1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

3 chủ nghĩa xã hội khoa học 2021

263 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa xã hội khoa học 2021
Tác giả PGS, TS Bùi Thị Ngọc Lan, PGS, TS Đỗ Thị Thạch, PGS, TS Nguyễn An Ninh, PGS, TS Nguyễn Viết Thảo, PGS, TS Nguyễn Quốc Phâm, PGS, TS Phan Thanh Khôi, TS Nguyễn Thị Hà, TS Phạm Thị Hoàng Hà
Người hướng dẫn GS, TS Nguyên Xuân Thẳng, PGS, TS Nguyên Đuy Bắc, PGS, TS Hoàng Phúc Lâm, PGS, TS Lê Văn Lợi, PGS, TS Dương Trung Ý, PGS, TS Nguyên Viết Thảo, PGS, TS Mai Đức Ngọc
Trường học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị, Lý luận chính trị
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 263
Dung lượng 288,04 KB
File đính kèm 3. CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC 2021.rar (268 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÒ CHÍ MINH GIÁO TRÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HÔI KHOA HỌC DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ (Tải bản cổ cập nhật, chỉnh sữa năm 2021) NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬA GIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 1. GS, TS Nguyên Xuân Thẳng 2. PGS, TS Nguyên Đuy Bắc 3. PGS, TS Hoàng Phúc Lâm 4. PGS, TS Lê Văn Lợi 5. PGS, TS Dương Trung Ý 6. PGS, TS Nguyên Viết Thảo 7. PGS, TS Mai Đức Ngọc 8. TS Đậu Tuấn Nam ĐỒNG CHỦ BIÊN PGS, TS Bùi Thị Ngọc Lan PGS, TS Đỗ Thị Thạch TẬP THỂ TÁC GIẢ 1. PGS, TS Bùi Thị Ngọc Lan 2. PGS, TS Đỗ Thị Thạch 3. PGS, TS Nguyễn An Ninh 4. PGS, TS Nguyễn Viết Thảo 5. PGS, TS Nguyễn Quốc Phâm 6. PGS, TS Phan Thanh Khôi 7. TS Nguyễn Thị Hà 8. TS Phạm Thị Hoàng Hà LỜI GIỚI THIỆU Học viện Chính tri quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chỉnh tậ của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý. Chương trình Cao cấp lý luận chính trị là chương trình trọng điểm trong toàn bộ công tác đao tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Mục tiêu của chương trình là: Trang bị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của hệ thống chính trị kiến thức nền tảng về lý luận chính trị, quan điểm, đường loi của Đảng làm cơ sở cho việc củng cố nền tảng tư tưởng, nâng cao tầm nhìn và năng lực tư duy chiến lược, năng lực chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu câu nhiệm vụ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đổi mới, bổ sung, cập nhật nội dung các chương trình đào tạo, bôi dưỡng cán bộ là việc làm thường xuyên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước trong tùng giai đoạn, thời kỳ phát triển, phù hợp với bối cảnh của đất nước và thế giới. Chương trình Cao cấp lý luận chính trị được kết cấu gồm 19 môn học và các chuyên đề ngoại khóa, được tổ chức biên soạn công phu, nghiêm túc, trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ các nhà khoa học đang trực tiếp giảng dạy trong toàn Học viện; đồng thời, có sự tham gia góp ý, thẩm định kỹ lưng của nhiều nhà khoa học trong và ngoài Học viện. Bộ giáo trình Cao cấp lý luận chính trị xuất bản lần này kê thừa các giáo trình cao cấp lý luận chính trị trước đây; đồng thời chỉnh sửa, cập nhật các nội dung mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ XIII của Đảng, tình hình thực tiễn mới của thế giới, khu vực yà đất nước. Phương châm chung của toàn bộ giáo trình là cơ bản, hệ thống, cập nhật, hiện đại và thực tiễn. Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được nhiêu ý kiến đóng góp quý báu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nói chung. BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬA GIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHINH TRỊ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HÒ CHÍ MINH

GIÁO TRÌNH

CHỦ NGHĨA XÃ HÔI KHOA HỌC

DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

(Tải bản cổ cập nhật, chỉnh sữa năm 2021)

NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

- ủy viên

- ủy viên Thường trực

- ủy viên thư ký

Trang 3

4 PGS, TS Nguyễn Viết Thảo

5 PGS, TS Nguyễn Quốc Phâm

6 PGS, TS Phan Thanh Khôi

7 TS Nguyễn Thị Hà

8 TS Phạm Thị Hoàng Hà

Trang 4

LỜI GIỚI THIỆU

Học viện Chính tri quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộcBan Chấp hành Trung ương Đảng; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trựctiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâmquốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán

bộ khoa học lý luận chỉnh tậ của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gianghiên cứu khoa học lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đườnglối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị,khoa học lãnh đạo, quản lý

Chương trình Cao cấp lý luận chính trị là chương trình trọng điểmtrong toàn bộ công tác đao tạo, bồi dưỡng của Học viện Chính trị quốcgia Hồ Chí Minh Mục tiêu của chương trình là: Trang bị cho đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp của hệ thống chính trị kiến thức nềntảng về lý luận chính trị, quan điểm, đường loi của Đảng làm cơ sở choviệc củng cố nền tảng tư tưởng, nâng cao tầm nhìn và năng lực tư duychiến lược, năng lực chuyên môn, hoàn thiện phương pháp, kỹ năng lãnhđạo, quản lý, tu dưỡng, rèn luyện nhân cách của người cán bộ lãnh đạo,quản lý đáp ứng yêu câu nhiệm vụ của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnhtoàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàhội nhập quốc tế

Đổi mới, bổ sung, cập nhật nội dung các chương trình đào tạo, bôidưỡng cán bộ là việc làm thường xuyên của Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng,Nhà nước trong tùng giai đoạn, thời kỳ phát triển, phù hợp với bối cảnhcủa đất nước và thế giới

Trang 5

Chương trình Cao cấp lý luận chính trị được kết cấu gồm 19 mônhọc và các chuyên đề ngoại khóa, được tổ chức biên soạn công phu,nghiêm túc, trí tuệ và trách nhiệm của đội ngũ các nhà khoa học đangtrực tiếp giảng dạy trong toàn Học viện; đồng thời, có sự tham gia góp ý,thẩm định kỹ lư&ng của nhiều nhà khoa học trong và ngoài Học viện.

Bộ giáo trình Cao cấp lý luận chính trị xuất bản lần này kê thừa cácgiáo trình cao cấp lý luận chính trị trước đây; đồng thời chỉnh sửa, cậpnhật các nội dung mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứXIII của Đảng, tình hình thực tiễn mới của thế giới, khu vực yà đất nước.Phương châm chung của toàn bộ giáo trình là cơ bản, hệ thống, cập nhật,hiện đại và thực tiễn

Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được nhiêu ý kiến đóng gópquý báu từ các nhà khoa học, giảng viên, học viên và bạn đọc nói chung

BAN CHỈ ĐẠO CẬP NHẬT, CHỈNH SỬAGIÁO TRÌNH DÙNG CHO HỆ ĐÀO TẠOCAO CẤP LÝ LUẬN CHINH TRỊ

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Chủ nghĩa xã hội khoa học cùng với triết học, kinh tế chỉnh trị là ba

bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin Với tư cách là một mônhọc, Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu các quỵ luật và tính quy luậtchính trị - xã hội của quá trinh hình thành và phát triển hình thái kinh tế -

xã hội cộng sản chủ nghĩa; những nguyên lý cơ bản, những con đường vàhình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân đểthực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ

nghĩa cộng sản, xây dựng xã hội tốt đẹp mà ở đó con người được giải

phóng khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do,hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện Do vậy, lý luận về chủ nghĩa

xã hội khoa học từ khi ra đời đến nay luôn được các đảng cộng sản vàcông nhân trên thế giới học tập, vận dụng sáng tạo, bổ sung, phát triểnvào thực tiễn của mỗi nước nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

và chủ nghĩa cộng sản

Từ thực tiễn đổi mới của đất nước, nhận thức của Đảng Cộng sảnViệt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đựờng đi lên chủ nghĩa xã hội ngàycàng sáng tỏ và đầy đủ hơn Tại Đại hội đại biểu toàn' quốc lần thứ XIII,

Đảng ta tiếp tục khẳng định: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ

nghĩa xã hội Đe đạt được mục tiêu này cần phải nhận thức đúng về chủ

nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mớicủa nước ta hiện nay

Chủ nghĩa xã hội là một thực thể khách quan luôn vận động, biếnđổi, vì vậy lý luận về chủ nghĩa xã hội cũng phải bám sát thực tiễn,nghiên cứu và tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận cho phùhợp Xuất phát từ yếu cầu đó và thực hiện chỉ đạo của

Trang 7

Giám đốc Học viện Chính tộ quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chủ nghĩa xã

hội khoa học đã tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện nhằm tái bản Giảo

trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận

chính trị) trên tinh thần cập nhật những quan điểm mới của Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và những biến đổi mới của thực tiễnthời đại, với mục đích là cung cấp những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa

xã hội khoa học phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,đảng viên trong hệ thống chính trị ở nước ta

Trong quá trình rà soát, bổ sưng, hoàn thiện Giáo trinh khó tránhkhỏi những thiếu sót, tập thể tác giả rất mong nhận được những ý kiếnđóng góp để Giấo trình ngày càng hoàn thiện hơn

TẬP THÊ TÁC GIẢ

Trang 8

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẺN CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

A MỤC TIÊU

về kiến thức: Học viên hiểu rõ quá trình hình thành, phát triển lý luận

chủ nghĩa xã hội khoa học

về kỹ năng: Học viên vận dụng kiến thức đã học để giải đáp những vấn

đề thực tiễn đang đặt ra về lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học; về xây dựngchủ nghĩa xã hội nói chung và ở Việt Nam hiện nay

về tư tưởng: Học viên có năng lực khẳng định tính khoa học của lý

luận chủ nghĩa xã hộị khoa học trong dòng chảy của lịch sử nhân loại và nêucao trách nhiệm cá nhân đối với chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam

B NỘI DUNG

1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

KHOA HỌC

1.1 Quan niệm về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội khoa học

1.1.1 Quan niệm về chủ nghĩa xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và từ thực tế của chủ nghĩa

xã hội trên thế giới, thuật ngữ chủ nghĩa xã hội được hiểu theo các góc độsau đây:

Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội là một phong trào thực tiễn.

