồn đi đến tan rã và được thaythế bằng một phương thức sản xuất mới.
Theo nghĩa hẹp, trong bộ Tư bản, C.Mác đã xác định: Đối tượng nghiên cứu là phương thức sản xuẩt tư bản chủ nghĩa và những quan hệ
sản xuất và trao đổi thích ứng với phương thức ẩy, còn mục đích cuối
cùng của tác phẩm này là tìm ra quy luật vận động kinh tế của xã hội hiệnđại1
Trên cơ sở kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen,V.I.I.Lênin quan niệm: “Chính trị kinh tế học tuyệt nhiên không nghiêncứu “sự sản xuất”, mà nghiên cứu những quan hệ xã hội giữa người vớingười trong sản xuất, nghiên cứu chê độ xã hội của sản xuất”XXI XXII.V.I.Lênin giải thích thêm: “Mác đã xây dựng tư tưởng cơ bản đó bằngcách nào? Bằng cách là trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội,ông đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế, bằng cách là trong tất cả mọi
quan hệ xã hội ông đã làm nổi bật riêng những quan hệ sản xuất, coi đó là
những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ khác”XXIII.Bên cạnh đó, V.I.Lênin còn nhấn mạnh thêm: kinh tể chính trị
“là khoa học nghiên cứu những quan hệ xã hội của sản xuất và của phân
phốỉ trong quá trinh phát triển của những quan hệ đó”1 và bản chất đốitượng của khoa kinh tế chính trị không phải là “sự sản xuất ra những giátrị vật chất”, như người ta thường nói (đó là đối tượng của công nghệ học),
mà là những quan hệ xã hội giữa người ta trong sản xuất”XXIV XXV
về nội dung của một cuốn giáo trình kinh tế chính trị, theo V.I.Lênin:
“Tất cả nhiệm vụ của một cuốn giáo khoa chính trị kinh tế học là nhằm
mang lại cho người nghiên cứu môn khoa học này những khải niệm cơ
bản về các chế độ kinh tế xã hội khác nhau và về những đặc điểm căn bản
XXI Xem C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.23,
tr.20-24.
XXII V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.3, tr.58.
XXIII V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.l, tr.i59.
XXIV 1,3 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chúih trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.4, tr.47,49.
XXV V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.2, tr.237.
Trang 27của mỗi chế độ đỏ', tất cả nhiệm vụ của nó là phải làm thế nào cho người
đã lĩnh hội quyển sách giáo khoa sơ cấp, có được một kim chỉ nam chắcchắn để tiếp tục nghiên cứu môn này, và thấy có hứng thú trong việcnghiên cứu ấy khi đã hiểu rằng những vấn đề quan trọng nhất của đời sống
xã hội hiện đại là gắn liền một cách trực tiếp nhất với những vấn đề củakhoa học kinh tế”3
Với V.LLênin: “Những kết luận mà việc nghiên cứu khoa kinh tếchính trị đã dẫn tôi đến, có thể nói gọn lại như sau Trong sản xuất vật
chất, con người ở trong những mối quan hệ nhất định với nhau, những
quan hệ sản xuất Những quan hệ này bao giờ cũng phù hợp với trình độ