Ở các mức độ khác nhau, chủ nghĩa xã hội được biểu hiện ra với tưcách là một phong trào thực tiễn - phản ánh thực tiễn dân chủ nguyên thủy

và cuộc đấu tranh giai cấp trong các xã hội có đối kháng giai cấp Trong thời

kỳ chiếm hữu nô lệ, phong hào đấu tranh của giai cấp nô lệ chống giai cấp

Trang 9

chủ nô đã phản ánh tính sơ khai, yếu tố mầm mống của phong trào mangtính chất xã hội chủ nghĩa Dưới chế độ phong kiến, hàng loạt cuộc nổi đậycủa nông dân chống chế độ áp bức phong kiến đã phản ánh nhu cầu hiệnthực hóa chủ nghĩa xã hội kiểu nông dân, hoặc các phong trào xã hội chủnghĩa tôn giáo Tất cả đều là những phong trào thực tiễn, phản ánh mốiquan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp vốn có Trong xã hội tư bản chủnghĩa, phong trào thực tiễn này diễn ra rất phong phú phản ánh cuộc đấutranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại sự áp bức, bóclột của giai cấp tư sản nhằm đi tới một xã hội công bằng, bình đẳng, tiến bộ

và phát triển bền vững Từ khi có bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản

(1848) - ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn đường, phong trào thực tiễn này đã

có nhiều bước tiên lớn, trong đó, nổi bật là thắng lợi của cuộc Cách mạng xãhội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917) - một cuộc cách mạng đã chứngminh tính thực tiễn của phong trào xã hội chủ nghĩa Trong thế kỷ XX,

phong trào xã hội chủ nghĩa đã lôi cuốn hàng chục nước và hình thành hệ

thống các nước xã hội chủ nghĩa

Từ năm 1991 đến nay, sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở cácnước Đông Âu và Liên Xô mặc dù đã gây ra tổn thất to lớn cho phong trào

xã hội chủ nghĩa trên thế giới, nhưng nhiều quốc gia vẫn duy trì định hướng

xã hội chủ nghía với sự đa dạng trong mô hỉnh và biện pháp xây dựng xãhội xã hội chủ nghĩa và đã đạt dược những thành tựu có ý nghĩa to lớn trêncác lĩnh vực của đời sống xã hội

Thứ hai, chủ nghĩa xã hội là trào lưu tư tưởng, lý luận.

Với tư cách là trào lưu tư tưởng, lý luận, tư tưởng xã hội chủ nghĩatrước hết là những “ước mơ, nguyện vọng của đa số nhân dân bị áp bức”;sau đó là hệ thống những quan điểm, học thuyết của các giai cấp về một xãhội tốt đẹp không còn áp bức, bất công; là hệ thống lý luận về con đường,cách thức và phương pháp đấu tranh nhằm thực hiện một chế độ xã hội, mà

ở đó không có áp bức và bất công, mọi người đều được tự do, bình đẳng vềmọi mặt và có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được phát triển toàn diện Tràolưu tư tưởng, lý luận về chủ nghĩa xã hội có quá trình phát triển, từng bước

Trang 10

hoàn thiện, chuyển từ không tưởng thành khoa học.

Trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước khi có chù nghĩa Mác ra đờiđược gọi là tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Nó ra đới gắn với cuộcđấu tranh chống ách áp bức, bất công của các xã hộỉ có mâu thuẫn giai cấpđối kháng (bắt đầu từ chế độ chiếm hữu nô lệ) Tuy nhiên, bước đầu tưtưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa còn ở mức sơ khai, thể hiệntrong nguyện vọng, mong muôn của quần chúng nô lệ đòi xóa bỏ chế độ nô

lệ, thực hiện công bằng xã hội và mơ ước trở về với thời “hoàng kim” củalịch sử - thời kỳ cộng sản nguyên thủy - một xã hội không có Nhà nước,không có giai cấp Thời kỳ này, tư tưởng về chủ nghĩa xâ hội, chủ nghĩacộng sản chỉ được thể hiện qua các huyền thoại, truyền thuyết , truyềnmiệng trong dân gian

Khi xã hội loài người bước sang chế độ phong kiến, trào lưu tư tưởng

xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa tiểp tục được thể hiện trong mô hình

xã hội tương lại mà loài người sẽ tiến đến Đó là chủ nghĩa xã hội phongkiến hoặc chủ nghĩa xã hội Thiên Chúa giáo - những tư tưởng đồng nhất xãhội cộng sản với “thiên đường ngàn năm của Chúa” Tư tưởng xã hội chủnghĩa và cộng sản chủ nghĩa thời kỳ này biểu hiện rõ nhất nguyện vọng củaquần chúng nông dân đấu hanh chống chế độ phong kiến, đòi công bằng,bình đăng xã hội, nhất là quyền bình đẳng về ruộng đất

Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, một số tác phẩm vãn học của các nhà

tư tưởng đã phản ánh tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, song

nó còn chứa đựng nhiều yếu tố “không tưởng” Đến giữa thế kỷ XIX, tưtưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng đã có bước chuyển biến mới - ngoàinhững giá trị vốn có của trào lưú tư tưởng này, các đại biểu tư tưởng đã phêphán trực tiếp vào chế độ chiếm hữu tư nhân tự bản chủ nghĩa và cả nền vănminh tư bản Họ phác họa ra một xã hội mới tiến bộ Với tính chất phê phánsâu sắc và toàn diện, tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thời kỳ nàyđược gọi là chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán với ba đại biểu tiêubiểu là Henri de Saint Simon, Charles Fourier và Robert Owen C.Mác,Ph.Ặngghen đã đánh giá rất cao những giá trị của các nhà tự tưởng xã hội

Trang 11

chủ nghĩa thời kỳ này Mặc dù “vẫn còn nhiều hạt sạn”, nhưng C.Mác vàPhĂngghen coi đây là “tiền đề tư tưởng lý luận trực tiếp cho chủ nghĩa xãhội khoa học”.

Vào năm 1848, với sự xuất hiện của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng

Cộng sản do C.Mác và Ph.Ấngghen soạn thảo, chủ nghĩa xã hội khoa học đã

ra đời và trở thành một trong ba bộ phận lý luận cơ bản của học thuyết Mác

Từ năm 1848 đến nay, qua nhiều bước thặng trầm, lý luận về chủ nghĩa xãhội vẫn tồn tại, được các đảng cộng sản tiếp thu, vận dụng sáng tạo với tưcách là nền tảng tư tưởng của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hộitrong từng quốc gia, khu vực

Hiện nay, ở một số nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, ở một sônước tư bản, các đảng cộng sản, đảng công nhân và đảng cánh tả đã và đang

bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng, lý luận ấy ở mức độ khác nhau để xâydựng chủ nghĩa xã hội thích ứng với điều kiện cụ thể

Thứ ba, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội hiện thực, một mô hình, kiểu tổ chức xã hói theo những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Trước khi chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời, mặc dù có những giá trịnhất đỉnh, nhưng chủ nghĩa xã hội không tưởng đã không hiện thực hóađược mô hình xã hội chủ nghĩa do bị giới hạn bởi những kỳ vọng mang tínhchất ẳo tưởng

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa xẫ hội khoa học, bằng thắng lợi của Cáchmạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917), chủ nghĩa xã hội đã trởthành một chế độ xã hội hiện thực với nhiều thiết chế ưu việt hơn chủ nghĩa

tư bản Đó là sự thể hiện sinh động của giai đoạn thấp của hình thải kinh tế

-xã hội cộng sản chủ nghĩa theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin '

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, những đặc trưng bản chất của xã hội xãhội chủ nghĩa được thể hiện trên tất cả các Imh vực của đời sống xã hội vàhướng tới mục tiêu cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giảiphóng xã hội, giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột; con người

có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện

Đã có thời kỳ, mô hình tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa đạt được những

Trang 12

thành tựu to lớn trên các mặt của đời sống hiện thực Tuy nhiên, do chưavận dụng đúng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ giữa

“cái phổ biến” với “cái đặc thù”, mô hình chủ nghĩa xã hội được áp dụng ởnhiều nước chỉ là “rập khuôn” mô hình kiểu Xôviết; chính vì vậy, sau khichế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu, Liên Xô đổ vỡ, đã kéo theo sựkhủng hoảng về mô hình trong nhiều nước xã hội chủ nghĩa

Hiện nay, ở nhiều quốc gia, khu vực có nhiều mô hình xã hội xã hộichủ nghĩa phong phú, đa dạng, biểu hiện sinh động sức sống của chủ nghĩa

xã hội, đang là triển vọng phát triển của xã hội loài người

1.1.2 Quan niệm về chủ nghĩa xã hội khoa học

Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghía Mác- Lênin,

luận giải trên góc độ triết học, kinh tế và chính trị-xã hội về sự chuyên biếntất yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủnghĩa cộng sản Điều đó nói lên sự thống nhất, tính hoàn chỉnh về mặt cẩutrúc của chủ nghĩa Mác-Lênin Chính hiểu chủ nghĩa xã hội khoa học theo

nghĩa rộng mà V.I.Lênin đánh giá khái quát về bộ Tư bản của C.Mác rằng:

“bộ “Tư bàn” - tác phẩm chủ yếu và cơ bản ấy trình bày chủ nghĩa xã hộikhoa học”1, rằng “chủ nghĩa xã hội khoa học, tức là chủ nghĩa Mác”I II

Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một môn khoa học ỉý

luận chính trị, một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác-Lênin (triếthọc Mác-Lênin, kinh tế chính trị học Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoahọc)

Đổi tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học là các quy luật vàtính quy luật chính trị-xã hội của quá trinh chuyển biến từ chủ nghĩa tư bảnlên chủ nghĩa xã hội, thể hiện sứ mệnh lịch sử to lán của giai cẩp công nhân

và Đảng Cộng sản trong công cuộc xóa bỏ chế độ áp bức tư bản chủ nghĩa,xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở phạm vi từng nước vàtrên toàn thế giới; nghiên cửu về cách thức, biện pháp, con đường xây dựngchủ nghĩa xã hội trong từng quốc gia, khu vực

Phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học bao gồm: Phương

I V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.l, tr.226.

II V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.6, tr.336.

Trang 13

pháp lịch sử - logic; gắn lý luận với thực tiễn, tổng kết thực tiễn để pháttriển lý luận Ngoài ra, chủ nghĩa xã hội khoa học còn sử dụng nhiềuphương pháp của các chuyên ngành khác để nghiên cứu (phương pháp củacác chuyên ngành lịch sử, triết học, xã hội học ).

1.2 Những điều kiện, tiền đề khách quan và nhân tố chủ quan cho sự

ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học

1.2.1 Điều kiện, tiền đề khách quan

- Điều kiện kinh tế - xã hội

, Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa đã phát triển mạnh mẽ gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền

công nghiệp lớn Cách mạng công nghiệp đã làm xuất hiện một lực lượng

sản xuất mới, đó là nền đại công nghiệp Đại công nghiệp ngày càng phát

triển tác động mạnh mẽ vào phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa theo cảchiều rộng và chiều sâu: quy mô sản xuất; trình độ chuyên môn hóa của sảnxuất; năng suất lao động; trình độ tổ chức, quản lý quá trình sản xuất Kếtquả là làm cho lực lượng sản xuất phát triển đạt ứình độ xã hội hóa ngàycàng cao, dẫn tới mâu thuẫn với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngàycàng gia tăng Những cuộc khủng hoảng hàng hóa thừa theo chu kỳ và hiệntượng người lao động thất nghiệp ngày càng nhiều

Cùng với sự lớn mạnh của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân có sựgia tăng nhanh chóng về số lượng và sự chuyển đổi về cơ cấu Đây chính là

sản phẩm, là lực lượng xã hội mới xuất hiện trong lòng phựơng thức sản

xuất tư bản chủ nghĩa Tỷ lệ công nhân công nghiệp đã tăng đáng kể và trởthành bộ phận hạt nhân của giai cấp Đâỷ là lực lượng công nhân lao độngtrong khu vực sản xuất then chốt có trình độ công nghệ và kỹ thuật hiện đạinhất Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại sự thống trị áp bứccủa giai cấp tư sản - biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn giữa lực lượngsản xuất có trình độ xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độchiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ngày càng quyết liệt.Nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào đấu tranh đã bắt đầu có tổ chức vàtrên quy mô rộng khắp Phong trào Hiến chương ở nước Anh diễn ra trong

Trang 14

khoảng hơn 10 năm (1835-1848); Phong trào công nhân dệt ở thành phốXilêdi, nước Đức diễn ra năm 1844; Phong trào công nhân dệt thành phốLiông, nước Pháp kéo dài 3 năm (1831-1834) với sự phát hiển về chất quamỗi thời kỳ Neu năm 1831, phong trào giương cao khẩu hiệu “sống có việclàm hay là chết trong đấu tranh” chỉ thuần túy vì mục tiêu kinh tế, thì đếnnăm 1834, khẩu hiệu của phong trào đã chuyển sang mục tiêu chính trị:

“Cộng hòa hay là chết”

Nhũng biến động chính trị công khai của phong trào công nhân chúng

tỏ, lân đầu tiên giai cấp công nhân đã xuất hiện như một lực lượng chính trịđộc lập với những yêu sách kinh tế, chính trị riêng của mình và bắt đầuhướng thẳng mũi nhọn của cuộc đấu tranh vào kẻ thù chính của minh là giaicấp tư sản Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thời

kỳ này đã gặp nhiều tổn thất do thiếu lý luận khoa học và cách mạng soiđường dẫn lối

Điều kiện kinh tế, xã hội ấy đòi hỏi phải có lý luận tiên phong dẫnđường - điều mà chủ nghĩa xã hội không tưởng trước đố đã không thể đảmđương; không chỉ đặt ra yêu cầu đói với các nhà tư tưởng của giai cấp côngnhân mà còn là mảnh đất hiện thực cho sự sinh thành ra lý luận mới, tiến bộsoi sáng sự vận động đi lên của lịch sử

- Tiền đề khoa học, văn hóa - tư tưởng

Đến đầu thê kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn hên lĩnhvực khoa học, tiêu biểu là ba phát minh tạo nền tảng cho phát ttiển tư duy lýluận Trong khoa học tự nhiên, những phát minh vạch thời đại trong vật lýhọc và sinh học đã tạo ra bước phát triển đột phá có tính cách mạng: Địnhluật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của Mayer (1814-1878) người Đức,M.V.Lomonosov (1711-1765) người Nga; Học thuyết tế bào của hai nhàkhoa học người Đức Matthias Jakob Schleiden (1804-1881) và TheodorSchwann (1810-1882); Học thuyết tiến hóa của Charles Darwin (1809-1882) người Anh Những phát minh này là cơ sở khoa học cho sự ra đời củachủ nghĩa duy vật biện chứng, đồng thời, là cơ sở phương pháp luận đểnghiên cứu những vấn đề lý luận chính trị của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã

Trang 15

hội khoa học sau này.

Cùng với khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cũng đạt được nhữngthành tựu đáng ghi nhận Đó là triết học cổ điển Đức với tên tuổi của cácnhà triết học vĩ đại: George Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) vàLudwig Feuerbach (1804-1872); Kinh tế chính trị học cổ điển Anh vớiAdam Smith (1723-1790) và David Ricardo (1772-1823); đặc biệt là ba nhà

xã hội chủ nghĩa không tưởng - phê phán đầu thế kỷ XIX: Henri de SaintSimon (1769-1825), Charles Former (1772-1837) và Robert Owen (1771-1858) đã tạo ra những tiền đề lý luận trực tiếp để C.Mác và PỈLẤngghen kếthừa, cải biến và phát triển thành chủ nghĩa xã hội khoa học

Tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thời kỳ trước Mác có những giá trị nhất định: 1) Thể hiện tinh thần phê phán, lên án chế độ quân chủ

chuyên ché và chế độ tư bản chủ nghĩa đầy áp bức bất công, xung đột, đạođức đảo lộn, tội ác gia tăng ; 2) Đưa ra nhiều luận điểm có giá trị về xã hộitương lai, về tổ chức sản xuất và phân phổi sản phẩm xã hội; đã nêu ra vaitrò của công nghiệp và khoa học - kỹ thuật; yêu cầu về xóa bổ sự đối lậpgiữa lao động chân tay và, lao động trí óc; về sự nghiệp giải phóng phụ nữ;

về vai trồ lịch sử của nhà nước ; 3) Chính những tư tưởng có tính phê phán

và sự dấn thân vào hoạt động thực tiễn của các nhà xã hội chủ nghĩa khôngtưởng, trong chừng mực nhất định, đã thức tỉnh phong trào đấu tranh củagiai cấp công nhân và người lao động

Tuy nhiên, tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng thời kỳ trước Mác

còn những hạn chế cơ bản sau: chưa phát hiện ra được quy luật vận động và

phát triển của xã hội loài người nói chung, quy luật vận động, phát triển củachủ nghĩa tư bản nói riêng; chưa phát hiện ra lực lượng xã hội tiên phong cóthể thực hiện cuộc chuyên biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩacộng sản; không chỉ ra được những biện pháp hiện thực cải tạo xã hội cũ ápbức, bất công, xây dựng xã hội mới tốt đẹp giải phóng con người khỏi mọi

sự áp bức, bóc lột

Những hạn chế đó hoặc dơ điều kiện lịch sử, hoặc do chính sự hạn chế

về tầm nhìn và thế giới quan của các đại biểu viết ra nó Chính vì những hạn

Trang 16

chế ấy mà tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác mới chỉ dừng lại ở mức độmột học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng Song vượt lên tất cả, nhữnggiá trị khoa học, công hiến của các nhà tư tưởng đã tạo ra tiền đê tư tưởng -

cả những điều đó đã giúp các ông nhận rõ được bản chất của những sự kiệnkinh tế - xã hội, chính trị - xã hội đang diễn ra trong lòng chế độ tư bản chủnghĩa Trên cơ sở ké thừa các giá trị trong kho tàng tư tưởng nhân loại, bằng

sự quan sát, phân tích với một tinh thần khoa học những sự kiện đang diễnra , C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng bước phát triển học thuyết của mình,đưa các giá trị tư tưởng lý luận nói chung, tư tường xã hội chủ nghĩa nóiriêng, phát triển lên một trình độ cao hơn

Qua tất cả các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có nhữngđóng góp khoa học vĩ đại, tập trung nhất vào “ba phát kiến lớn”, nhờ đó, tưtưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại từ không tưởng trở thành khoa học Baphát kiến đó là:

- Học thuyết duy vật lịch sử

Trên cơ sở kế thừa “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng Hegel (dù

là trên lập trường duy tâm) và những giá trị của triết học duy vật (dù là duyvật siêu hình của Feuerbach ), đồng thời, nghiên cứu nhiều thành quả khoa

Trang 17

học tự nhiên, C.Mác và Ph.Ángghen đã xây dựng nên “Học thuyết duy vậtbiện chứng”, với ý nghĩa như phương pháp luận chung nhất để sáng lập ramột trong những lý thuyết khoa học mang ý nghĩa vạch thời đại cho khoa

học xã hội phát triển lên tầm cao mới: “Hộc thuyết duy vật lịch sử” Với

học thuyết này, các ông đã tìm ra quy luật vận động và phát triển của xã hội

loài người - đó là một quá trình phát triển lịch sử - tự nhiên của những “hình

thái kinh tế - xã hội” từ thấp đến cao Từ đó, các ông dự báo: thay thế chohình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sẽ là hình thái kinh tế - xã hộicộng sản chủ nghĩa với bản chất nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giảiphóng con người, giải phóng xã hội khỏi mọi sự áp bức, bóc lột

- Học thuyết giá trị thặng dư

Dựa trên cơ sở khoa học của duy vật lịch sử, hai ông đã đi sâu nghiêncứu nền sản xuất công nghiệp và nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thể hiện trựctiếp và rõ ràng nhất trong hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp công nghiệphiện đại và thị trường sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa Từ đỏ, các ông đãviết nhiều tác phẩm lớn, có giá trị trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực

kinh tế tư bản chủ nghĩa, thể hiện tập trung nhất ở bộ Tư bản Một trọng tâm lớn và giá trị nhất trong tác phẩm là “Học thuyết giá trị thặng dư” Học

thuyết này chứng minh một cách khoa học rằng: trong chủ nghĩa tư bản, sứclao động của công nhân là loại “hàng hóa đặc biệt” mà nhà tư bản, giai cẩp

tư sản đã mua Bằng những thủ đoạn tinh vi, nhà tư bản chiếm đoạt ngàycàng lớn “giá trị thặng dư” được sinh ra nhờ lao động không công của ngườicông nhân Chính đó là nguyên nhân cơ bản làm cho mâu thuẫn về kỉnh tếgiữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản tăng lên không thể dung hòatrong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản Với học thuyết này, C.Mác đã “bóctrần bí mật của chủ nghĩa tư bản” và làm rõ bản chất bóc lột lao động làmthuê của chủ nghĩa tư bản

- Học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cap công nhân

Nhờ hai phảt kiến vĩ đại: chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị

thặng dư, các ông đã luận giải một cách khoa học sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, (đây đưực coi là phát kiến lớn thứ ba của C.Mác).