phát triển của năng suất mà những lực lượng kinh tế của các quan hệ ấy cóđược trong thời kỳ đó Toàn bộ những quan hệ sản xuất đó tạo thành cơcấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó xây dựng lên mộtkiến trúc thượng tầng chính trị và pháp lý và phù hợp với cơ sở đó lànhững hình thức ý thức xã hội nhất định Như vậy, phương thức sản xuấtquyết định các quá trình của đời sổng xã hội, chính trị và thuần túy tinhthần Sự tồn tại của quá trình ấy không những không phụ thuộc vào ý thứccủa con người, mà trái lại chính bản thân ý thức của con người lại phụthuộc vào những quá trình ấy Nhưng khi năng suất của lực lượng sản xuấtphát triển đến một mức độ nhất định thì những lực lượng đó xung đột vớinhững quan hệ sản xuất giữa người ta với nhau Do đó chúng bắt đầu mâuthuẫn với chính sự biểu hiện pháp lý của các quan hệ sản xuất, tức là vớichế độ sở hữu Lúc ấy các quan hệ sản xuất không còn phù hợp với năngsuất nữa và bắt đâu kìm hãm năng suất Do đó, xuất hiện một thời kỳ cáchmạng xã hội”1
Vì lẽ đó, V.LLênin nhấn mạnh: “chỉ có đem quy những quan hệ xãhội vào những quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vàotrình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sởvững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là mộtquá trình lịch sử - tự nhiên”XXVI; “tuy rằng Mác chỉ dùng độc có những XXVI1,2, 3 v.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.l, tr.160, 163,
Trang 28quan hệ sản xuất để giải thích cơ cấu và sự phát triển của một hình thái xã
hội nhất định, song ở mọi nơi và mọi lúp, ông đều phân tích những kiếntrúc thượng tầng tương ứng với những quan hệ sản xuất ấy, và đã thêmthịt, thêm da cho cái sườn đó”XXVII; “sự phát triển của xã hội loài người là
do sự phát triển của những lực lượng vật chất, sản xuất quyết định Quan
hệ giữa người với nhau trong việc sản xuất những vật phẩm cần thiết đểthỏa mãn nhu cầu của con người là do sự phát triển của lực lượng sản xuấtquyết định Và chính những quan hệ ấy giải thích tất cả những hiện tượngcủa đời sống xã hội, những nguyện vọng, tư tưởng và luật pháp của conngười”XXVIII
Sau V.I.Lênin, đã từng có những tranh luận về kinh tế chính trị theonghĩa rộng và nghĩa hẹp Có ý kiến cho rằng, kinh tế chính trị chỉ nghiêncứu quan hệ sản xuất trong các chế độ kinh tê - xã hội trước chủ nghĩa xãhội, còn kinh tế chính trị của chủ nghĩa xã hội phải tập trung nghiên cứu sự
tổ chức lực lượng sản xuất hợp lý và kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân doquan hệ sản xuất trong chủ nghĩa xã hội không còn là yếu tố cản trở sựphát triển của lực lượng sản xuất I.V.Stalin không đồng tình với quanđiểm kinh tế chính trị chỉ tập trung nghiên cứu tổ chức lực lượng sản xuất,ông cho rằng: Kể cả trong chủ nghĩa xã hội, những quan hệ sản xuất lỗithời vẫn trở thành yéu tố cản trở lực lượng sản xuất phát triển, động lựccủa phát triển lực lượng sản xuất là những quan hệ sản xuất đã được đổimới I.v Stalin khẳng định: Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị củachủ nghĩa xã hội vẫn là quan hệ sản xuất chứ không phải là lực lượng sảnxuất hoặc chính sách kinh tế của nhà nước Đồng thời, theo I.V.Stalin:Quan hệ sản xuất có kết cấu gồm các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, vịthê của các nhóm xã hội khác nhau trong sản xuất và mối quan hệ giữa họxuất phát từ quan hệ sở hữu, các hình thức phân phối sản phẩm xuất phát
từ những quan hệ sở hữu và tổ chức quản lý đóXXIX
XXVII164-165.
XXVIII V.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.2, tr.6-7.
XXIX MFY: BceMnpHaa HCTopna 9KOHOMĩ!HecKon MLICJIU PĨ3đ Mbicjib,
MocKBa, K H I, http://www.booksite.rU/fulltext/oie/niys/ly/3 htm#l 3, 1997.