Trang 18

Mâu thuẫn về mặt kinh tế đã biểu hiện ra thành mâu thuẫn chính trịgiữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản - hai giai cấp có vai trò nổi bậtnhất, có lợi ích đối lập trực tiếp nhau và mâu thuẫn ngày càng gay gắt trongsuốt thời gian tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản Giai cấp tư sản, nhànước của nó vẫn thường xuyên phải “điều chỉnh, thích nghi” về kinh té vớigiai cấp công nhân một cách tạm thời Song mâu thuẫn này không thể giảiquyết triệt để, nếu không có thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa Lãnhđạo, tổ chức thắng lợi cuộc cách mạng này ở mỗi nước để lật đổ chế độ tưbản chủ nghĩa, xác lập xây dựng xã hội mới - xã hội xã hộỉ chủ nghĩa và tiếnlên chủ nghĩa cộng sản là sứ mệnh lịch sử có tính chất toàn thế giới của giaicấp công nhân.

Với sự ra đời của ba phát kiến vĩ đại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khắcphục một cách triệt để những hạn chế lịch sử của tư tưởng xã hội chủ nghĩakhông tường, đồng thời, làm cho chủ nghĩa xã hội từ không tưởng thànhkhoa học

1.2.3 Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - Dấu mốc ra đời cửa chủ nghĩa xã hội khoa học

Được sự ủy nhiệm của những người cộng sản, ngày 24-2-1848,

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do C.Mác và Ph.Ángghen soạn thảo được

công bố trước toàn thế giới

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm kinh điển thể hiện các

nguyên lý chủ yếu của chủ nghĩa xã hội khoa học Sự ra đời của tác phẩm vĩđại này đánh dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của chủ nghĩa Mác baogồm ba bộ phận hợp thành: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xãhội khoa học

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trở thành Cương lĩnh chính trị đầu

tiên, là kim chỉ nam hành động của toàn bộ phong trào cộng sản và côngnhân quốc tế; là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao độngtoàn thế giới trọng cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng conngười thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột giai cấp, bảo đảm cho loài người đượcthực sự sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc

Trang 19

ĩạyển ngôn của Đảng Cộng sản đã nêu và phân tích một cách có hệ

thống lịch sử và lôgíc hoàn chỉnh về những vấn đề cơ bản nhất, đay đủ, xúctích và chặt chẽ nhất, thâu tóm hầu như toàn bộ những nguyên lý của chủnghĩa xã hội khoa học, nổi bật như:

- về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản: Cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử loài người đã phát triển đển

một giai đoạn mà giai cấp công nhân không thể tự giải phóng minh nếukhông đồng thời giải phóng vĩnh viễn xã hội ra khỏi tình trạng phân chiagiai cấp, áp bửc, bóc lột và đấu tranh giai cấp Song, giai cấp công nhânkhông thể hoàn thành được sứ mệnh lịch sử ấy nếu không tổ chức thànhchính đảng của giai cấp, Đảng được hình thành và phát triển xuất phát từ sứmệnh lịch sử của giai cấp công nhân

- về tỉnh tất yếu ra đời của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản:

Lôgíc phát triển tất yếu của xã hội tư bản và cũng là của thời đại tư bản chủnghĩa - đó là “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sảnđều là tất yếu như nhau”III

- về tỉnh tat yểu liên minh giữa giai cấp công nhân với các lực lượng dân chủ trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử: Những người cộng sản trong

cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, cần thiết phải thiết lập sự liên minhvới các lực lượng dân chủ để đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, đồngthời, không quên đấu tranh cho mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.Những người cộng sản phải tiến hành cách mạng không ngừng nhưng phải

có chiến lược, sách lược khôn khéo và kiên quyết

- về một sổ nguyên lý khác: Giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai

cấp với vấn đề dân tộc, giữa nhiệm vụ đấu tranh giải phóng giai cấp với đấutranh giải phóng các dân tộc trong cách mạng của giai cấp vô sản

2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOAHỌC

III C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.4, tr.613.

1,2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.l, tr 166,226.

Trang 20

2.1 C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1848 đến Công xã Pari năm 1871

Đây là giai đoạn cách mạng dân chủ tư sản ở các nước Tây Âu 1852) phát triển mạnh Tổng kết kinh nghiệm phong trào cách mạng 1848-

(1848-1852, nhất là từ khi Quốc tế I thành lập (1864) và tập I - bộ Tư bản được

xuất bản (1867) mà nền tảng lâ nội dung lý luận về giá trị thặng dư trongphưong thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, hai ông đã tiếp tục phát triển lý luậnchủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó, bổ sưng, khẳng định thêm một cách

vững chắc về địa vị kinh tế - xã hội và vai trò lịch sử của giai cấp công

nhân; về chỉnh đảng cách mạng của giai cap công nhân Sau này, V.I.Lênin

đã nhấn mạnh: “ Từ khi bộ “Tư bản” ra đời - quan niệm duy vật lịch sửkhông còn là một giả thuyết nữa, mà là một nguyên lý đã được chứng minhmột cách khoa học; và chừng nào chúng ta chưa tìm ra được một cách nàokhác để giải thích một cách khoa học sự vận hành và sự phát triển của mộthình thái xã hội nào đó - của chính một hình thái xã hội, chứ không phải củasinh hoạt của một nước hay một dân tộc, hoặc thậm chí của một giai cấpnữa, V.V., - thì chừng đó quan niệm duy vật lịch sử vẫn cứ là đồng nghĩavới khoa học xã hội”1 Sau này, V.I.Lênin cũng cho rằng, “ bộ “Tư bản” -

tác phẩm chủ yếu và cơ bản ấy trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học”2

Trên cơ sở tổng két kinh nghiệm cuộc cách mạng (1848-1852) của giaicấp công nhân, C.Mác tiếp tục phát triển thêm nhiều nội dung của chủ nghĩa

xã hội khoa học, được thể hiện trong các tác phẩm: Ngày mười Tám tháng

Sương mù của Lui Bônapáctơ (1852), Chiến tranh nông dãn ở Đức (1851), Cách mạng và phản cách mạng ở Đức (1851), Đó là vấn đề Nhà nước chuyên chính vô sản Hai ông chỉ ra rằng, để giành được quyền thống trị về

chính trị, giai cấp công nhân cần đập tan bộ máy nhà nước tư sản, thiết lập

chuyên chính vô sản Các ông bổ sung lý luận cách mạng không ngừng bằng

tư tưởng về sự kết hợp giữa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân với

phong trào đấu tranh của giai cấp nông dân; xây dựng khối liên minh gỉữa

giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, xem đó là điều kiện tiên quyết

bảo đảm cho cuộc cách mạng đi tới mục tiêu cuối cùng

Trang 21

2.1.2 Giai đoạn sau Công xã Part đến khi Ph.Ầngghen mất năm 1895

Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của Công xã Pari, hai ông đã tiếp tụcphát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, thể hiện trong các tác phẩm:

Nội chiến ở Pháp (1871), Phê phán Cương lĩnh Gôta (1875), ChổngĐuyrinh (1876), Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học (1875), Nguồn gốc cửa gia đình, của chể độ tư hữu và của nhà nước (1884)

Trong tác phẩm Nội chiến ở Pháp, C.Mác đã phát triển luận điểm quan trọng về phá hủy bộ máy nhà nước tư sản - giai cấp công nhân chỉ đập tan

bộ máy quan liêu, không đập tan toàn bộ bộ máy nhà nước tư sản, đồng thờicũng thừa nhận, Công xã Pari là một hình thái nhà nước của giai cấp côngnhân

Ở thời kỳ này, tác phẩm Chổng Đuyrỉnh chiếm vị trí nổi bật trong việc

phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác, Ph.Ẩngghen Trongtác phẩm này, tất cả ba bộ phận của chủ nghĩa Mác được nêu lên trong mốiquan hệ chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau và thống nhất với nhau một cách hữu

cơ Lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học đã được trình bày một cách khái

quát Hai ông phân tích chủ nghĩa xã hội không tưởng, khẳng định những

điểm tích cực và tiến bộ chứa đựng trong học thuyết của ba nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng vĩ đại của thế kỷ XIX (Henri de Saint Simon, Charles

Fourier và Robert Owen), đồng thời nhấn mạnh rằng, trong quá trình xâydựng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của mình, hai ông đã kế thừa nhữngmặt tích cực trên cơ sở phê phán những điểm hạn chế trong học thuyết của

ba nhà tư tưởng này

Trong Chống Đuyrỉnh có một phần sau này tách ra thành tác phẩm

Chủ nghĩa xã hội phát triển từ không tưởng thành khoa học, trong đổ, phân

tích rất chi tiết những điều kiện kỉnh tế, chỉnh trị, xã hội và những tiền đề tư

tưởng, lý luận trực tiếp cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học Đồng

thời, các ông cũng nêu ra nhiệm vụ nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoahọc Theo PhĂngghen: Nghiên cứu những điều kiện lịch sử mới của quá

Trang 22

trình lật đổ giai cấp tư sản, thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa

xã hội, làm cho giai cấp công nhân hiểu rõ sứ mệnh lịch sử mà họ phải hoànthành, hiểu rõ những điều kiện và bản chất của sự nghiệp của chính họ - đó

là nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học, biểu hiện vê lý luận của phongtrào công nhân

Một nội dung quan trọng khác của tác phẩm có liên quan đến các

nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học là những dự bảo về tương ỉai của

chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Đó là khi tình trạng vô chính phủ

trong nền sản xuất xã hội được thay thế bằng sản xuất có tổ chức, có kếhoạch thì những điều kiện sống xung quanh con người chi phối và kiểmsoát, lúc đó con người trở thành những ngựời làm chủ thực sự Cũng từ lúc

đó, con người bắt đầu sự sáng tạo ra lịch sử của mình một cách hoàn toàn có

ý thức Đó là bước nhảy vọt của con người từ vương quốc tất yêu sangvương quốc của tự do

Mặc dù, với những cống hiến tuyệt vời cả về lý luận và thực tiễn, songC.Mác và Ph.Ăngghen không bao giờ tự cho học thuyết củạ mình là một hệthống lý luận “nhất thành bất biển”, trái lại, nhiều lần, hai ông đã chỉ rõ: đóchỉ là những “gợi ý” cho mọi suy nghĩ và hành động, do đỏ, việc nghiêncứu, bổ sung phát triển nó là nhiệm vụ của các nhà xã hội chủ nghĩa sau nàytrên cơ sở tổng kết hiện thực khách quan ở mỗi quốc gia trong mỗi thời đạilịch sử

2.2 V.LLênỉn vận dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện mói

V.LLênin (1870-1924) là người đã kế tục một cách xuất sắc sự nghiệpcách mạng và khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen; tiếp tục bảo vệ, vậndụng và phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học trong thời đại

đế quốc chủ nghĩa và trong hoàn cảnh mà chủ nghĩa Mác đã giành ưu thếtrong phong trào công nhân quốc tế

Neu công lao của C.Mác và Ph.Ăngghen là làm cho chủ nghĩa xã hội

từ không tưởng thành khoa học thì công lao của V.I.Lênin là đã làm cho chủ

Trang 23

nghĩa xã hội từ lý luận thành hiện thực, được đánh dấu bằng sự ra đời củanhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thê giới - Nhà nước Xôviết (1917).

Những đóng góp to lớn của V.I.Lênin trong sự vận dụng sáng tạo vàphát triển chủ nghĩa xã hội khoa học được chia thành hai giai đoạn cơ bản:giai đoạn trước Cách mạng Tháng Mười Nga và giai đoạn từ Cách mạngTháng Mười Nga đến năm 1924

2.2.1 Giai đoạn trước Cách mạng Tháng Mười Nga

Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản của chủnghĩa xã hội khoa học, phân tích và tổng kết một cách nghiêm túc các sựkiện lịch sử diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội ở giai đoạn để quốc chủ

nghĩa, V.I.Lênin đã viết hàng loạt tác phẩm: Nội dung kinh tế cửa chủ nghĩa

dân túy và sự phê phán trong cuổn sách của ông Xtơruvê (1894); Làm gì?

(1902); Một bước tiến, hai bước lùi (1904); Nhà nước và cách mạng

(1917)

Trong các tác phẩm này, V.I.Lênin đã phát hiện và trình bày một cách

có hệ thống những khái niệm, phạm trù khoa học phản ánh những quy luật,những thuộc tính bản chất chi phối sự vận động biến đổi của đời sống xã hộitrong quá trình chuyển biến tất yếu từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

và chủ nghĩa cộng sản

Trước hết, V.I.Lênin đã kiên quyết đấu tranh chỗng các trào lưu phỉ

mácxỉt (chủ nghĩa dân túy tự do, phái kinh tế, phái mácxít hợp pháp) nhằm

bảo vệ chủ nghĩa Mác, mở đường cho chủ nghĩa Mác thâm nhập mạnh mẽ

vào nước Nga Đồng thời, V.LLênin đã xây dựng lỷ luận về đảng cách

mạng kiểu mới của giai cap công nhân, về các nguyên tắc tổ chức, cương lĩnh, sách lược trong nội dung hoạt động của đảng Ông đã kế thừa, phát triển tư tưởng cách mạng không ngừng của C.Mác và Ph.Ăngghen,

V.I.Lênin đã hoàn chỉnh lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyênchính vô sản, cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới và các điều kiện tất yếucho sự chuyển biến sang cách mạng xã hội chủ nghĩa; những vấn đề mangtính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội vàbảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; vấn đề dân tộc và cương lĩnh dân tộc,đoàn kết và liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các

Trang 24

tầng lóp lao động khác; những vấn đề về quan hệ quốc tế và chủ nghĩa quốc

té vô sản, quan hệ cách mạng xã hội chủ nghĩa với phong trào giải phóng

dân tộc

Phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về khả năng thẳng lợi

của cách mạng xã hội chủ nghĩa, V.I.Lênin cho rằng, cách mạng xã hội chủ

nghĩa có thể nổ ra và giành thắng lọi ở một số nước, thậm chí ở một nướcriêng biệt

V.I.Lênin đã dành nhiều tâm huyết luận giải về chuyên chinh vô sán,

xác định bản chat dân chủ của chế độ chuyên chinh vô sản', phân tích mối

quan hệ giữa chức năng thống trị và chức năng xã hội của chuyên chính vồsản Chính V.LLênin là người đầu tiên nói đến phạm trù hệ thống chuyênchính vô sản, bao gồm hệ thống của Đảng Bônsêvích lãnh đạo, Nhà nướcXôviết quản lý và tổ chức công đoàn

Gắn hoạt động lý luận với thực tiễn cách mạng, V.I.Lênin trực tiếplãnh đạo Đảng của giai cấp công nhân Nga nhằm tập hợp lực lượng đấutranh chống chế độ chuyên chế Nga hoàng, tién tới giành chính quyên về taygiai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga

2.2.2 Giai đoạn sau Cách mạng Tháng Mười Nga đến khi V.I.Lênin mất năm 1924

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, V.LLênin

đã viết nhiều tác phẩm quan trọng bàn về những nguyên lý của chủ nghĩa xã

hội khoa học trong thời kỳ mới, như: Những nhiệm vụ trước mắt của chính

quyền Xôviết (1918); về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu tư sản (1918); Bàn về nhà nước (1919); Bàn về chuyên chính vô sản (1919); Kỉnh tế và chỉnh trị trong thời đại chuyên chính vổ sản (1919); Bàn về thuế lương thực (1921)

Trong các tác phẩm này, V.I.Lênin tập trung bổ sung, phát triển một số nộidung của chủ nghĩa xã hội khoa học như sau:

Một là, chuyên chinh vô sản là một hình thức nhà nước kiểu mới - nhà

nước dân chủ, dân chủ cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động;

Trang 25

chuyên chính chống giai cấp tư sản Cơ sở và ngụyên tắc cao nhất củachuyên chính vô sản là sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và các tầng lóp nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản - đảng của giai cấp công nhân, để thủ tiêu mọi chế độ người bóclột người, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hai là, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản.

Phê phán các quan điểm của kẻ thù xuyên tạc về bản chất của chuyên chính

vô sản chung quy chỉ là bạo lực, V.I.Lênin đã chỉ rõ: chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột và cũng không phải chủ yếu làbạo lực , mà là việc giai cấp công nhân đưa ra được và thực hiện được kiểu

tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản, đấy là nguồn sứcmạnh, là điều kiện đảm bảo cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủnghĩa cộng sản V.I.Lênin đã nêu rố: Chuyên chính vô sản là một cuộc đấutranh kiên trì, đổ máu và không đổ máu, bạo lực và hòa bình, bằng quân sự

và bằng kinh tê, bằng giáo dục và bằng hành chính, chống những thế lực vànhững tập tục của xã hội cũ

Ba là, về chế độ dân chủ V.I.Lênin khẳng định: Chỉ có dân chủ tư sản

hoặc dân chủ xã hội chủ nghĩa, không có dân chủ thuần tủy hay dân chủ nóichung; đồng thời, chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa haỉ chế độ dân chủ này

Bốn là, về cải cách hành chinh bộ máy nhà nước sau khi đã bước vào

thời kỳ xây dựng xã hội mới V.I.Lênin cho rằng: Trước hết, phải có một độingũ những người cộng sản cách mạng đã được tôi luyện và tiếp sau là phải

có bộ máy nhà nước tinh gọn, không hành chính, quan liêu

Năm là, V.LLênin đã nhiều lần dự thảo Cương lĩnh xây đựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga; nêu ra nhiều luận điểm khoa học quan trọng: cần

có những bước quá độ nhỏ trong thời kỳ quá độ nói chung lên chủ nghĩa xãhội; giữ vững chính quyền Xôviết thực hiện điện khí hóa toàn quốc; xã hộihóa những tư liệu sản xuất cơ bản theo hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựngnền công nghiệp hiện đại; điện khí hóa nền kinh tế quốc dân; cải tạo kinh tếtiểu nông theo những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa, thực hiện cách mạng vănhóa Bên cạnh đó là việc sử dụng rộng rãi hình thức chủ nghĩa tư bản nhà

Trang 26

nước để dần dần cải tiến chế độ sở hữu của các nhà tư bản hạng trung vàhạng nhỏ thành chế độ công hữu Cải tạo nông nghiệp băng con đường hợptác xã theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền công nghiệp hiện đại

và điện khí hóa là cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội; học tập chủnghĩa tư bản về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý kinh tế, trình độ giáo dục; sửdụng các chuyên gia tư sản; cần phải phát triển thương nghiệp xã hội chủnghĩa Đặc biệt, V.LLênin nhấn mạnh tính tất yếu phải phát triển kinh tếhàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Sáu là, V.I.Lênin rất coi trọng việc giải quyết vẩn đề dân tộc thông qua

việc xây dựng Cương lĩnh dân tộc với ba nội dung (nguyên tắc) cơ bản: Cácdân tộc có quyền bình đẳng; các dân tộc có quyền tự quyết và liên hiệp giaicấp công nhân các dân tộc

Cùng với những cống hiến hết sức to lớn cả về lý luận và chỉ đạo thựctiễn cách mạng, V.LLênin còn nêu một tấm gương sáng ngời về lòng trungthành vô hạn với lợi ích của giai cấp công nhân, với lý tưởng cộng sản doC.Mác, Ph.Ăngghen khởi xướng và xây dựng Song với tinh thần khoa học

và cách mạng, được soi sáng bởi tư duy biện chứng, đến tận cuối đời,V.I.Lênin vẫn luôn đòi hỏi phải đặc biệt coi trọng tổng kết thực tiễn để tiếptục bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủnghĩa xã hội cho phù họp với từng thời kỳ cách mạng mới

2.3 Lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học từ năm 1924 đến nay

2.3.1 Giai đoạn từ năm 1924 đến năm 1991

Sau khi V.I.Lênin mất, I.V.Stalin kế tục là người lãnh đạo cao nhất củaĐảng Cộng sản (b) Nga và sau đó là Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng thời làngười có ảnh hưởng lớn nhất đối với Quốc tế III cho đến năm 1943 Từ năm

1924 đến năm 1953, có thể gọi là “Thời đoạn Stalin” vận dụng và phát triểnchủ nghĩa xã hội khoa học Đây cũng là thời đoạn mà Đảng Cộng sản Liên

Xô đã đưa ra khái niệm ghép “Chủ nghĩa Mác-Lênirì\ Chính nhờ tiếp tục

vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa họcvào quá trinh xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, nước này đãđạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt và nhanh chóng, trở thành

Trang 27

một cường quốc xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên toàn cầu, buộc thế giới phảithừa nhận và nể trọng Chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa Mác-Lênin trởthành nền tảng tư tưởng soi rọi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnhiều quốc gia trên thế giới.