Trang 29Sau I.V.Stalin, hầu hết các nhà kinh tế của Liên Xô đều coi quan hệsản xuất trong mối quan hệ biện chứng với lực lượng sản xuất, kiến trúcthượng tầng và các quy luật kinh tế là đối tượng nghiên cứu của kinh tếchính trị, trong đó quan hệ sản xuất được hiểu là hệ thống quan hệ kinh tế -
xã hội được hình thành trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêudùng của cải vật chất
Như vậy, khái quát lại, khoa học kinh tế chính trị Mác-Lênin có thểđược tiếp cận theo nghĩa rộng cũng có thể tiếp cận theo nghĩa hẹp Tiếpcận theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị Mác-Lênin là khoa học nghiên cứucác quan hệ xã hội của sản xuất (bao hàm sản xuất, trao đổi, lưu thông,phân phối) ứng với một phương thức sản xuất nhất định Trong trường họpnày, mục đích nghiên cứu là nhằm vạch rõ bản chất, quy luật và xu hướngvận động của phưong thức sản xuất đó Tiếp cận theo nghĩa rộng, kinh têchính trị Mác- Lênin nghiên cứu các quan hệ xã hội của sản xuất của cácphưong thức sản xuất khác nhau Trong trường hợp này, mục đích nghiêncứu nhằm vạch rõ các quy luật chi phối sự sán xuất, phân phối, trao đổi,tiêu dùng của cải xã hội trong xã hội loài người
Điểm cần nhấn mạnh thêm, dù là tiếp cận theo nghĩa hẹp hay nghĩarộng thi kinh tế chính trị Mác-Lênin không nghiên cứu mặt kỹ thuật củasản xuất Kinh tế chính trị Mác-Lênin trọng tâm nghiên cứu các quan hệ xãhội trong sản xuất của con người Các quan hệ xã hội trong sản xuất củacon người bao gồm bộ phận nòng cốt có vai trò chi phối các quan hệ khác
xã hội khác - quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý,quan hệ phân phối sản phẩm - thu nhập của sản xuất) Bên cạnh đó, quan
hệ xã hội của sản xuất còn bao hàm các quan hệ trong trao đổi, lưu thông,các quan hệ thể chế khác tác động tới sản xuất Bởi lẽ, sản xuất không thểkhông gắn với lưu thông, càng không thể không gắn với các điều kiệnchính tộ - xã hội và thể chế khác Trên thực tế, các quan hệ đó luôn có mốiquan hệ biện chứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúcthượng tầng tương ứng
Trang 30Cho nên, khái quát lại, trong giáo trình này, đối tượng nghiên cứu của
kinh tế chính trị Mác-Lênin được tiếp cận theo nghĩa hẹp Theo đó, đổi
tượng nghiên cứu của kinh tế chỉnh trị Mác-Lênỉn là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi ưong mối quan hệ biện chứng với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất.
Theo nghĩa như vậy, trong giáo trình này, đối tượng nghiên cứu củakinh tế chính trị Mác-Lênin là chế độ xã hội của sản xuất (như quan niệmcủa V.I.Lênin) Nội hàm này là sự cụ thể hóa quan điểm của C.Mác về đốitượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Bởi lẽ, theo C.Mác, như trên đã đề
cập, khi viết bộ Tư bản, C.Mác khẳng định: Đối tượng nghiên cứu là
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất, traođổi thích ứng với phương thức ấy Ở đây, khía cạnh những quan hệ traođổi cân phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, tức là bao hàm cả các quan
hệ của quá trình lưu thông, phân phối
Khi đề cập tới nội hàm trong mối quan hệ với lực lượng sản xuất,
kinh tế chính trị Mác-Lênin không nghiên cứu bản thân các yếu tố cẩuthành của lực lượng sản xuất mà nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữaphát triển lực lượng sản xuất và sự biến đổi, phát triển của quan hệ sảnxuất Việc nghiên cứu này nhằm tìm ra những thành tố, những bộ phậntròng quan hệ sản xuất đang kìm hãm hoặc thúc đẩy lực lượng sản xuất
Đê từ đó, hướng tới việc tháo gỡ những yếu tố kìm hãm và phát huy cácyêu tố thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thông qua đó mà thúc đẩy sựphồn vinh của xã hội
Khi đề cập tới nội hàm trong mối quan hệ với kiến trúc thượng tầng,
kinh tế chính tri Mác-Lênin cũng không nghiên cứu toàn bộ kiến trúcthượng tầng mà quan tâm đến quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuấtvới kiến trúc thượng tầng, trong đó chú trọng quan hệ tác động của các bộphận của kiến trúc thượng tầng như thể chế chính trị, pháp luật đến sảnxuất Việc nghiên cứu này nhằm tìm ra những nhân tố đang cản trở sự pháttriển của các quan hệ xã hội của sản xuất, hay những nhân tố thể chế nào
Trang 31của kiến trúc thượng tầng đang kìm hãm sự phát triển của các quan hệ sản
xuất Từ đó mà xác định các phương thức tháo gỡ những yếu tố cản trở sản
đó, xác lập các quan hệ lợi ích và giải quyết hài hòa các quan hệ lợi íchtròng quá trình phát hiển, thông qua các quá trình này mà thúc đẩy sự phồnvinh của xã hội
Quy luật kinh tế biểu hiện mối liên hệ bản chất, thường xuyên, lặp đilặp lại và sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các hiện tượng và quá trình kinh tế.Các quy luật kinh tế có tính khách quan, không lệ thuộc vào ý chí và nhậnthức của con người Khác với quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế là quyluật hoạt động xã hội của con người, nó chỉ xuất hiện trong quá trình hoạtđộng kinh tế của con người Có những quy luật kinh tế tồn tại trong mọiphương thức sản xuất, gọi là quy luật chung, như quy luật về sự phù hợpgiữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật tiếtkiệm thời gian, quy luật nâng cao nhu cầu Có những quy luật kinh tế chỉ
có tác dụng trong một số hình thái kinh tế - xã hội nhất định như quy luậtgiá trị, quy luật lưu thông tiền tệ,., đó là những quỷ luật đặc biệt chung chomột số phương thức sản xuất nhất định Do các quan hệ sản xuất biến đổicùng sự tiên triển của lực lượng sản xuất, nên đa số các quy luật kinh tếbiểu hiện bản chất của quan hệ sản xuất chỉ tồn tại và tác động trong phạm
vi một phương thức sản xuất nhất định, gọi là các quy luật kinh tế đặc thù
Cần chú ý rằng, quy luật kinh tế và chính sách kinh tế là hai vấn đềkhác nhau Chính sách kinh tế là những tác động của nhà nước tới nền
Trang 32kinh tế trong những điều kiện cụ thể của một quốc gia Nó là một kháiniệm thuộc hoạt động chủ quan của nhà nước Chính sách kinh tế đúngnghĩa là kết quả của sự nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế Khitình hình kinh tế thay đổi thì chính sách kinh tế cũng thay đổi theo Nó cóthể được nhà nước sửa đổi và hoàn thiện sau khi đã ban hành.
Nghiên cửu kinh tế chính trị Mác-Lênin không đồng nhất vởi nghiêncứu chính sách kinh tế nói riêng và thể chế kinh tế nói chung Nhưng, việcxây dựng và ban hành các chính sách kinh tế, hoàn thiện các thể chế kinh
té đòi hỏi phải dựa trên cơ sở khoa học của kinh tế chính trị Bởi lẽ, suycho cùng, chính sách kinh té hay thể chế kinh tế nhằm giải quyết các quan
hệ lợi ích trong xã hội, tháo gỡ những điểm nghẽn để giải phóng nguồn lực
và động lực để thúc đẩy sản xuất phát triển Muốn vậy, các chính sáchkinh te, thể chế kinh tế phải xuất phát từ bản chất, từ quy luật chi phối cácquan hệ kinh tế ấy thì mới có thể đi vào thực tế đời sống xã hội Cơ sở đóchi có thể được vạch ra bởi khoa học kinh tế chính trị
2.2 Phương pháp nghiên cửu của kỉnh tế chính trị Mác-Lênỉn
Phương pháp luận cho việc nghiên cứu của kinh tế chính trị Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ápdụng phép biện chứng duy vật vào nghiên cửu kinh tế chính trị, theoV.LLênin là phải “coi xã hội là một cơ thể sổng đang phát triển khôngngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành một cách máy móc và
Mác-do đó, cho phép có thể tùy ý phối hợp câc yếu tố xã hội như thế nào cũngđược), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một cáchkhách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhấtđịnh, và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển củahình thái xã hội đó”XXX
Việc áp dụng phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu kinh tế chínhtrị không những cho phép làm rõ bản chất của các hiện tượng, quá trìnhkinh tế, các quy luật chi phối sự vận động, phát triển của từng hình thái xã
XXX V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005,1.1, ừ 198.