Tuy vậy, chính những thành tựu bước đầu đó đã tạo ra “bệnh kiêu ngạocộng sản”, dẫn đến việc vận dụng sai lầm chủ nghĩa Mác-Lênin và chủnghĩa xã hội khoa học ở nhiều nước, khiến cho Liên Xô và hệ thống xã hộichủ nghĩa thế giới dần lâm vào suy thoái, khủng hoảng trầm trọng, đặc biệt

về kinh tế, xã hội Mặt khác, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, liên tục cóchiến lược, chiến thuật ngày càng thâm hiểm, toàn diện, nhất là “Diễn biểnhòa bình” làm cho chủ nghĩa cơ hội xét lại ngày càng biểu hiện công khai,nặng nề ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Ắu, đã làm cho hệthống xã hội chủ nghĩa thế giới đổ vỡ vào năm 1991

Đây là tổn thất vô cùng to lớn đối với chủ nghĩa xã hội hiện thực thếgiới và là bước thoái ưào, thất bại tạm thời nhưng nặng nề nhất của phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế trong lịch sử hình thành và phát triểncủa nó Do vậy, đây cũng là thoái trào và khó khăn nhất của quá trình vậndụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học trên toàn cầu

2.3.2 Giai đoạn từ năm 1991 đến nay

Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực đổ vỡ, trên thế giới chỉcòn một số nước xẫ hội chủ nghĩa hoặc nước có xu hướng tiếp tục theo chủnghĩa xã hội Đó là Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, Cộng hòa Dân chủ Nhândân Lào Những đảng Mác-Lênin đang lãnh đạo các nước này luôn đấutranh chống lại chủ nghĩa cơ hội xét lại dưới mọi hình thức; đồng thời, nhậnthức ngày càng rõ ràng những nguyên nhân cơ bản làm cho chủ nghĩa xã hội

ở các nước Đông Âu và Liên Xô đổ vỡ, cho nên vẫn kiên trì hệ tư tưởngMác- Lênỉn, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triểnchủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện của mỗi nước để từngbước giữ vững ổn định nhằm cải cách, đổi mới thành công

Đe tiếp tục vận dụng, bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học,các đảng cộng sản và công nhân quốc tế đã tổng kết nêu ra và tiếp tục phát

Trang 28

triển bổ sung nhiều nội dung quan trọng cả về lý luận lẫn các van đề vềphương hưóng, giải pháp tác động, chủ trương, chính sách xây dựng chế độ

xã hội mới ở mỗi nước Điều này có thể minh chứng qua các hội nghị quốc

tế của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các diễn đàn và hội nghịkhoa học, lý luận chính trị, các cuộc trao đổi song phương và đa phương,nhất là các kỳ đại hội của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế ở cácnước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, các nước đang tiến hànhlựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa hiện nay

Sự thắng lợi, phát triển rực rỡ và sau đó là sụp đổ của chế độ xã hộichủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô có thể được coi là minh chứngcho sự thành công và thật bại của sự vận dụng, áp dụng các nguyên lý, quyluật của chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn Chừng nào và ở đâu, ĐảngCộng sản nhận thức đúng, sáng tạo hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà trong đócách mạng đang vận động, để đề ra các chủ trương, chiến lược và sách lượcđúng đắn vì mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chừng đó và ở

đó, cách mạng phát triển và thu được những thắng lợi Trong trường hợpngược lại, cách mạng sẽ lâm vào thoái trào và bị thất bại vấn đề đặt ra đốivới chủ nghĩa xã hội khoa học là từ trong những thành công và thất bại củachủ nghĩa xã hội hiện thực trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX, cần nghiêmtúc phân tích, khái quát và rút ra các vấn đề lý luận, những bài học kinhnghiệm, từ đó có những phương thức, biện phầp, chủ trương, chiến lược vàsách lược hợp lý trong hoàn cảnh mới, tiếp tục bổ sung và phát triển sángtạo chủ nghĩa xã hội khoa học, tiếp tục thực hiện thắng lợi trên thực tế ché

độ xã hội mới: xẫ hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

c CHỦ ĐỀ THẢO LUẬN

1 Hãy phân tích làm rõ luận điểm của Ph.Ăngghen: “Chủ nghĩa xã hội

đã trở thành một khoa học mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứuthêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”IV? Ý nghĩa đối với sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước hiện nay

IV C.Mảc và Ph.Ẩngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.19, tr.3O5.

Trang 29

2 Làm rõ “cơ sở hiện thực” để chủ nghĩa xã hội phát triển từ khôngtưởng thành khoa học? Ý nghĩa của vấn đề này trong giai đoạn hiện nay.

D CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Phân tích hoàn cảnh lịch sử và vai trò của C.Mác và Ph.Ăngghentrong việc hình thành chủ nghĩa xã hội khoa học?

2 Phân tích làm rõ sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa xã hội khoahọc của V.I.Lênin và của các đảng cộng sản và công nhân

quốc tế (từ sau khi V.LLênin qua đời)?

3 Phê phán những quan điểm sai trái phủ nhận vai trò lý luận của chủnghĩa Mác-Lênin, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học trong thời đại hiện nay

Ý nghĩa của việc học tập, nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa xã hội khoahọc hiện nay?

E TÀI LIỆU HỌC TẬP

* Tài liệu bắt buộc

1 Học viện Chỉnh trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Chủ nghĩa xã

hội khoa học (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Nxb.Lý luận

chính trị, H.2021

2 GS, TS ĐỖ Tư, PGS, TS Trịnh Quốc Tuấn, PGS, TS Nguyên Đức

Bách (Đồng chủ biên); Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng

sản chủ nghĩa, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1994, t.l, 2.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần

thứ XIII, Nxb.Chính tậ quốc gia Sự thật, H.2021, t.L

* Tài liệu đọc thêm

1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật,

H.2002, t.4, tr.596-613; tr.614-619

2 GS, TS Nguyễn Ngọc Long (Chủ biên): Chủ nghĩa Mác- Lênin với

vận mệnh và tương lai của chủ nghĩa xã hội hiện thực, Nxb.Chính trị quốc

gia Sự thật, H.2008

Trang 30

3 Phạm Công Nhất: Lược khảo lịch sử các tư tưởng xã hội chủ nghĩa,

Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005

4 PGS, TS Nguyễn Thanh Tuấn: C.Mảc, V.I.Lênỉn với chủ nghĩa xã

hội trong thời đại ngày nay, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2009.

Bài 2

SỨ MỆNH LỊCH sử CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

VÃ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI NGÀY NAY

A MỤC TIÊU

về kiến thức: Học viên nắm vững những lý luận cơ bản về sứ mệnh

lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân; nắm vững những biểu hiện và ýnghĩa của sứ mệnh đó trong bối cảnh hiện nay

về kỹ năng: Học viên vận dụng tri thức để luận giải những vấn đề thực

tiễn đặt ra về lý luận giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân hiện nay

về tư tưởng: Học viên có niềm tin và trách nhiệm trong việc thực hiện

sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong bối cảnh mới

B NỘI DUNG

Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là “nội dung chủyếu, điểm căn bản” của chủ nghĩa Mác - vũ khí lý luận của giai cấp côngnhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản; là “cương lĩnh chính trịchung của các Đảng Cộng sản” và là cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng,đoàn kết giai cấp công nhân toàn thế giới Đây là phạm trù trung tâm của

chủ nghĩa xã hội khoa học và cũng là trọng điểm trong cuộc đấu tranh về tư

tưởng, lý luận của đấu tranh giai cấp hiện đại Nhận thức rõ cơ sở lý luận vàthực tiễn của sứ mệnh này trong thời đại ngày nay có ý nghĩa quan trọng choquá trinh phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

1 CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ SỨ

MỆNH LỊCH sử CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Trang 31

l ỉ về giai cấp công nhân

1.1.1 Quan niệm về giai cấp công nhân

C Mác, Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ “như những từ đồngnghĩa”1 để chỉ giai cấp công nhân, như: “người vô sản”, “giai cấp vô sản”,

“giai cấp công nhân”, “giai cấp vô sản”, “giai cấp công nhân đại côngnghiệp”, “giai cấp công nhân hiện đại”, Mỗi khái niệm mà các ông dùngnhằm nhấn mạnh một đặc trưng của giai cấp công nhân

Từ thực tế của Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (từ giữa thế kỷXVIII) và theo quan niệm duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy,giai cấp công nhân “là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”V VI, làchủ thể trực tiếp và quyết định nhất của quá trình sản xuất vật chất, về mặtlịch sử, những người vô sản đầu tiên xuất hiện trong công nghiệp và trựctiếp do công nghiệp sản sinh ra “Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng côngnghiệp sản sinh ra; cuộc cách mạng này xảy ra ở Anh vào nửa sau của thế

kỷ trước, và sau đó tái diễn ở tất cả các nước văn minh trên thế giới Sở dĩ

có cuộc cách mạng đó, là do có sự phát minh ra máy hơi nước, các thứ máykéo sợi, máy dệt và hàng loạt những thiết bị máy móc khác”VII

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đương đại, mà tiêu biểu là việcứng dụng máy móc trong sản xuất và dịch vụ đã làm xuất hiện giai cap côngnhân

Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa, đã làm biến đôi sâusắc tồn tại xã hội nhờ việc ứng dụng máy móc vào sản xuất và dịch vụ, cùngvới đó là những biến đổi sâu sắc về tổ chức, quản lý sản xuất, và nói chung,

là tất cả các phương diện của đời sống xã hội “Công nghiệp nhỏ đã tạo nêngiai cấp tư sản, công nghiệp lớn đã tạo nên giai cấp công nhân ”1

Giai cấp công nhân phân biệt với các giai cấp - tầng lớp lao động khác

bởi phương thức lao động công nghiệp của họ Phương thức này có những

đặc điểm sau: sản xuất bằng máy móc, lao động có tính chất xã hộỉ hóa,

V C.Mác và Ph.Ẩngghen: Toàn tập, Nxb.Chính tri quốc gia Sự thật, H.2002, t.2, tr.328.

VI C.Mác và Ph.Àngghen: Toàn tập, Nxb Chính tri quốc gia Sự thật, H 1995,1.19, tr.38.