Trang 33hội của sản xuất xã hội, mà còn giúp nhận thức được mối liên hệ có tính hệthống giữa yếu tố, quy luật của những hình thái xã hội đó Trong sự khácbiệt với cách tiếp cận hệ thống của kinh tế học, kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành của hệ thống kinh
tế luôn hướng tới làm rõ vị trí, vai trò của tùng yếu tố trong hệ thống vàđặc biệt là tìm ra yếu tố hạt nhân, có sức mạnh chi phối toàn bộ hệ thống
Với tư cách là một môn khoa học xã hội, để nghiên cứu làm rõ đốitượng nghiên cứu của mình, kinh tế chính trị Mác-Lênin sử dụng cácphương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội như kết hợp phân tíchvới tổng hợp, quy nạp và diễn dịch
Phân tích là bóc tách đối tượng nghiên cứu thành nhiều thành tố theo
vị trí của nó để nghiên cứu, để hiểu từng bộ phận của đối tượng nghiêncứu Tổng hợp là từ két quả phân tích các bộ phận tổng họp lại để có thểnhận thức đầy đủ, toàn diện về sự vật, hiện tượng, tim ra bản chất, quy luậtvận động của sự vật, hiện tượng Phân tích và tổng hợp có mối quan hệchặt chẽ: phân tích mà không tổng hợp thì không tìm được bản chất sự vật;tổng hợp không dựa vào kết quả phân tích sẽ không có căn cứ thuyết phục
Quy nạp là sự suy lý từ những trường họp cá biệt đến những kết luậnchung Việc dùng quy nạp làm một phương pháp nghiên cứu nhất định gọi
là phương pháp quy nạp Điểm xuất phát của phương pháp quy nạp là sựquan sát và miêu tả một cách đúng đắn những sự việc hiện thực và hiệntượng cá biệt Diễn dịch là một phương pháp ngược lại, nó áp dụng cácnguyên lý chung, các nguyên tắc chung vào những sự việc hiện thực vàhiện tượng cá biệt Ở đây, điểm xuất phát là cái chung; từ cái chung đó,người ta nghiên cứu đi đến những trường hợp cụ thể cá biệt, cố gắng giảithích những trường hợp đó trên cơ sở các nguyên tắc chung
Tuy nhiên, khác với các môn khoa học tự nhiên, để rút ra những luậnđiểm khoa học cũa mình, kinh tế chính trị Mác-Lênin không thể tiến hànhtrong phòng thí nghiệm Cho nên, phương pháp quan trọng hàng đầu củakinh tế chính trị Mác-Lênin là trừu tượng hóa khoa học
Trang 34Trừu tượng hóa khoa học là phương pháp nghiên cứu được thực hiệnbằng cách loại ra những yếu tố đơn nhất, ngẫu nhiên, tạm thời của đốitượng nghiên cứu để tách ra những quá trinh và hiện tượng vững chắc, ổnđịnh, điển hình của đối tượng nghiên cứu Nhờ vậy mà chủ thể nghiên cứunắm được bản chất đối tượng nghiên cứu của mình Trên cơ sở đó mà kháiquát thành phạm trù và quy luật khoa học phản ánh những bản chất của đôitượng nghiên cứu ấy.
Đời sống xã hội nếu quan sát trên bề mặt thì rất nhiều vẻ phức tạp vàmâu thuẫn, được hình thành từ nhiều xu hướng và hiện tượng khác nhau,rất phong phủ đến mức từ những nhân tố riêng lẻ có thể đưa ra những kếtluận hoàn toàn trái ngược nhau, vấn đề cơ bản là, từ tổng thể những hiệntượng đó, phải vạch ra những xu hướng điển hình hiện thực của sự pháttriển xã hội Phương pháp trừu tượng hóa khoa học giúp chúng ta làm việcđó
Vấn đề quan trọng hàng đầu trong phương pháp này là giới hạn của
sự trừu tượng hỏa Việc loại bỏ những cái cụ thể nằm trên bề mặt của cuộcsống phải bảo đảm tìm ra được mối quan hệ bản chất giữa các hiện tượngdưới dạng thuần tủy của nó, đồng thời phải bảo đảm không làm mất nộidung hiện thực của các quan hệ được nghiên cứu, không được tùy tiện,loại bỏ cái không được phép loại bỏ; hoặc ngược lại, giữ lại cái đáng loại
bỏ Giới hạn trừu tượng hóa cần thiết và đầy đủ này được quy định bởichính đối tượng nghiên cứu Ví dụ: Để vạch ra bản chất của chủ nghĩa tưbản hoàn toàn có thể và cân phải trừu tượng hóa sản xuất hàng hóa nhỏ,mặc dù nó thực sự tồn tại với mức độ ít hoặc nhiều ở tất cả các nước tưbản chủ nghĩa, nhưng không được trừu tượng hóa bản thân quan hệ hànghóa - tiền tệ, bởi vì tư bản lấy quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm hình thái tồntại của mình; hon nữa, càng không được trừu tượng hóa việc chuyển hóasức lao động thành hàng hóa, bởi vì không có hàng hóa - sức lao động thìchủ nghĩa tư bản không còn là chủ nghĩa tư bản nữa
Trang 35Con đường nghiên cứu đi từ cụ thể đến trừu tượng, nhờ đó nêu lênnhững khái niệm, phạm trù và vạch ra những mối liên hệ giữa chúng phảiđược bổ sung bằng một quá trình ngược lại - đi từ trừu tượng đến cụ thể,cái cụ thể này không còn là những hiện tượng hỗn độn, ngẫu nhiên, mà làbức tranh có tính quy luật của đời sống xã hội Cần lưu ý rằng, phần đầucủa con đường nghiên cứu, tức là sự vận động của tư duy từ cụ thể đếntrừu tượng không thể hiện ra dưới mắt người đọc Trong sách giáo khoahay các tác phẩm khoa học chỉ trình bày phần thứ hai của con đườngnghiên cứu; tức là đi từ trừu tượng đến cụ thể, miêu tả hệ thống từ cơ sởchung nhất, trừu tượng nhất cùa nó đến những quá trình và hiện tượng cụthể trong hiện thực Ở đây cần đề cập đến cả những nhân tố lịch sử cụ thểlàm cho việc nghiên cứu những vấn đề lý luận tiếp cận với thực tiễn, vớihiện thực.
Phương pháp logic kết hợp chặt chẽ với phương pháp lịch sử Kinh tếchính trị không trình bày đơn thuần tiến trinh lịch sử, mô tả đơn thuần các
sự kiện lịch sử, mà căn cứ vào tiến trình phát triển của lịch sử các quan hệsản xuất, dùng phương pháp tư duy và lý luận lôgíc để vạch ra những quyluật kinh tế chi phối sự vận động của mỗi phương thức sản xuất TheoPh.Ăngghen, phương pháp nghiên cứu logic là phương pháp thích hợp duynhất, nhưng, về thực chất, phương pháp này chẳng qua cũng là phươngpháp lịch sử, có điều là đã thoát khỏi hình thái lịch sử và những hiện tượngngẫu nhiên gây trở ngại mà thôi Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tưduy cũng phải bắt đầu từ đó, và sự vận động tiếp tục của nỏ chẳng qua là
sự phản ánh lịch sử dưới một hình thái trừu tượng và nhất quán về lý luận;
nó là sự phản ánh đã được uốn nắn, những uốn nắn theo những quy luật
mà bản thân quá trình lịch sử hiện thực đã cung cấp
3 NỘI DUNG Cơ BẢN CỦA KINH TÉ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Như đã được đề cập, trong giáo trình này, kinh tế chính trị Lênin được tiếp cận theo nghĩa hẹp Hơn thế, để thiết thực đối với việcluận chứng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nội dung của
Trang 36Mác-kinh tế chính trị Mác-Lênin sẽ bao gồm hai nội dung chính: Mác-kinh tế chínhtrị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và kinh tể chính trị về thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bao gồmnhững nội dung của kinh tế chính trị về các nấc thang phát triển củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa: chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh,chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ngàynay
Kinh tê chính trị về chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, trong tính tổng
thể của nó, được C.Mác trình bày trọn vẹn, chặt chẽ trong bộ Tư bản Đây
cũng chính là lý luận căn bản về các quan hệ xã hội của sản xuất và traođổi trong nền kinh tế thị trường
Nội dung cơ bản của kinh té chính trị về chủ nghĩa tư bản tự do cạnhtranh bao gồm các phạm trù và quy luật cơ bản như: phạm trù giá trị, hànghóa sức lao động, tư bản, giá trị thặng dư, tích lũy tư bản; tuần hoàn và chuchuyển tư bản, tái sản xuất và lưu thông tư bản xã hội, lợi nhuận bìnhquân; giá cả sản xuất lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức, lợi nhuận ngânhàng, lợi tức cổ phần, địa tô tư bản chủ nghĩa; các quy luật: quy luật giátrị, cung - cầu, cạnh tranh, lưu thông tiền tệ; quy luật giá trị thặng dư tưbản chủ nghĩa; quy luật tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm xuống
Nội dung cơ bản của kinh tế chỉnh trị về chủ nghĩa tư bản độc quyềnbao gồm những điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử của sự chuyển hóa chủnghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền; bảnchất và những đặc điểm kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền;biểu hiện mới và tác động của chủ nghĩa tư bản độc quyền tới phát triểnkinh tế - xã hội quốc gia, khu vực và toàn cầu; chủ nghĩa tư bản độc quyềnnhà nước với tư cách là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa trong chủ nghĩa tư bản độc quyền; biểu hiện mới và tácđộng của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước tới phát triển kinh tế - xãhội quốc gia, khu vực và toàn cầu; chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nướcvới xu hướng lịch sử của chủ nghĩa tư bản
Trang 37• Kinh tể chính trị về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam làmột trong hai nội dung cốt lõi của kinh tế chính trị Mác- Lênin ở ViệtNam Bộ phận này bao gồm những vấn đề kinh tế chính trị cốt lõi trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đó là những vấn đề kinh