VII C.Mác và Ph.Ănggịhen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.4, tr.457.

Trang 32

năng suất lao động cao và tạo ra những tiền đề cho xã hội mới Từ lịch sửphát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân còn là sản phẩm xã hộicủa quá trinh phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có điều kiện tồn tại dựatrên cơ sở chế độ làm thuê.

Trong cách nhìn duy vật biện chứng về lịch sử, sự thống trị của giaicấp tư sản, đặc biệt là của bộ phận tư sản đại công nghiệp, đưực chủ nghĩaMác xem như một điều kiện ban đầu cho sự phát triển giai cấp công nhân.C.Mác viết: “Nói chung, sự phát triển của giai cấp vô sản công nghiệp đượcquy định bởi sự phát triển của giai cấp tư sản công nghiệp Chỉ có dưới sựthống trị của giai cấp này thì sự tồn tại của giai cấp vô sản công nghiệp mới

có được một quy mô toàn quốc, khiến nó có thể nâng cuộc cách mạng của

nó lên thành một cuộc cách mạng toàn quốc; chỉ có như thế thì bản thân giaicấp vô sản công nghiệp mới có thể tạo ra những tư liệu sản xuất hiện đại,tức là những thứ đều trở thành những phương tiện để thực hiện sự nghiệpgiải phóng cách mạng của nó Chỉ có sự thông trị của giai cấp tư sản côngnghiệp là có thể nhổ hết được gốc rễ vật chất của xã hội phong kiến và sanbằng miếng đất duy nhất trên đó một cuộc cách mạng vô sản có thể thựchiện được”VIII IX

Tóm lại, quan niệm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về giai cấp công nhân có thể khái quát như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội

hình thành và phát triển cùng với quá trĩnh phát triển của nền công nghiệp hiện đại; là chủ thể sản xuất vật chất hiện đại, đại biểu cho phương thức sản xuất mang trình độ xắ hội hóa ngày càng cao; là giai cấp có lợi ích cơ bản đoi lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản; đồng thời, có sứ mệnh lịch sử phủ định chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa

xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

1.1.2 Đặc điểm của giai cap công nhân

Thứ nhất, về mặt kỉnh tế - kỹ thuật Giai cấp công nhân là lực lượng

sản xuất vật chất hàng đầu của xã hội hiện đại Xã hội nào cũng tồn tại và

phát triển trên cơ sở sản xuất và tiêu thụ của cải vật chất Sản xuất hiện đại

VIII C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính tri quốc gia Sự thật, H.2002, t.2, tr.354.

IX C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H 1993, t.7, tr.29.

Trang 33

về cơ bản bằng phương thức công nghiệp và giai cấp công nhân là chủ thể

tiêu biểu của quá trình sản xuất quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội

hiện đại Đây là nhân tố khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân

Đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân, xét từ góc độ kinh tế- kỹ

thuật, là lao động bằng phương thức công nghiệp mang tính chất xa hội hóa

ngày càng cao V.I.Lênin viết: " đại công nghiệp cơ khí khác với các hình

thức công nghiệp trước đây, có thể tóm tắt như sau: xã hội hóa lao động sản xuất ở trong nước ngày càng được xã hội hóa, và do đấy, làm cho ngườitham gia sản xuất cũng ngày càng được xã hội hóa”X Chính từ quá trình xãhội hóa này, nhiều tiền đề, nhân tố của chủ nghĩa xã hội dần được hìnhthành

Giai cấp công nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến Do

gắn liền với phương thức lao động công nghiệp ngày càng hiện đại, mangtrình độ xã hội hóa và có năng suất lao động cao, giai cấp công nhân cóđược những phẩm chất của một giai cấp tiên tiến Đại công nghiệp đã rènluyện và tạo ra cho giai cấp công nhân những đặc điểm về tính tổ chức, kỷluật lao động, tinh thần họp tác, tâm lý lao động công nghiệp Những đặcđiểm ấy lại chính là những phẩm chất cần thiết cho một giai cấp có tính cáchmạng và có nằng lực lãnh đạo cách mạng

Thứ hai, về mặt chinh trị - xã hội Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, giai

cấp công nhân là giai cấp làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phảibán sức lao động để sống và lệ thuộc vào thị trường lao động tư bản Họchịu tác động nhiều mặt của thị trường lao động tư bản và trở thành một thứhàng hóa đặc biệt, chịu mọi sự may rủi của cạnh tranh và mọi sự lên xuốngcủa thị trường với mức độ như nhau

Giai cấp công nhân bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư Sở hữu

tư bản tạo ra độc quyền phân chia giá trị thặng dư Giá trị thặng dư, về bảnchất là lao động không được trả công của người công nhân Lao động sốngcủa công nhân là nguồn gốc cơ bản của giá trị thặng dư và sự giàu có của

X V.LLênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.3, tr.693-694.

Trang 34

giai cấp tư sản cũng chủ yếu nhờ vào việc bóc lột được ngày càng nhiều giátrị thặng dư Đây là mâu thuẫn cơ bản về lợi ích giữa giai cấp công nhân vàgiai cấp tư sản Mâu thuẫn này là không thể điều hòa và nó chỉ có thể đượcgiải quyết bầng việc xóa bỏ, thay thế chế độ bóc lột giá trị thặng dư trên cơ

sở xác lập một quan hệ sản xuất mới dựa trên chê độ sở hữu xã hội về những

tư liệu sản xuất chủ yếu

Giai cấp công nhân và giai cấp tư sản vừa đối lập nhau về lợi ích cơbản, vừa phụ thuộc nhau về lợi ích hàng ngày trong thị trường sức lao động.Sức lao động của giai cấp công nhân trở thành hàng hóa là điều kiện cần choquá trình sản xuất giá trị thặng dư của giai cấp tư sản Vi mục tiêu tăng thêmlợi nhuận, giai cấp tư sản có nhu cầu ngày càng tăng về sức lao động củagiai cấp công nhân Ngược lại, bán được sức lao động cũng là tiền đề choviệc bảo đảm đời sống của công nhân Hai bên đều phụ thuộc vào quy luậtcung - cầu của thị trường hàng hóa sức lao động Tác động qua lại về lợi íchgiữa hai giai cấp này đã tạo nên tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh giaicấp hiện đại

Chế độ chính trị, nhà nước pháp quyền tư sản cũng đã tác động hai mặtđến công nhân Nó hình thành cho công nhân - với tư cách là công dân, thóiquen tuân thủ pháp luật hiện hành, theo đó, các phản ứng ban đầu của giaicấp này vớỉ ché độ tư sản, thường là với trình độ của chủ nghĩa công liên.Công nhân, với tư cách là giai cấp bị trị, cũng đã học được nhiều biện phápđấu tranh hợp pháp từ nền dân chủ to-sản, qvn tích lũy được nhiều kinhnghiệm đấu tranh chính trị Tính chất chuyên chế của chế độ chính trị tưsản cũng thúc đẩy giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đấu tranhchính trị chống áp bức, 'bất công Nó rèn luyện các phẩm chất, năng íực của

một giai cấp cách mạng như tính tổ chức, tỉnh thần triệt để cách mạng, khả

năng liên minh với giai cấp, tầng lớp khác vừa mang bản chất quốc tế s vừa mang đặc điểm dân tộc.

Nhìn chung, thực tỉễn chính trị - xã hội của chế độ tư sản tạo ra cácđiều k iện để hình thành một cách khách quan những phẩm chất cách mạngcho giai cấp công nhân

Trang 35

1JL về sứ mệnh lịch sử của gỉai cấp công nhân

1.2.1 Nội dmg sứ mệnh lịch sử của giai cap công nhân

Sứ mậnh lịchwm^giai cấp công nhân là xóa bỏ chế độ tư bản chủnghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân,nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèonàn lạc hậu, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là những nhiệm vụcần phải thực hiện trong quá trình xây dựng hình thái kinh tế - xã hội cộngsản chủ nghĩa Xét theo lĩnh vực thể hiện, sứ mệnh này có 3 nội dung cơbản

Nội dung kỉnh tế: Giai cấp công nhân dù ở chế độ chính trị nào, cũng là

chủ thể của quá trình sản xuất vật chất bằng phương thức sản xuất xã hộihóa cao để sản xuất ngày càng nhiều của cải, đáp ứng những nhu cầu ngàycàng tăng của con người Qua đó, họ tạo ra tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự

ra đời của xã hội mới Ở các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhânthông qua quá trình công nghiệp hóa và thực hiện “một kiểu tổ chức xã hộimới về lao động” để tăng năng suất lao động và thực hiện các nguyên tắc sởhữu, quản lý và phân phối phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất và tiến

bộ, công bằng xã hội

Nội dung kinh tế này là yếu tố sâu xa nhất khẳng định sự cần thiết của

sứ mệnh lịch sừ của giai cấp công nhân đối với quá trình phát triển của vănminh nhân loại Thực hiện đầy đủ và thành công nội dung kinh tế này cũng

là điều kiện vật chất để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản

Nội dung chinh trị - xã hội: Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao

động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trịlật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xác lập, bảo vệ và phát triển chế độ dân chủ

xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyên của giai cấp công nhân và nhân dânlao động được xác lập và trở thành công cụ có hiệu lực để lãnh đạo chính trị,quản lý kinh té và xã hội trong quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xãhội mới Đây là những vấn đề cơ bản của tiến trình thực hiện sứ mệnh lịch

sử của giai cấp công nhân

Trang 36

Ngoài ra, nội dung này còn bao gồm việc giai cấp công nhân giải quyếtđúng đắn các vấn đề chính trị-xã hội đặt ra trong tiến trình cách mạng xã hộichủ nghĩa, như: liên minh các giai cấp - tầng lỏp, đoàn kết các dân tộc, xâydựng xã hội mới, con người mới , thông qua đó, khẳng định vai trò lãnhđạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và tính tự giác cùa nhân dân trong quátrình xây dụng chủ nghĩa xã hội Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, nếukhông giải quyết tốt những vấn đề này thì quá trình thực hiện sứ mệnh lịch

sử của giai cấp công nhân có thể gặp khó khăn, thậm chí, đổ vỡ và phải làmlại từ đầu

Nội dung to lớn, phong phú của cách mạng chính trị xác nhận rằng,đây là một quá trình lâu dài và phức tạp Chủ nghĩa xã hội hiện thực chỉ cóthể ra đời thông qua thắng lợi của cuộc cách mạng chính trị của giai cấpcông nhân

Nội dung văn hóa, tư tưởng' Nhiệm vụ lịch sử trao cho giai cấp công

nhân trong tiến trình cách mạng của mình là xác lập hệ giá trị mới (lao động,công bằng, dân chủ, bình đẳng và tự do ) để thay thế cho hệ giá trị tư sản

và những hệ tư tưởng cũ lạc hậu Thực chất, đó là một cuộc cách mạng vềvăn hóa, tư tưởng, bao gồm cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới trong sự kếthừa những tinh hoa của thời đại và giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc

Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và con người được phát triển

tự do và toàn diện trong xã hội dân chủ, công bằng, văn minh ỉà những mụctiêu hàng đầu của cuộc cách mạng này

1.2.2 Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử cửa giai cap công nhân

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra tính tất yếu của sứ mệnh lịch sử củagiai cấp công nhân được biểu hiện trên các phương diện sau:

Thứ nhất, do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân quy định.