tế chính trị của sự hình thành, phát triển hệ thống quan hệ sản xuất mớitrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: quan hệ sở hữu,thành phần kinh tế, lợi ích kinh tế; nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa; công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế trithức và kinh tể số ở Việt Nam Đây cũng là sự biểu hiện cụ thể hóa cácquan hệ xã hội của sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuấtphát từ điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam
4 KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN
LÝ QUỐC GIA
Xét về ý nghĩa gắn với hoạt động thực tế quản trị quốc gia, kinh tếchính trị Mác-Lênin ở Việt Nam có các vai trò cơ bản sau:
Thứ nhẩt, gỏp phần củng cố lập trường tư tưởng chỉnh trị, mở rộng
tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong việc giải quyết các quan hệ kinh tế liên tục phát sinh trong thực tiễn lãnh đạo, quản lỷ đất nước.
Lãnh đạo, quản lý quốc gia ở Việt Nam hiện nay là việc vô cùngphức tạp, được thực hiện thông qua hoạt động của đội ngũ cán bộ củaĐảng và Nhà nước Thực tiễn đấu tranh giành và giữ chính quyền, xâydựng xã hội mới cho thấy đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
đã không ngừng được rèn luyện bản lĩnh cách mạng, nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ và đã có đóng góp rất lớn vào những thắng lợi tolớn của dân tộc Tuy nhiên, thực té cũng cho thấy, trong công cuộc pháttriển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân, đặc biệt trong bốicảnh mởi của quốc tế và trong nước vẫn còn tồn tại không ít bất cập, trong
đó có những bất cập không nhỏ về tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý
Trang 38Trong thời gian trước đổi mới kể từ khi thống nhất đất nước, hoạtđộng của Đảng và Nhà nước “đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác địnhmục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hộichủ nghĩa và quản lý kinh tế”1, đó “là những sai lầm nghiêm trọng và kéo
dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ
chức thực hiện” 2 “Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế,
xã hội, bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tể chức
và công tảc cản bộ của Đảng Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân”3.Nhờ nhận thức rõ những khuyết điểm và nguyên nhân, Đảng đã kiên quyếtchủ trương thực hiện đường lối đổi mới và đạt được những thành tựu vôcùng to lớn về phát triển kinh tể - xã hội trong 35 năm
lj 2 ’ 3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hộỉ đại biểu toàn quốc ỉần thứ VI, Nxb.Sự thạt,
H.1987, tr.19, 26,27
qua Tuy nhiên, những động lực phát triển kinh tế - xã hội đang có xuhướng giảm dần trong bối cảnh mới của quốc tế và trong nước, nguyênnhân không nhỏ vẫn là nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc của đội ngũ cán bộcủa Đảng và Nhà nước về nền tảng tư tưởng của Đảng và đặc biệt về kinh
tế chính trị Mác-Lênin, thậm chí có biểu hiện nhận thức sai lệch về ýnghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tậpchủ nghĩa Mác-Lênin, tư tường Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghịquyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Để củng cố và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, đẩy nhanh quátrình thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vãnminh trong bối cảnh mới “phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trởthành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”XXXI cần phải tiếptục trang bị cho đội ngũ lãnh đạo quản lý trung, cao cấp của Đảng và Nhànước tư duy chiến lược, triết lý phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở nhữngtri thức của kinh tế chính trị Mác-Lênin với tư cách là bộ phận cấu thànhquan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng
XXXI Đảng Cộng sản Việt Nam: Vãn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc ỉần thứ XIU, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr.l 12.