Giai cấp công nhân “là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”XI

và là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại Vì vậy, giai cấp công

XI C.Mác vàPh.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.4, tr.610.

Trang 37

nhân đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến và lực lượng sản xuất hiệnđại mang trình độ xã hội hóa cao mà biểu hiện cụ thể của nó là đại côngnghiệp - công nghiệp hóa và toàn cầu hóa kinh té Sản xuất hiện đại với xuthế xã hội hổa mạnh mẽ hiện nay đang tạo ra “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cầnthiết” (C.Mác) cho sự nghiệp xậy dựng xã hội mới Bởi vì, không chỉ chủnghĩa tư bản mà cả quá trinh xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sảnđều cần đến những tiền đề vật chất từ lực lượng sản xuất ở trình độ xã hộihóa cao Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội cho thấy, tiền đề này có thểxuất hiện từ trước hoặc dần được hoàn thiện, phát triển trong quá trình xâydựng xã hội mới.

Trong chủ nghĩa tư bản, xét từ địa vị chính trị, giai cấp công nhân làđối tượng bị bóc lột trực tiếp và nặng nề nhất nên họ có tinh thần cách mạngtriệt để và là giai cấp cách mạng nhất

Thứ hai, do đặc điểm chính trị - xã hội của giai cấp công nhân quy định.

Quá trình sản xuất công nghiệp hiện đại đặt ra yêu cầu khách quanphải không ngừng bổ sung những tri thức mới cho giai cấp công nhân để họ

có thể làm chủ công nghệ hiện đại; đồng thời, trong quá trình lao động sảnxuất, nhất là trong các cuộc đấu tranh cách mạng, giai cấp công nhân đã tíchlũy được nhiều tri thức cần thiết, quý báu để tổ chức một cuộc đấu tranhcách mạng chống lại sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, vưon lên giảiphóng giai cấp mình và toàn xã hội khỏi mọi sự áp bức, bóc lột

Quá trình dân chủ hóa trong đời sống chính trị tư bản chủ nghĩa là hệ

quả của xu thế xã hội hóa sản xuất, là kết quả của cuộc đấu tranh vì dân chủ,tiến bộ xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Quá trình nàycũng tạo ra những điều kiện thuận lợi để giai cấp công nhân tập dượt vàtừng bước thực hiện sứ mệnh của mình Mặt khác, trong những lần giaotranh với giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhâncũng tích lũy được nhiều kinh nghiệm đấu tranh chính trị, từ đó, giai cấpcông nhân ngày càng hoàn thiện hơn về chính trị, tư tưởng và tổ chức

Do gắn liền với phương thức lao động công nghiệp mang trình độ xã

Trang 38

hội hóa cao, giai cấp công nhân có được những phẩm chất của một giai cấptiên tiến Đại công nghiệp và phương thức sản xuất xã hội hóa đã rèn luyện

và tạo ra cho giai cấp công nhân có tính tổ chức, kỷ luật lao động cao; tinhthần họp tác, kỹ năng lao động công nghiệp hiện đại; khả năng đoàn kết giaicấp mình và liên minh với các giai cấp, tầng lóp khác trong cuộc đấu tranh

vì mục tiêu chung là được giải phóng khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, xây, dựngmột xã hội mới mà ở đó, con người được phát triển toàn diện, hài hòa Những đặc điểm ấy lại chính là những phẩm chất cần thiết cho một giai cấplàm cách mạng và lãnh đạo cách mạng

Trong cuộc đấu tranh để giải phóng mình và giải phóng xã hội khỏimọi sự áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, giai cấpcông nhân có hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin - hệ tư tưởng khoa học

và cách mạng soi đường, dẫn lối

Sự thống nhất cơ bản về lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích củanhân dân lao động cũng tạo ra điều kiện để hiện thực hóa đặc điểm này.Trong cuộc đấu tranh ấy, vị trí của giai cấp công nhân là giai cấp thống trị

về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội thông qua đội tiên phong củamình là Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh lật đổ ách áp bức tư bản, trong

sự nghiệp xây dựng xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêuhoàn toàn các giai cấp

Thứ ba, do mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản quy định.

Quá trình sản xuất với trình độ xã hội hóa ngày càng cao đã làm chomâu thuẫn cơ bản trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nêngay gắt - đó là mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sảnxuất với quan hệ sân xuất tư bân chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu tư nhân

về tư liệu sản xuất chủ yếu Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư

bản chủ nghĩa thể hiện ra về mặt xẫ hội là mâu thuẫn về lợi ích cơ bản giữa

giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Lao động sống của công nhân lànguồn gốc cơ bản của giá trị thặng dư và sự giàu có của giai cấp tư sản Mâuthuẫn cơ bản này không thể điều hòa và chỉ có thể được giải quyết bằngcách xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và thay thế bằng việc

Trang 39

xác lập chế độ sở hữu xẵ hội về tư liệu sản xuất chủ yếu nhằm thiết lập mộtquan hệ sản xuất mới, tiến bộ phù hợp với trình độ xã hội hóa cao của lựclượng sản xuất đã đạt được Giải quyết mâu thuẫn đó là động lực chính củacuộc đấu tranh giai cấp hiện đại và giai cấp công nhân chính là lực lượng xãhội có sứ mệnh lịch sử ấy.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân còn bắt nguồn và được quyđịnh bởi cuộc đấu tranh giai cấp hiện đại đã phát triển đến trình độ, mà “giaicấp công nhân không còn có thể tự giải phóng, nếu không đồng thời và vĩnhviễn giải phóng toàn thể xã hội khỏi ách bóc lột, ách áp bức và khỏi nhữngcuộc đau tranh giai cấp” Lần đầu tiên ưong lịch sử, có “một cuộc cáchmạng của đại đa sổ mưu lợi ích cho tuyệt đại đa số” Lực lượng sản xuấtphát triển cao và chế độ sở hữu xã hội về những tư liệu sản xuất chủ yếu sẽtạo ra cơ sở kinh tế để chấm dứt vũih viễn chế độ người bóc lột người

1.2.3 Những nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân thục hiện sứ mệnh lịch sử

Thứ nhất, sự phát triển của bản thân giai cap công nhân.

Với tư cách là chủ thể thực hiện sứ mệnh lịch sử, sự phát triển của giaicấp công nhân là yếu tố chủ quan quy định chất lượng và quy mô, tốc độcủa quá trình này Như mọi thực thể khác trong quá trình vận động, sự pháttriển này cũng là kết quả của quá trình phát triển tự thân, tự giác, chủ động

Sứ mệnh lịch sử chỉ được thực hiện “chừng nào mà giai cấp vô sản chưađược phát hiển đầy đủ để tự cấu thành giai cấp và do đó, chừng nào ngay cảcuộc đấu tranh của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản còn chưa mang mộttính chất chính trị, và chừng nào những lực lượng sản xuất còn chưa pháttriển đây đủ trong lòng bản thân giai cấp tư sản để hé ra cho người ta thấyđược những điều kiện vật chất cần thiết cho sự giải phóng của giai cấp vôsản và sự thành lập một xã hội mới ”XII

Sự phát triển giai cấp công nhân được thể hiện trên các phương diện:phát triển về lượng và phát triển về chất

Phát triển về lượng của giai cấp công nhân bao gồm sự phát triển về số XII C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.4, tr.205.

Trang 40

lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu của sản xuất công nghiệp hiện đại và

cơ cấu kinh tế Thông qua sự phát triển về lượng của giai cấp công nhân cóthể thấy được trinh độ, quy mô của công nghiệp hóa và sự chuẩn bị về lượngcủa giai cấp công nhân để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình

Phát triển về chất của giai cấp công nhân được thể hiện trên hai mặt:

năng lực làm chủ công nghệ hiện đại và ý thức giác ngộ giai cấp, ý thức dântộc

Với tư cách là bộ phận quan họng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại,năng lực làm chủ công nghệ hiện đại của công nhân xác nhận vị thế đại diệncho phương thức sản xuất tiên tiến, vì họ là giai cấp thường trục của xã hộihiện đại gắn liền với những tiến bộ của sản xuất công nghiệp ngày càng hiệnđại Trình độ văn hóa và tay nghề tương xứng với công nghệ hiện đại làthước đo trình độ I phát triển của công nhân

Với tư cách là chủ thể của sứ mệnh lịch sử, giai cấp công nhân cầnphải đạt tới trình độ giác ngộ cao về chính trị Phẩm chất này được thể hiệntrước hết ở trinh độ giác ngộ về giai cấp Giai cấp công nhân phải hiểu biết

ở tầm lý luận về “mình là gì và càn phải làm gì với lịch sử” được tập trung

trong nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Trong xã hội hiện đại, giai cấp công nhân cũng là đại biểu cho lợi íchchân chính của dân tộc Phấn đấu “trở thành giai cấp dân tộc” vưom lên lãnhđạo và cùng với dân tộc để giải quyết những nhiệm vụ lịch sử trong quátrinh phát triển của quốc gia dân tộc Đó là phẩm chất chính trị cần được tudưỡng với giai cấp công nhân và chính đảng của nó

Thứ hai, Đảng Cộng sản là nhãn tổ quan trọng nhất để giai cấp công nhân thực hiện thẳng lợi sứ mệnh lịch sử.

Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định, việc giai cấp công nhân tổ chứcđuực một chính đảng của mình là dấu hiệu đã trở thành giai cấp tự giác,trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thực hiện sứ mệnh lịch sử:

“Pể mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất ttong

các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong

trào tiến lên về mặt lý luận, họ hom bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở

Ngày đăng: 17/08/2023, 19:18

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w