Trang 39Thứ hai, cung cấp cư sở khoa học cho việc xây dựng tầm nhìn, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lỷ trung và cao cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ử Việt Nam,
Tầm nhìn chiến lược về phát triển kinh tể - xã hội trong lãnh đạoquản lý quốc gia chỉ có thể có được dựa trên nhận thức đúng đắn, khoahọc về nguyên nhân, bản chất, quy luật hình thành, vận động, phát triểncủa các hiện tượng, quá trình kinh tế nói riêng và sự phát triển của nhânloại về kinh tế nói chung Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Namtrong thời kỳ trước và trong đổi mới cho thấy, nhiều khuyết điểm, sai lầmtrong hoạch định và thực thi đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xãhội có nguyên nhân từ việc đội ngũ cán bộ trung, cao cấp của Đảng chưathật sự nắm vững những tri thức nền tảng của kinh tế chính trị Mác-Lênin,
từ đó chưa tìm đúng nguyên nhân, bần chất, quy luật hình thành, vận động,phát triển của những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình pháttriển
Với tư cách là khoa học về các quy luật điều tiết quan hệ của các chủthể trong quá trình tái sản xuất trong mối quan hệ biện chứng với lựclượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng, kinh tế chính trị Mác-Lêninkhông những là cơ sở khoa học cho nhận thúc về nguyên nhân, bản chất,quy luật hình thành, vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, của nềnkinh tể thị trường, của những xu hướng phát triển mới của nhân loại vềkinh tế, mà còn là cơ sở khoa học đặc biệt quan trọng và phương phápluận, lý luận cho nhận thức của đội ngũ lãnh đạo, quản lý quốc gia vềnguyên nhân, bản chất, quy luật hình thành, vận động, phát triển củanhững quan hệ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam
Thứ ba, cung cẩp phương pháp luận khoa học cho việc thực hiện xây dựng các chính sách kinh tế đối nội cũng như hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bổỉ cảnh thế giới luôn thay đổi.
Trang 40Với tư cách là khoa học về các quan hệ xã hội trong sản xuất xã hội,kinh tế chính trị Mác-Lênin cung cấp cho đội ngũ lãnh đạo quản lý các cấpphương pháp luận khoa học cho việc bảo đảm hài hòa các quan hệ lợi íchtrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nắm vững và vậndụng sáng tạo tri thức kinh tể chính trị Mác-Lênin là điều kiện cần thiết đểxác định đúng đắn con đường, đường lối phát triển kinh tể chung cho ViệtNam trong bối cảnh ngày nay Ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, conđường phát triển của dân tộc đã được lựa chọn dựa trên nền tảng của chủnghĩa Mác-Lênin, trong đó có kinh tế chính trị Mác-Lênin là đi lên chủnghĩa xã hội, bỏ qua ché độ tư bản chủ nghĩa Xuất phát từ lựa chọn conđường phát triển, Đảng đã xác định những đưừng lối cụ thể về giành vàgiữ chính quyền phù hợp với bối cảnh lịch sử của từng giai đoạn cáchmạng Các chủ trương, chính sách của Đảng về kinh tể được triển khaithực hiện, trên cơ sở đó đã mang lại những thắng lợi lịch sử to lớn nhưCách mạng Tháng Tám, chiến thắng Điện Biên Phủ và giải phóng hoàntoàn miền Bắc, chiển thắng mùa Xuân năm 1975 và sự thống nhất đấtnước.
Trong thời kỳ sau khi đất nước thống nhất, việc vận dụng sáng tạochủ nghĩạ Mác-Lênin, trong đó có kinh tế chính trị Mác-Lênin đã cho phépnhìn nhận rõ hơn bước đi cụ thể của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam thông qua các hoạt động thực tiễn của Đảng, từ thử nghiệmđến chuyển đổi hoạt động của nền kinh tế từ cơ chế ké hoạch hóa tập trungsang cớ chế thị trường, khôi phục và tạo thuận lợi cho phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần, tùng bước xây dụng, hoàn thiện và phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xác định lại và triển khai thựchiện các nội dung, lộ trình và giải pháp thúc đẩy quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức Sự vận dụng sáng tạochủ nghĩa Mác-Lênin nói chung và kinh tế chính trị Mác-Lênin nói riêngtrong hoạt động thực tiễn của Đảng, Nhà nước những năm đổi mới đãmang lại những thành tựu vô cùng to lớn: ổn định chính trị, kinh tế, xã hội,đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, từng bước hội nhập quốc tểhiệu quả